Quan điểm của triết học Mác – Lênin về tri thức,vai trò của tri thức và sự vận dụng quan điểm đó trong nghiên cứu, học tập của sinh viên | Bài tập lớn môn triết học mác - lênin

Quan điểm của triết học Mác – Lênin về tri thức,vai trò của tri thức và sự vận dụng quan điểm đó trong nghiên cứu, học tập của sinh viên | Tiểu luận môn triết học mác - lênin được siêu tầm và soạn thảo dưới dạng file PDF để gửi tới các bạn sinh viên cùng tham khảo, ôn tập đầy đủ kiến thức, chuận bị cho các buổi học thật tốt. Mời bạn đón xem!

Trường:

Đại học Kinh Tế Quốc Dân 3 K tài liệu

Thông tin:
14 trang 7 tháng trước

Bình luận

Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để gửi bình luận.

Quan điểm của triết học Mác – Lênin về tri thức,vai trò của tri thức và sự vận dụng quan điểm đó trong nghiên cứu, học tập của sinh viên | Bài tập lớn môn triết học mác - lênin

Quan điểm của triết học Mác – Lênin về tri thức,vai trò của tri thức và sự vận dụng quan điểm đó trong nghiên cứu, học tập của sinh viên | Tiểu luận môn triết học mác - lênin được siêu tầm và soạn thảo dưới dạng file PDF để gửi tới các bạn sinh viên cùng tham khảo, ôn tập đầy đủ kiến thức, chuận bị cho các buổi học thật tốt. Mời bạn đón xem!

51 26 lượt tải Tải xuống
lOMoARcPSD| 23022540
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
-------***-------
BÀI TẬP LỚN
MÔN: TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN
Đề tài: Quan điểm của triết học Mác – Lênin về tri thức,
vai trò của tri thức và sự vận dụng quan điểm đó trong
nghiên cứu, học tập của sinh viên
Họ và tên: Nguyễn Thị Phương Thảo
Mã số sinh viên: 45
Lớp TC: Triết học Mác - Lênin(221)_14
GV hướng dẫn: TS. Lê Thị Hồng
Hà Nội, tháng 5 năm 2022
MỤC LỤC
lOMoARcPSD| 23022540
LỜI MỞ ĐẦU .................................................................................................. 1
NỘI DUNG ...................................................................................................... 1
I. Quan điểm của Mác-Lênin về tri thức và vai trò của tri thức ............ 1
1. Lý luận của Mác – Lênin về tri thức .......................................................... 1
1.1. Khái niệm của tri thức................................................................................... 1
1.2. Vai trò chung của tri thức ............................................................................. 2
2. Vai trò của tri thức đối với đời sống xã hội ................................................. 3
2.1. Vai trò của tri thức đối với nền kinh tế.......................................................... 3
2.2. Vai trò của tri thức đối với chính trị ............................................................. 4
2.3. Vai trò của tri thức đối với văn hóa – giáo dục ............................................ 4
3. Vai trò của tri thức trong hoạt động thực tiễn của con người ..................... 5
3.1. Tri thức giúp con người xác định đúng đắn mục tiêu ................................... 5
3.2. Tri thức giúp cuộc sống con người tốt đẹp hơn ............................................ 6
II. Sự vận dụng quan điểm của triết học Mác – Lênin về tri thức vào
học tập và nghiên cứu đối với sinh viên ........................................................ 6
1. Thực trạng vận dụng quan điểm của triết học Mác – Lênin trong
quá ................................................................................................................. 6
trình học tập, nghiên cứu của sinh viên ..................................................... 6
1.1. Những điểm mạnh và hạn chế của sinh viên hiện nay .................................. 6
1.2. Vai trò của tri thức đối với sinh viên ............................................................. 8
2. Một số giải pháp nhằm vận dụng quan điểm của triết học Mác ..... 9
Lênin về tri thức vào học tập và nghiên cứu đối với sinh viên ................ 9
KẾT LUẬN .................................................................................................... 11
TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................
lOMoARcPSD| 23022540
1
LỜI MỞ ĐẦU
Một triết gia, chính khách người Anh Francis Bacon từng nói: “Tri thức là sức
mạnh”. Về sau, Lênin – một nhà triết học, chính trị gia vĩ đại đã phát triển: “Tri thức
là sức mạnh. Ai có tri thức thì người đó có được sức mạnh”. Vấn đề tri thức cũng
lâu đời như chính con người. Ở thời đại nào, nơi đâu, con người cũng không th
sống được nếu không có tri thức. Và những bước tiến vĩ đại về tri thức chỉ có thể
thực hiện được trong sự thử thách khắc nghiệt của thực tiễn và sự tự nhận thức của
con người.
Không ai có thể phủ nhận sức mạnh thay đổi thế giới của tri thức. Nhờ có tri
thức mà con người có thể tách mình ra khỏi thế giới loài vật hoang dã trở thành loài
người văn minh thông qua hệ thống chữ viết, văn hóa trong xã hội loài người. Nhờ
có tri thức mà cuộc sống của con người không ngừng phát triển theo từng thời kỳ.
Từ thuở xưa, tri thức đã được chạm khắc trên những vách đá, xương thú và mai rùa.
Khi có chữ viết, con người đã biết lưu trữ tri thức trên vải, trên giấy. Ngày nay, con
người đã hệ thống hóa tri thức và lưu trữ nó dưới dạng bản điện tử. Lưu trữ điện tử
cho phép con người lưu trữ nhanh chóng, chính xác và vô hạn. Bởi vì nó có sức
mạnh nên con người dù ở thời đại nào cũng cố gắng tìm ra những cách lưu giữ đầy
đủ nhất, bền lâu nhất, chính xác nhất. Con người bảo vệ tri thức như một “thanh
gươm thần”, coi đó là báu vật thiêng liêng không thể đánh mất.
Hiểu được tầm quan trọng của tri thức trong cuộc sống xã hội, trong bài tiểu
luận này em chọn đề tài “Quan điểm của Triết học Mác – Lênin về tri thức, vai
trò của tri thức và vận dụng quan điểm đó trong nghiên cứu và học tập của
sinh viên” để có cái nhìn sâu rộng hơn về cả mặt lý luận và thực tế. Do trình độ còn
hạn chế vì vậy bài viết này sẽ không tránh khỏi những sai sót, em rất mong được
nhận những góp ý và chỉ dạy của cô. Em cảm ơn cô vì theo dõi bài làm của em!
NỘI DUNG
I. Quan điểm của Mác-Lênin về tri thức và vai trò của tri thức
1. Lý luận của Mác – Lênin về tri thức
1.1. Khái niệm của tri thức
Tri thức xuất hiện từ rất sớm trong hàng triệu năm lịch sử của loài người. Khi
con người bắt đầu có nhận thức và suy nghĩ về thế giới xung quanh, trải qua quá
lOMoARcPSD| 23022540
2
trình hoạt động thực tiễn lâu dài, họ đã tích lũy được những tri thức vô giá. Những
tri thức này đã góp phần tạo nên sự tiến bộ của xã hội như ngày nay.
Theo quan điểm của triết học, tri thức là cơ sở trực tiếp cho sự hình thành thế
giới quan, song nó chỉ chỉ gia nhập thế giới quan khi đã được kiểm nghiệm ít nhiều
trong thực tiễn và trở thành niềm tin định hướng cho hoạt động của con người. Tri
thức còn là kết quả của quá trình nhận thức của con người về thế giới hiện thực, làm
tái hiện trong ý thức những thuộc tính, những quy luật vận động phát triển của thế
giới. Tri thức thường được diễn đạt dưới hình thức ngôn ngữ hoặc các hệ thống
ngôn ngữ khác.
Có thể nói tri thức bao gồm những kiến thức, thông tin, sự hiểu biết, hay kỹ
năng có được nhờ trải nghiệm hay thông qua giáo dục hay tự học hỏi từ nhiều
nguồn khác nhau. Trong tiếng việt thì cả “tri” và “thức” đều có nghĩa là biết. Tri
thức có thể chỉ sự hiểu biết về một đối tượng, về mặt lý thuyết hay thực hành, hay
đơn giản là hiểu biết về một vấn đề thông qua quá trình trau dồi, rèn luyện. Sự thành
tựu tri thức có quan hệ với quá trình nhận thức: tri giác, truyền đạt, liên hệ, suy luận.
Trong triết học, việc nghiên cứu tri thức được gọi là tri thức luận.
Nền kinh tế thế giới đang bước vào một kỷ nguyên mới, một trình độ mới, một
tầm cao mới. Đó là trình độ mà “nhân tố quan trọng nhất là việc chiếm hữu, phân
phối các nguồn lực trí tuệ và sáng tạo, phân phối và sử dụng tri thức trong các
ngành kỹ thuật cao”. Tiêu chí chủ yếu của nó là lấy tri thức, trí tuệ làm yếu tố then
chốt để phát triển kinh tế và tồn tại trực tiếp giống như các yếu tố sức lao động và
tài nguyên. Đó là thời đại mà “Tri thức đã trở thành động lực chủ yếu của sự phát
triển xã hội”, “Tri thức là tài nguyên là tư bản”, “Tri thức là tâm điểm của cạnh
tranh và là nguồn lực dẫn dắt cho sự tăng trưởng dài hạn dẫn tới những thay đổi lớn
trong cách tổ chức sản xuất, cấu trúc thị trường, lựa chọn nghề nghiệp” ...
1.2. Vai trò chung của tri thức
Tri thức có thể hiểu là sản phẩm đặc thù của xã hội, sự ra đời của tri thức
thường gắn liền với sự hình thành của xã hội loài người. Do đó, không thể tách tri
thức ra khỏi xã hội để định nghĩa xem tri thức là gì, tách tri thức ra khỏi xã hội
giống như việc tách những con cá ra khỏi dòng nước để tìm sự thích nghi hay hoạt
động của cá. Vai trò của tri thức trong xã hội là rất cần thiết và quan trọng. Ngày
nay, cùng với sự phát triển nhanh chóng của cách mạng khoa học và công nghệ hiện
đại, đội ngũ tri thức trở thành nguồn lực đặc biệt quan trọng, tạo nên sức mạnh của
quốc gia trong chiến lược phát triển.
lOMoARcPSD| 23022540
3
2. Vai trò của tri thức đối với đời sống xã hội
Tri thức đã, đang và sẽ ngày càng trở nên quan trọng đối với đời sống xã hội.
Nó tác động trực tiếp đến mọi lĩnh vực của xã hội: kinh tế, chính trị, văn hóa giáo
dục,… Con đường tri thức chính là con đường ngắn nhất và duy nhất đưa các quốc
gia bắt kịp xu hướng toàn cầu hóa, tiến đến một xã hội văn minh, hiện đại.
2.1. Vai trò của tri thức đối với nền kinh tế
Sản xuất và kinh doanh tri thức chính là nội dung chủ yếu trong nền kinh tế tri
thức. Việc sản xuất, phân phối và sử dụng tri thức đóng vai trò quyết định đối với sự
phát triển kinh tế, xã hội, tạo ra của cải, nâng cao chất lượng cuộc sống tốt hơn.
Doanh nghiệp nào cũng không chỉ phụ thuộc vào việc sử dụng tiền bạc, nguyên vật
liệu, nguồn nhân lực và máy móc thiết bị... mà còn phụ thuộc vào việc xử lý và sử
dụng những thông tin nội bộ và thông tin từ môi trường kinh doanh. Tìm hiểu kiến
thức chuyên môn mà hãng có được là cách tốt nhất để tăng năng suất, sử dụng vì
mục đích thương mại và những kiến thức này cần được liên tục phát triển.
Các công ty công nghệ cao không chỉ có giá trị ở trong những tài sản vật chất
hữu hình, mà còn nằm trong những tài sản vô hình, chẳng hạn như tri thức. Để trở
thành một công ty dựa trên tri thức, các công ty phải có khả năng nhận ra những
thay đổi của tỷ trọng vốn tri thức trong tổng giá trị kinh doanh. Nguồn lợi thế cạnh
tranh là vốn trí tuệ của công ty, tri thức, bí quyết và phương pháp đội ngũ nhân viên
và công nhân cũng như khả năng của công ty để liên tục cải tiến phương pháp sản
xuất. Hiện có các bằng chứng cho thấy phần giá trị vô hình đã vượt xa phần giá trị
hữu hình của các tài sản vật thể của các công ty đó, chẳng hạn như các tòa nhà hay
thiết bị. Nguồn vốn con người là một yếu tố giá trị cơ bản trong một công ty dựa
trên tri thức.
Các sản phẩm thông minh trong nền kinh tế tri thức ngày càng xuất hiện
nhiều. Đó là những sản phẩm có khả năng gạn lọc và diễn giải thông tin để người
dùng có thể hành động hiệu quả hơn. Còn sức lao động, đất đai và vốn là những yếu
tố của sản xuất công nghiệp trong nền văn minh nông nghiệp, chúng đóng góp quan
trọng trong sự phát triển kinh tế- xã hội. Với một nền kinh tế đang phát triển thì tri
thức trở thành một thứ vô cùng quan trọng và cần thiết trong đời sống, có thể đem
đến những thành công lớn.
Tri thức trong kinh tế tri thức đóng vai trò quyết định sự thành công hay thất
bại của công ty. Tri thức ở đây gồm có công nhân tri thức, các nhà quản lý có trình
lOMoARcPSD| 23022540
4
độ cao, các công nghệ mới. Tri thức cũng có vai trò to lớn trong việc rút ngắn
khoảng cách phát triển giữa các nước đang phát triển và phát triển. Đối với các
nước kém và đang phát triển, trong đó có Việt Nam, thì sự xuất hiện kinh tế tri thức
vừa là cơ hội vừa là thách thức để có thể nhanh chóng tiếp cận, thông qua tri thức
hóa các ngành nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, đặc biệt là sớm hình thành các
công nghệ cao để nhanh chóng đưa nền kinh tế đất nước theo kịp các nước phát
triển.
2.2. Vai trò của tri thức đối với chính trị
Nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn trong giai đoạn 1996-2000 đã đóng
góp tích cực trong phát triển lý luận và tổng kết thực tiễn xây dựng xã hội chủ nghĩa
Việt Nam trong thế kỷ 20. Khoa học xã hội còn đóng góp quan trọng vào việc xây
dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, ban hành các văn bản luật, các chính sách và
hiệp định quốc tế, trong đó có sự hiệp định thương mại Việt – Mỹ. Khoa học xã hội
còn hướng vào giải quyết nhiều vấn đề cụ thể bức xúc trong thực tiễn phát triển
kinh tế xã hội như: vấn đề toàn cầu hóa, quốc tế hóa, công nghiệp hóa – hiện đại
hóa…
Một đất nước rất cần những con người có tri thức để điều hành công việc
chính trị. Nó quyết định đến vận mệnh của một quốc gia. Tri thức góp phần xây
dựng đường lối lãnh đạo của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về Cách
mạng công nghiệp lần thứ tư ở Việt Nam. Chỉ khi có một hệ thống lý luận đúng đắn,
khoa học và cách mạng soi sáng thì sự nghiệp đổi mới, xây dựng đất nước trong bối
cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư mới đạt được thành công. Đây không phải
là công việc dễ dàng, sự phát triển không thể chỉ dựa vào tri thức và kinh nghiệm
các nhà lãnh đạo, các nhà làm chính sách. Do đó, cần có sự góp sức của đội ngũ trí
thức, những hiểu biết của họ về cách mạng công nghiệp lần thứ tư sẽ giúp ích trong
quá trình xây dựng đường lối, chính sách. Chúng ta cần có những giải pháp trong
việc đào tạo cán bộ và hệ thống tổ chức.
2.3. Vai trò của tri thức đối với văn hóa – giáo dục
Tri thức cũng có vai trò rất lớn đến văn hóa- giáo dục của một quốc gia. Nó
giúp chúng ta lĩnh hội những kiến thức, dẫn tới ý thức của con người được nâng lên.
Khi nhu cầu xã hội ngày càng nâng cao, nhu cầu trong giáo dục và trách nhiệm của
học sinh sinh viên là cực kì quan trọng. Con người có tri thức, nhận thức và kiến
thức tốt, làm chủ tri thức bản thân, biết bản thân mình làm gì, biết được nhu cầu xã
lOMoARcPSD| 23022540
5
hội đang đòi hỏi gì ở các bạn trẻ. Vai trò của tri thức trong việc phục vụ những yêu
cầu của xã hội, góp phần trong việc thể hiện khả năng bản thân mình để xã hội phát
triển lớn mạnh hơn.
Khi trở thành con người có tri thức thì sống theo chuẩn mực đạo đức tốt, giữ
gìn cũng như phát huy được những giá trị văn hóa tốt đẹp ông cha ta để lại. Tri thức
hình thành được là nhờ sự tiếp thu kiến thức cũng như học hỏi được những kĩ năng.
Một xã hội sẽ lạc hậu, không phát triển nếu như xã hội đấy không có những con
người tri thức.
Vai trò cuối cùng mà tri thức mang lại cho xã hội là sự hội nhập quốc tế, giao
lưu học hỏi kiến thức hay những truyền thống tốt đẹp của các quốc gia khác là rất
cần thiết, hay là tham gia các cuộc thi quốc tế mà vấn đề cần quan tâm ở đây là
ngôn ngữ tiếng anh phải thực sự tốt. Đất nước sẽ được sánh ngang với các cường
quốc năm châu, sự sáng tạo cũng như phát minh hay, mới lạ thì công dân có tri thức
là không thể thiếu, là công cụ giải quyết mọi vấn đề khó khăn không chỉ cho bản
thân, gia đình mà còn cho cả xã hội.
Việt Nam đang trên con đường hội nhập với thế giới. Thế nhưng, chúng ta nên
hòa nhập để phát triển chứ không nên hòa tan, làm lẫn đi những giá trị cốt lõi của
văn hóa dân tộc. Một nền giáo dục đang ngày phát triển ở Việt Nam để tiến xa hơn
cùng với các nước trên thế giới. Chúng ta đang chạy đua với tri thức của nhân loại
để phát triển đất nước Việt Nam trong thời kỳ kinh tế tri thức hiện nay.
3. Vai trò của tri thức trong hoạt động thực tiễn của con người
Trong sự phát triển không ngừng của xã hội ngày nay, tri thức là không thể
thiếu với mỗi con người. Tri thức có tầm ảnh hưởng không hề nhỏ đối với cá nhân
cũng như cộng đồng. Tiếp thu thêm nhiều tri thức không chỉ mở mang tầm hiểu biết
mà còn giúp mọi người hiểu thêm về khả năng của bản thân, xác định được mục
tiêu cũng như phương hướng hành động của mình trong thời điểm hiện tại và tương
lai.
3.1. Tri thức giúp con người xác định đúng đắn mục tiêu
Tri thức có vai trò rất quan trọng đối với thực tiễn, tác động và góp phần biến
đổi thực tiễn thông qua hoạt động năng động có ý thức của con người. Lý luận là
kim chỉ nam cho mọi hoạt động và góp phần soi đường chỉ lối cho thực tiễn đi đúng
hướng. V.I.Lenin đã chỉ ra vai trò quan trọng của lý luận “Không có lý luận cách
mạng thì không thể có phong trào cách mạng” (V.I.Lenin, 1974 – 1981, tập 26,
lOMoARcPSD| 23022540
6
tr.30). Tri thức lí luận, có thể dự kiến được sự phát triển và vận động của sự vật
trong tương lai, dự báo được những phương hướng mới cho sự phát triển của thực
tiễn. Lý luận khoa học làm cho hoạt động của con người chủ động hơn, tự giác hơn,
hạn chế được sự mò mẫm, tư phát, mất phương hướng.
3.2. Tri thức giúp cuộc sống con người tốt đẹp hơn
Một người có tri thức có thể vận dụng nó làm cho cuộc sống của bản thân trở
nên dễ dàng hơn, không cần lao động vất vả dưới điều kiện khắc nghiệt. Thay vào
đó, con người có thể sử dụng tri thức để tạo những dịch vụ, sản phẩm chất lượng
cao cho xã hội. Bên cạnh đó, người có tri thức sẽ luôn được xã hội coi trọng, tin
tưởng. Trong thời đại văn minh, tri thức là chìa khóa để giúp con người có thể tồn
tại và phát triển trong xã hội.
II. Sự vận dụng quan điểm của triết học Mác – Lênin về tri
thức vào học tập và nghiên cứu đối với sinh viên
1. Thực trng vận dụng quan điểm của triết học Mác – Lênin trong quá
trình học tập, nghiên cứu của sinh viên
1.1. Những điểm mạnh và hạn chế của sinh viên hiện nay
1.1.1. Điểm mạnh
Những thành tựu mà sinh viên đã đạt được.
Trước hết, chúng ta có thể khẳng định sinh viên sinh viên hiện nay rất năng
động, nhạy bén với cuộc sống và công việc, bên cạnh đó họ tiếp thu được nhiều
phẩm chất tốt đẹp: chăm chỉ, kiên trì và nỗ lực. Chúng ta rút ra được những kết luận
ấy khi chứng kiến lớp sinh viên đã đạt đạt được những thành tựu cùng với sự đổi
mới của đất nước. Nếu như trước đây chúng ta chỉ thấy những sinh viên học hành
cần cù luôn cắm đầu vào đọc sách, dù mài kinh sử để sau khi tốt nghiệp lấy được
bằng cử nhân được Nhà nước phân công đi công tác mà một số người đã quên hết
cả xung quanh. Nếu chúng ta cũng chỉ thấy một lớp sinh viên ở nông thôn chưa đầy
hai mươi đã lập gia đình suốt ngày phơi lưng ra đồng, quần quật vất vả thì giờ đây
chúng ta thấy một giới sôi động đầy màu sắc của sinh viên, sinh viên, họ chỉ chăm
chú học tập mà còn biết vận dụng những kiến thức được học vào cuộc sống. Tham
gia các hoạt động xã hội, xông xáo và nhạy bén “họ có nhiều điều kiện để phát triển
khả năng sáng tạo, do có đầy đủ thông tin, cuộc sống chắt lược tốt hơn, và chủ động
hơn trong việc lựa chọn nghề nghiệp tốt cả những cái đó làm họ năng động hơn.
lOMoARcPSD| 23022540
7
Sinh viên Việt Nam du học ngày càng nhiều ở rất nhiều nước trên thế giới đã
mang về cho đất nước những tiến sĩ trẻ nắm vững kiến thức chuyên ngành đảm
nhiệm phát triển những ngành mũi nhọn nhằm đẩy mạnh sự phát triển kinh tế, khoa
học, kỹ thuật.
Sinh viên Việt Nam năng động và chịu khó
Đối với sinh viên hiện nay, rất nhiều người vừa đi học vừa đi làm là rất phổ
biến, điều đó chứng tỏ sinh viên Việt Nam rất cần cù, chịu khó và đặc biệt là họ có
thể tự lập sinh viên làm việc ở khắp mọi nơi làm đủ mọi nghề lương thiện giúp h
tự chu cấp tiền học hành và cuộc sống bản thân, nổi bật nhất là sinh viên từ nông
thôn ra thành thị những công việc họ làm có thể là gia sư, tiếp thị… đã chứng tỏ
sinh viên ngày nay đã nhận thức “lao động là vinh quang”. Ngoài ra trước đây sinh
viên, sinh viên ra trường được Nhà nước xếp việc làm thì ngày nay, sinh viên ra
trường phải tự tìm việc, điều này có nhiều thuận lợi vì họ có cơ hội lựa chọn được
công việc phù hợp, rất nhiều sinh viên ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường đã được
nhiều Công ty đến mời đi làm việc. Hiện nay cứ mỗi dịp mùa hè đến có những
phong trào “ánh sáng văn hóa hè” và “sinh viên tình nguyện” tham gia lao động bảo
vệ môi trường, đến các vùng xa xôi, hẻo lánh đem lại ánh sáng văn minh cho những
trẻ em nghèo đói và cho cả lớp sinh viên nông thôn. Điều đó thể hiện sự kế tiếp đùm
bọc của sinh viên ngày nay.
1.1.2. Hạn chế
Thứ nhất, hầu như sinh viên không đọc trước giáo trình trước khi lên lớp, mặc
dù khi giảng viên bắt đầu dạy một học phần mới, ngoài việc giới thiệu đề cương,
hình thức thi, mà còn giới thiệu rất nhiều loại tài liệu: tài liệu chính, tài liệu tham
khảo và đôi khi còn giới thiệu cho học viên cả kinh nghiệm và phương pháp học tập
của học phần đó cho sinh viên.
Thứ hai, việc học bài cũ thì đại đa số sinh viên có học nhưng không tuân theo
một quy luật nào, thời gian ôn lại các bài trước cũng rất ít, ngẫu hứng, chưa thực sự
tập trung và không có phương pháp học cụ thể. Môn chuyên ngành (nhiều tiết, thi
tốt nghiệp) thì học nhiều hơn, còn các môn đại cương, cơ sở ngành thì học cho qua
không thi lại là được. Việc giải bài tập thì sách bài tập có ở thư viện, hoặc mượn của
thầy cô giáo photo có thể có đáp số, hoặc đáp án của các anh chị khóa trước thì
photo mỗi người một bản không cần phải giải nữa. Khi giảng viên kiểm tra bài tập,
lOMoARcPSD| 23022540
8
nhiều sinh viên còn xung phong lên bảng giải (nhưng thực chất là chép lại), và cũng
không biết mình chép đúng hay sai.
Thứ ba, sẽ càng tệ hơn khi đến những kỳ thi bởi ngay khi học đã không có sự
chuẩn bị kỹ càng. Đến tận ngày thi, ngày kiểm tra nhiều sinh viên học vội, học vàng
rồi rủ nhau đến các quán photo tìm phao cứu sinh. Số lượng sinh viên đến thư viện
hoặc học tổ, học nhóm thì đếm trên đầu ngón tay. Hầu hết những người đến thư viện
thường là những sinh viên học tập chăm chỉ, chịu khó.
1.2. Vai trò của tri thức đối với sinh viên
Khi con người có tri thức, có hiểu biết, am hiểu sâu rộng tới mọi vấn đề hay
lĩnh vực xã hội, thì con người ta dễ dàng thực hiện được những mục tiêu, ham
muốn, ước nguyện của bản thân, chỉ có tri thức được lấy bằng chính mồ hôi công
sức thì mới mang lại được hiệu quả. Và hiển nhiên, một xã hội với những con người
thành đạt giúp xã hội phát triển không ngừng về tri thức. Đơn giản rằng khi xã hội
được hợp thành bởi cá nhân, nhưng sự kết hợp mang lại hiệu quả thì cần quá trình
rèn luyện không ngừng đối với thế hệ trẻ, việc học tập như nào, trau dồi bản thân ra
sao để tri thức mình mang lại cho xã hội có sự đóng góp hiệu quả nhất.
Khi nhu cầu xã hội ngày càng nâng cao, việc đáp ứng nhu cầu đòi hỏi mỗi
công dân cần phải có, đặc biệt nhu cầu trong giáo dục và trách nhiệm của học sinh
sinh viên là quan trọng. Con người có tri thức, kiến thức và nhận thức tốt, làm ch
tri thức bản thân là chủ trong cách sống của mình, biết bản thân mình làm gì, biết
được nhu cầu xã hội đang đòi hỏi gì ở chính các bạn trẻ, mà không ngừng học hỏi.
Vai trò của tri thức trong việc phục vụ những yêu cầu của xã hội, cũng góp phần
trong việc thể hiện khả năng bản thân mình ở xã hội không ngừng phát triển lớn
mạnh.
Khi trở thành con người có tri thức thì sống theo chuẩn mực đạo đức tốt, giữ
gìn cũng như phát huy được những giá trị văn hóa tốt đẹp ông cha ta để lại. Một câu
hỏi đề ra, nếu bản thân mỗi công dân không có am hiểu về tri thức, tri thức sách vở,
tri thức trong cách sống, tri thức trong sự nhìn nhận thì xã hội sẽ duy trì như thế
nào. Tri thức hình thành được là nhờ sự tiếp thu kiến thức cũng như học hỏi được
những kỹ năng, một xã hội sẽ lạc hậu, không có sự phát triển là xã hội còn xuất hiện
những con người không có tri thức, một thành phần thừa trong xã hội.
Vai trò cuối cùng mà tri thức mang lại cho xã hội là sự hội nhập quốc tế, giao
lưu học hỏi kiến thức hay những truyền thống tốt đẹp của các quốc gia khác là rất
lOMoARcPSD| 23022540
9
cần thiết, hay là tham gia các cuộc thi quốc tế mà các vấn đề cần quan tâm ở đây là
ngôn ngữ tiếng anh phải thực sự tốt và chuyên môn cao. Xã hội sẽ được sánh ngang
với các cường quốc năm châu, sự sáng tạo cũng như những phát minh hay, mới lạ
thì công dân có tri thức là không thể thiếu, tri thức lúc này như là công cụ giúp giải
quyết mọi vấn đề khó khăn không chỉ cho bản thân, gia đình mà còn cho cả xã hội
vì lợi ích của đất nước.
Nhận thức rất rõ việc học tập, cũng như biết được những giá trị tri thức, tri
thức là gì, tại sao phải có tri thức thì mỗi học sinh sinh viên cần phải phát huy bản
thân học hỏi trong nhiều lĩnh vực, phụ huynh cũng có giải pháp tốt nhất cho các bạn
trẻ trong việc rèn luyện các kỹ năng mềm hay kiến thức chuyên sâu môn học, đó
cũng là chặng đường giúp các bạn trẻ chuẩn bị tốt nhất để có hành trang tốt trên con
đường đi tìm thành công và hỗ trợ học sinh và phụ huynh trong việc học tập của con
em mình rất cần đến một gia sư chất lượng, hiệu quả.
2. Một số giải pháp nhằm vận dụng quan điểm của triết học Mác – Lênin
về tri thức vào học tập và nghiên cứu đối với sinh viên
Trong giai đoạn phát triển của đất nước ta –thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã
hội, thì sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là nhiệm vụ trung tâm,
giải pháp quyết định đưa nước ta khắc phục nguy cơ tụt hậu, là quá trình phấn đấu
lâu dài của nhân dân ta. Điều đó được thể hiện trong việc chỉ đạo của Đảng và N
nước, những tiền đề tạo nên sự lớn mạnh của sự nghiệp đó. Và trong nguồn nhân
lực ấy thì sinh viên lại giữ vai trò quan trọng, là nguồn lực chủ yếu, bởi họ đại diện
cho đông đảo người độ tuổi lao động của nước ta, họ có một nhiệm vụ hay giữ
một trọng trách hết sức nặng nề.
Đầu tiên, sinh viên phải tích cực tham gia học tập nâng cao trình độ luận chính
trị, nuôi dưỡng tưởng cách mạng trong sáng. Bối cảnh quốc gia quốc tế đang
ảnh hưởng lên tất cả các đối tượng sinh viên, tác động một cách toàn diện lên
tưởng, tình cảm, lối sống, nhu cầu của từng sinh viên. vậy, sinh viên phải rèn luyện
để có lập trườngtưởng vững vàng, có lòng yêu nước, có niềm tin vào sự lãnh đạo
của Đảng và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng và lối sống
lành mạnh; tích cực tham gia vào các cuộc đấu tranh bảo vệ Đảng, Nhà nước và bảo
vệ chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đấu tranh
chống lại âm mưu Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch các tiêu cực, tệ
nạn xã hội, tham nhũng
lOMoARcPSD| 23022540
10
Thứ hai, sinh viên cần tích cực học tập và nghiên cứu để nâng cao trình độ văn
hóa, chuyên môn, khoa học, kỹ thuật và tay nghề. Trong thời kỳ phát triển kinh tế xã
hội trong nước và hội nhập quốc tế, sinh viên nước ta cần nâng cao trình độ học vấn,
tay nghề khả năng thực tế, kỹ năng lao động để thích ứng với thị trường lao động
trong nước và thị trường lao động quốc tế. Sinh viên cần tích cực tham gia xây dựng
hội học tập với phương châm: người sinh viên nào cũng phải học đâu, làm gì,
thời gian nào cũng phải học, người sinh viên nào cũng phải xác định tham gia học tập
thường xuyên, suốt đời là quyền và nghĩa vụ của bản thân.
Thứ ba, sinh viên phải tích cực tham gia xây dựng Đảng, Nhà ớc, Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân. Sinh viên phải tích cực tham gia bảo vệ
xây dựng hệ thống chính trị các cấp vững mạnh tham gia y dựng khối đại
đoàn kết toàn dân tộc vững chắc. Các đối tượng sinh viên tự nguyện, tự giác tham gia
vào các hội của sinh viên, phấn đấu trở thành đoàn viên, đảng viên của Đảng hội
viên của các quần chúng nhân dân.
Thứ tư, sinh viên phải tích cực tham gia vào việc xây dựng môi trường hội
lành mạnh môi trường sinh thái trong lành, sạch đẹp. Tích cực tham gia phòng
chống ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường ứng phó với biến đổi khí hậu toàn
cầu.
Thứ năm, sinh viên phải xung phong đi đầu trong sự nghiệp phát triển kinh tế
xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh. Tích cực tham gia các chương trình, dự án của
địa phương; tự nguyện, tự giác tham gia thực hiện nghĩa vụ quân sự, tham gia các
hoạt động bảo vệ Tổ quốc và giữ gìn an ninh trật tự an toàn xã hội.
Cuối cùng, sinh viên cần chủ động tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế,
tham gia giải quyết các vấn đề toàn cầu, tham gia vào công tác ngoại giao nhân dân
để nâng tầm ảnh hưởng của Việt Nam trên trường quốc tế, chủ động và tham gia có
hiệu quả vào giải quyết các vấn đề toàn cầu như: giữ gìn hòa bình, đẩy lùi nguy
chiến tranh, chống khủng bố, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu
toàn cầu, hạn chế sự bùng nổ dân số, phòng ngừa và đẩy lùi các dịch bệnh hiểm
nghèo…
lOMoARcPSD| 23022540
11
KẾT LUẬN
Trên đời không gì vĩ đại bằng con người, trong con người không gì vĩ đại bằng
tri thức. Chính nhờ việc biết tích lũy tri thức qua hàng trăm triệu năm, không ngừng
sàng lọc và bồi tích nó, con người đã từng bước thống trị và làm thay đổi thế giới
này. Trong bất kỳ xã hội hay thời kỳ nào thì vai trò của trí thức đều vô cùng quan
trọng. Tri thức là một nhân tố vô cùng thiết yếu tạo nên sự giàu mạnh của một quốc
gia, dân tộc, là nền tảng cho sự phát triển. Đặc biệt, trong xã hội ngày nay, tri thức
thực sự ngày càng khẳng định được vai trò lớn của mình trong việc phát triển đất
nước cũng như trong việc định hướng mỗi bản thân con người. Tri thức là động lực
thúc đẩy xã hội trở nên tốt đẹp và văn minh hơn. Không có tri thức, cuộc sống của
con người sẽ trở nên khó khăn hơn bao giờ hết, tất cả chỉ “giậm chân tại chỗ”,
không phát triển đi lên được.Bởi vậy, mỗi con người chúng ta có nhiệm vụ tìm hiểu
những tri thức mới, cập nhật và làm chủ những tiến bộ khoa học của loài người để
góp phần phát triển đất nước hùng mạnh. Hãy trau dồi tri thức để mang đến sức
mạnh, lợi thế cho chính mình, cho quốc gia, dân tộc mình. Hãy là một vì sao lấp
lánh tài năng, bản lĩnh và một trái tim đẹp.
lOMoARcPSD| 23022540
Downloaded by Hoàng Kim Chi (chi.qh2002@gmail.com)
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ giáo dục và Đào tạo, Giáo trình Triết học Mác – Lênin, Hà Nội – 2019
2. V.I.Lenin, 1974 – 1981, tập 26
3. C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, NXB CTQG, Hà Nội, 1995
4. Tri thức, https://vi.wikipedia.org/wiki/Tri_thức , cập nhật 31/01/2022, truy cập
09/05/2022
5. Tri thức là gì? Vai trò của tri thức trong đời sống xã hội,
https://lytuong.net/trithuc-la-gi// , cập nhật 09/12/2021, truy cập 09/05/2022
6. Tiểu luận sự phát triển của nền kinh tế tri thức, https://viettieuluan.com/tieu-
luansu-phat-trien-cua-nen-kinh-te-tri-thuc/ , truy cập 11/05/2022
7. Bài dự thi viết về Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ X,
https://123docz.net//document/2518892-bai-du-thi-viet-ve-dai-hoi-doan-toan-
quoclan-thu-x.htm, truy cập 13/05/2022
8. Vai trò của tri thức đối với hoạt động của con người,
https://123docz.net/document/949401-vai-tro-cua-tri-thuc-voi-hoat-dong-cua-
connguoi.htm, truy cập 13/05/2022
| 1/14

Preview text:

lOMoAR cPSD| 23022540
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN -------***------- BÀI TẬP LỚN
MÔN: TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN
Đề tài: Quan điểm của triết học Mác – Lênin về tri thức,
vai trò của tri thức và sự vận dụng quan điểm đó trong
nghiên cứu, học tập của sinh viên
Họ và tên: Nguyễn Thị Phương Thảo
Mã số sinh viên: 45
Lớp TC: Triết học Mác - Lênin(221)_14
GV hướng dẫn: TS. Lê Thị Hồng
Hà Nội, tháng 5 năm 2022 MỤC LỤC lOMoAR cPSD| 23022540
LỜI MỞ ĐẦU .................................................................................................. 1
NỘI DUNG ...................................................................................................... 1
I. Quan điểm của Mác-Lênin về tri thức và vai trò của tri thức ............ 1

1. Lý luận của Mác – Lênin về tri thức .......................................................... 1
1.1. Khái niệm của tri thức................................................................................... 1
1.2. Vai trò chung của tri thức ............................................................................. 2
2. Vai trò của tri thức đối với đời sống xã hội ................................................. 3
2.1. Vai trò của tri thức đối với nền kinh tế.......................................................... 3
2.2. Vai trò của tri thức đối với chính trị ............................................................. 4
2.3. Vai trò của tri thức đối với văn hóa – giáo dục ............................................ 4
3. Vai trò của tri thức trong hoạt động thực tiễn của con người ..................... 5
3.1. Tri thức giúp con người xác định đúng đắn mục tiêu ................................... 5
3.2. Tri thức giúp cuộc sống con người tốt đẹp hơn ............................................ 6
II. Sự vận dụng quan điểm của triết học Mác – Lênin về tri thức vào
học tập và nghiên cứu đối với sinh viên ........................................................ 6
1. Thực trạng vận dụng quan điểm của triết học Mác – Lênin trong
quá ................................................................................................................. 6
trình học tập, nghiên cứu của sinh viên ..................................................... 6
1.1. Những điểm mạnh và hạn chế của sinh viên hiện nay .................................. 6
1.2. Vai trò của tri thức đối với sinh viên ............................................................. 8
2. Một số giải pháp nhằm vận dụng quan điểm của triết học Mác – ..... 9
Lênin về tri thức vào học tập và nghiên cứu đối với sinh viên ................ 9

KẾT LUẬN .................................................................................................... 11
TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................ lOMoAR cPSD| 23022540 LỜI MỞ ĐẦU
Một triết gia, chính khách người Anh Francis Bacon từng nói: “Tri thức là sức
mạnh”. Về sau, Lênin – một nhà triết học, chính trị gia vĩ đại đã phát triển: “Tri thức
là sức mạnh. Ai có tri thức thì người đó có được sức mạnh”. Vấn đề tri thức cũng
lâu đời như chính con người. Ở thời đại nào, nơi đâu, con người cũng không thể
sống được nếu không có tri thức. Và những bước tiến vĩ đại về tri thức chỉ có thể
thực hiện được trong sự thử thách khắc nghiệt của thực tiễn và sự tự nhận thức của con người.
Không ai có thể phủ nhận sức mạnh thay đổi thế giới của tri thức. Nhờ có tri
thức mà con người có thể tách mình ra khỏi thế giới loài vật hoang dã trở thành loài
người văn minh thông qua hệ thống chữ viết, văn hóa trong xã hội loài người. Nhờ
có tri thức mà cuộc sống của con người không ngừng phát triển theo từng thời kỳ.
Từ thuở xưa, tri thức đã được chạm khắc trên những vách đá, xương thú và mai rùa.
Khi có chữ viết, con người đã biết lưu trữ tri thức trên vải, trên giấy. Ngày nay, con
người đã hệ thống hóa tri thức và lưu trữ nó dưới dạng bản điện tử. Lưu trữ điện tử
cho phép con người lưu trữ nhanh chóng, chính xác và vô hạn. Bởi vì nó có sức
mạnh nên con người dù ở thời đại nào cũng cố gắng tìm ra những cách lưu giữ đầy
đủ nhất, bền lâu nhất, chính xác nhất. Con người bảo vệ tri thức như một “thanh
gươm thần”, coi đó là báu vật thiêng liêng không thể đánh mất.
Hiểu được tầm quan trọng của tri thức trong cuộc sống xã hội, trong bài tiểu
luận này em chọn đề tài “Quan điểm của Triết học Mác – Lênin về tri thức, vai
trò của tri thức và vận dụng quan điểm đó trong nghiên cứu và học tập của
sinh viên
” để có cái nhìn sâu rộng hơn về cả mặt lý luận và thực tế. Do trình độ còn
hạn chế vì vậy bài viết này sẽ không tránh khỏi những sai sót, em rất mong được
nhận những góp ý và chỉ dạy của cô. Em cảm ơn cô vì theo dõi bài làm của em! NỘI DUNG
I. Quan điểm của Mác-Lênin về tri thức và vai trò của tri thức
1. Lý luận của Mác – Lênin về tri thức

1.1. Khái niệm của tri thức
Tri thức xuất hiện từ rất sớm trong hàng triệu năm lịch sử của loài người. Khi
con người bắt đầu có nhận thức và suy nghĩ về thế giới xung quanh, trải qua quá 1 lOMoAR cPSD| 23022540
trình hoạt động thực tiễn lâu dài, họ đã tích lũy được những tri thức vô giá. Những
tri thức này đã góp phần tạo nên sự tiến bộ của xã hội như ngày nay.
Theo quan điểm của triết học, tri thức là cơ sở trực tiếp cho sự hình thành thế
giới quan, song nó chỉ chỉ gia nhập thế giới quan khi đã được kiểm nghiệm ít nhiều
trong thực tiễn và trở thành niềm tin định hướng cho hoạt động của con người. Tri
thức còn là kết quả của quá trình nhận thức của con người về thế giới hiện thực, làm
tái hiện trong ý thức những thuộc tính, những quy luật vận động phát triển của thế
giới. Tri thức thường được diễn đạt dưới hình thức ngôn ngữ hoặc các hệ thống ngôn ngữ khác.
Có thể nói tri thức bao gồm những kiến thức, thông tin, sự hiểu biết, hay kỹ
năng có được nhờ trải nghiệm hay thông qua giáo dục hay tự học hỏi từ nhiều
nguồn khác nhau. Trong tiếng việt thì cả “tri” và “thức” đều có nghĩa là biết. Tri
thức có thể chỉ sự hiểu biết về một đối tượng, về mặt lý thuyết hay thực hành, hay
đơn giản là hiểu biết về một vấn đề thông qua quá trình trau dồi, rèn luyện. Sự thành
tựu tri thức có quan hệ với quá trình nhận thức: tri giác, truyền đạt, liên hệ, suy luận.
Trong triết học, việc nghiên cứu tri thức được gọi là tri thức luận.
Nền kinh tế thế giới đang bước vào một kỷ nguyên mới, một trình độ mới, một
tầm cao mới. Đó là trình độ mà “nhân tố quan trọng nhất là việc chiếm hữu, phân
phối các nguồn lực trí tuệ và sáng tạo, phân phối và sử dụng tri thức trong các
ngành kỹ thuật cao”. Tiêu chí chủ yếu của nó là lấy tri thức, trí tuệ làm yếu tố then
chốt để phát triển kinh tế và tồn tại trực tiếp giống như các yếu tố sức lao động và
tài nguyên. Đó là thời đại mà “Tri thức đã trở thành động lực chủ yếu của sự phát
triển xã hội”, “Tri thức là tài nguyên là tư bản”, “Tri thức là tâm điểm của cạnh
tranh và là nguồn lực dẫn dắt cho sự tăng trưởng dài hạn dẫn tới những thay đổi lớn
trong cách tổ chức sản xuất, cấu trúc thị trường, lựa chọn nghề nghiệp” ...
1.2. Vai trò chung của tri thức
Tri thức có thể hiểu là sản phẩm đặc thù của xã hội, sự ra đời của tri thức
thường gắn liền với sự hình thành của xã hội loài người. Do đó, không thể tách tri
thức ra khỏi xã hội để định nghĩa xem tri thức là gì, tách tri thức ra khỏi xã hội
giống như việc tách những con cá ra khỏi dòng nước để tìm sự thích nghi hay hoạt
động của cá. Vai trò của tri thức trong xã hội là rất cần thiết và quan trọng. Ngày
nay, cùng với sự phát triển nhanh chóng của cách mạng khoa học và công nghệ hiện
đại, đội ngũ tri thức trở thành nguồn lực đặc biệt quan trọng, tạo nên sức mạnh của
quốc gia trong chiến lược phát triển. 2 lOMoAR cPSD| 23022540
2. Vai trò của tri thức đối với đời sống xã hội
Tri thức đã, đang và sẽ ngày càng trở nên quan trọng đối với đời sống xã hội.
Nó tác động trực tiếp đến mọi lĩnh vực của xã hội: kinh tế, chính trị, văn hóa giáo
dục,… Con đường tri thức chính là con đường ngắn nhất và duy nhất đưa các quốc
gia bắt kịp xu hướng toàn cầu hóa, tiến đến một xã hội văn minh, hiện đại.
2.1. Vai trò của tri thức đối với nền kinh tế
Sản xuất và kinh doanh tri thức chính là nội dung chủ yếu trong nền kinh tế tri
thức. Việc sản xuất, phân phối và sử dụng tri thức đóng vai trò quyết định đối với sự
phát triển kinh tế, xã hội, tạo ra của cải, nâng cao chất lượng cuộc sống tốt hơn.
Doanh nghiệp nào cũng không chỉ phụ thuộc vào việc sử dụng tiền bạc, nguyên vật
liệu, nguồn nhân lực và máy móc thiết bị... mà còn phụ thuộc vào việc xử lý và sử
dụng những thông tin nội bộ và thông tin từ môi trường kinh doanh. Tìm hiểu kiến
thức chuyên môn mà hãng có được là cách tốt nhất để tăng năng suất, sử dụng vì
mục đích thương mại và những kiến thức này cần được liên tục phát triển.
Các công ty công nghệ cao không chỉ có giá trị ở trong những tài sản vật chất
hữu hình, mà còn nằm trong những tài sản vô hình, chẳng hạn như tri thức. Để trở
thành một công ty dựa trên tri thức, các công ty phải có khả năng nhận ra những
thay đổi của tỷ trọng vốn tri thức trong tổng giá trị kinh doanh. Nguồn lợi thế cạnh
tranh là vốn trí tuệ của công ty, tri thức, bí quyết và phương pháp đội ngũ nhân viên
và công nhân cũng như khả năng của công ty để liên tục cải tiến phương pháp sản
xuất. Hiện có các bằng chứng cho thấy phần giá trị vô hình đã vượt xa phần giá trị
hữu hình của các tài sản vật thể của các công ty đó, chẳng hạn như các tòa nhà hay
thiết bị. Nguồn vốn con người là một yếu tố giá trị cơ bản trong một công ty dựa trên tri thức.
Các sản phẩm thông minh trong nền kinh tế tri thức ngày càng xuất hiện
nhiều. Đó là những sản phẩm có khả năng gạn lọc và diễn giải thông tin để người
dùng có thể hành động hiệu quả hơn. Còn sức lao động, đất đai và vốn là những yếu
tố của sản xuất công nghiệp trong nền văn minh nông nghiệp, chúng đóng góp quan
trọng trong sự phát triển kinh tế- xã hội. Với một nền kinh tế đang phát triển thì tri
thức trở thành một thứ vô cùng quan trọng và cần thiết trong đời sống, có thể đem
đến những thành công lớn.
Tri thức trong kinh tế tri thức đóng vai trò quyết định sự thành công hay thất
bại của công ty. Tri thức ở đây gồm có công nhân tri thức, các nhà quản lý có trình 3 lOMoAR cPSD| 23022540
độ cao, các công nghệ mới. Tri thức cũng có vai trò to lớn trong việc rút ngắn
khoảng cách phát triển giữa các nước đang phát triển và phát triển. Đối với các
nước kém và đang phát triển, trong đó có Việt Nam, thì sự xuất hiện kinh tế tri thức
vừa là cơ hội vừa là thách thức để có thể nhanh chóng tiếp cận, thông qua tri thức
hóa các ngành nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, đặc biệt là sớm hình thành các
công nghệ cao để nhanh chóng đưa nền kinh tế đất nước theo kịp các nước phát triển.
2.2. Vai trò của tri thức đối với chính trị
Nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn trong giai đoạn 1996-2000 đã đóng
góp tích cực trong phát triển lý luận và tổng kết thực tiễn xây dựng xã hội chủ nghĩa
ở Việt Nam trong thế kỷ 20. Khoa học xã hội còn đóng góp quan trọng vào việc xây
dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, ban hành các văn bản luật, các chính sách và
hiệp định quốc tế, trong đó có sự hiệp định thương mại Việt – Mỹ. Khoa học xã hội
còn hướng vào giải quyết nhiều vấn đề cụ thể bức xúc trong thực tiễn phát triển
kinh tế xã hội như: vấn đề toàn cầu hóa, quốc tế hóa, công nghiệp hóa – hiện đại hóa…
Một đất nước rất cần những con người có tri thức để điều hành công việc
chính trị. Nó quyết định đến vận mệnh của một quốc gia. Tri thức góp phần xây
dựng đường lối lãnh đạo của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về Cách
mạng công nghiệp lần thứ tư ở Việt Nam. Chỉ khi có một hệ thống lý luận đúng đắn,
khoa học và cách mạng soi sáng thì sự nghiệp đổi mới, xây dựng đất nước trong bối
cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư mới đạt được thành công. Đây không phải
là công việc dễ dàng, sự phát triển không thể chỉ dựa vào tri thức và kinh nghiệm
các nhà lãnh đạo, các nhà làm chính sách. Do đó, cần có sự góp sức của đội ngũ trí
thức, những hiểu biết của họ về cách mạng công nghiệp lần thứ tư sẽ giúp ích trong
quá trình xây dựng đường lối, chính sách. Chúng ta cần có những giải pháp trong
việc đào tạo cán bộ và hệ thống tổ chức.
2.3. Vai trò của tri thức đối với văn hóa – giáo dục
Tri thức cũng có vai trò rất lớn đến văn hóa- giáo dục của một quốc gia. Nó
giúp chúng ta lĩnh hội những kiến thức, dẫn tới ý thức của con người được nâng lên.
Khi nhu cầu xã hội ngày càng nâng cao, nhu cầu trong giáo dục và trách nhiệm của
học sinh sinh viên là cực kì quan trọng. Con người có tri thức, nhận thức và kiến
thức tốt, làm chủ tri thức bản thân, biết bản thân mình làm gì, biết được nhu cầu xã 4 lOMoAR cPSD| 23022540
hội đang đòi hỏi gì ở các bạn trẻ. Vai trò của tri thức trong việc phục vụ những yêu
cầu của xã hội, góp phần trong việc thể hiện khả năng bản thân mình để xã hội phát triển lớn mạnh hơn.
Khi trở thành con người có tri thức thì sống theo chuẩn mực đạo đức tốt, giữ
gìn cũng như phát huy được những giá trị văn hóa tốt đẹp ông cha ta để lại. Tri thức
hình thành được là nhờ sự tiếp thu kiến thức cũng như học hỏi được những kĩ năng.
Một xã hội sẽ lạc hậu, không phát triển nếu như xã hội đấy không có những con người tri thức.
Vai trò cuối cùng mà tri thức mang lại cho xã hội là sự hội nhập quốc tế, giao
lưu học hỏi kiến thức hay những truyền thống tốt đẹp của các quốc gia khác là rất
cần thiết, hay là tham gia các cuộc thi quốc tế mà vấn đề cần quan tâm ở đây là
ngôn ngữ tiếng anh phải thực sự tốt. Đất nước sẽ được sánh ngang với các cường
quốc năm châu, sự sáng tạo cũng như phát minh hay, mới lạ thì công dân có tri thức
là không thể thiếu, là công cụ giải quyết mọi vấn đề khó khăn không chỉ cho bản
thân, gia đình mà còn cho cả xã hội.
Việt Nam đang trên con đường hội nhập với thế giới. Thế nhưng, chúng ta nên
hòa nhập để phát triển chứ không nên hòa tan, làm lẫn đi những giá trị cốt lõi của
văn hóa dân tộc. Một nền giáo dục đang ngày phát triển ở Việt Nam để tiến xa hơn
cùng với các nước trên thế giới. Chúng ta đang chạy đua với tri thức của nhân loại
để phát triển đất nước Việt Nam trong thời kỳ kinh tế tri thức hiện nay.
3. Vai trò của tri thức trong hoạt động thực tiễn của con người
Trong sự phát triển không ngừng của xã hội ngày nay, tri thức là không thể
thiếu với mỗi con người. Tri thức có tầm ảnh hưởng không hề nhỏ đối với cá nhân
cũng như cộng đồng. Tiếp thu thêm nhiều tri thức không chỉ mở mang tầm hiểu biết
mà còn giúp mọi người hiểu thêm về khả năng của bản thân, xác định được mục
tiêu cũng như phương hướng hành động của mình trong thời điểm hiện tại và tương lai.
3.1. Tri thức giúp con người xác định đúng đắn mục tiêu
Tri thức có vai trò rất quan trọng đối với thực tiễn, tác động và góp phần biến
đổi thực tiễn thông qua hoạt động năng động có ý thức của con người. Lý luận là
kim chỉ nam cho mọi hoạt động và góp phần soi đường chỉ lối cho thực tiễn đi đúng
hướng. V.I.Lenin đã chỉ ra vai trò quan trọng của lý luận “Không có lý luận cách
mạng thì không thể có phong trào cách mạng” (V.I.Lenin, 1974 – 1981, tập 26, 5 lOMoAR cPSD| 23022540
tr.30). Tri thức lí luận, có thể dự kiến được sự phát triển và vận động của sự vật
trong tương lai, dự báo được những phương hướng mới cho sự phát triển của thực
tiễn. Lý luận khoa học làm cho hoạt động của con người chủ động hơn, tự giác hơn,
hạn chế được sự mò mẫm, tư phát, mất phương hướng.
3.2. Tri thức giúp cuộc sống con người tốt đẹp hơn
Một người có tri thức có thể vận dụng nó làm cho cuộc sống của bản thân trở
nên dễ dàng hơn, không cần lao động vất vả dưới điều kiện khắc nghiệt. Thay vào
đó, con người có thể sử dụng tri thức để tạo những dịch vụ, sản phẩm chất lượng
cao cho xã hội. Bên cạnh đó, người có tri thức sẽ luôn được xã hội coi trọng, tin
tưởng. Trong thời đại văn minh, tri thức là chìa khóa để giúp con người có thể tồn
tại và phát triển trong xã hội.
II. Sự vận dụng quan điểm của triết học Mác – Lênin về tri
thức vào học tập và nghiên cứu đối với sinh viên
1. Thực trạng vận dụng quan điểm của triết học Mác – Lênin trong quá
trình học tập, nghiên cứu của sinh viên
1.1. Những điểm mạnh và hạn chế của sinh viên hiện nay 1.1.1. Điểm mạnh
Những thành tựu mà sinh viên đã đạt được.
Trước hết, chúng ta có thể khẳng định sinh viên sinh viên hiện nay rất năng
động, nhạy bén với cuộc sống và công việc, bên cạnh đó họ tiếp thu được nhiều
phẩm chất tốt đẹp: chăm chỉ, kiên trì và nỗ lực. Chúng ta rút ra được những kết luận
ấy khi chứng kiến lớp sinh viên đã đạt đạt được những thành tựu cùng với sự đổi
mới của đất nước. Nếu như trước đây chúng ta chỉ thấy những sinh viên học hành
cần cù luôn cắm đầu vào đọc sách, dù mài kinh sử để sau khi tốt nghiệp lấy được
bằng cử nhân được Nhà nước phân công đi công tác mà một số người đã quên hết
cả xung quanh. Nếu chúng ta cũng chỉ thấy một lớp sinh viên ở nông thôn chưa đầy
hai mươi đã lập gia đình suốt ngày phơi lưng ra đồng, quần quật vất vả thì giờ đây
chúng ta thấy một giới sôi động đầy màu sắc của sinh viên, sinh viên, họ chỉ chăm
chú học tập mà còn biết vận dụng những kiến thức được học vào cuộc sống. Tham
gia các hoạt động xã hội, xông xáo và nhạy bén “họ có nhiều điều kiện để phát triển
khả năng sáng tạo, do có đầy đủ thông tin, cuộc sống chắt lược tốt hơn, và chủ động
hơn trong việc lựa chọn nghề nghiệp tốt cả những cái đó làm họ năng động hơn. 6 lOMoAR cPSD| 23022540
Sinh viên Việt Nam du học ngày càng nhiều ở rất nhiều nước trên thế giới đã
mang về cho đất nước những tiến sĩ trẻ nắm vững kiến thức chuyên ngành đảm
nhiệm phát triển những ngành mũi nhọn nhằm đẩy mạnh sự phát triển kinh tế, khoa học, kỹ thuật.
Sinh viên Việt Nam năng động và chịu khó
Đối với sinh viên hiện nay, rất nhiều người vừa đi học vừa đi làm là rất phổ
biến, điều đó chứng tỏ sinh viên Việt Nam rất cần cù, chịu khó và đặc biệt là họ có
thể tự lập sinh viên làm việc ở khắp mọi nơi làm đủ mọi nghề lương thiện giúp họ
tự chu cấp tiền học hành và cuộc sống bản thân, nổi bật nhất là sinh viên từ nông
thôn ra thành thị những công việc họ làm có thể là gia sư, tiếp thị… đã chứng tỏ
sinh viên ngày nay đã nhận thức “lao động là vinh quang”. Ngoài ra trước đây sinh
viên, sinh viên ra trường được Nhà nước xếp việc làm thì ngày nay, sinh viên ra
trường phải tự tìm việc, điều này có nhiều thuận lợi vì họ có cơ hội lựa chọn được
công việc phù hợp, rất nhiều sinh viên ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường đã được
nhiều Công ty đến mời đi làm việc. Hiện nay cứ mỗi dịp mùa hè đến có những
phong trào “ánh sáng văn hóa hè” và “sinh viên tình nguyện” tham gia lao động bảo
vệ môi trường, đến các vùng xa xôi, hẻo lánh đem lại ánh sáng văn minh cho những
trẻ em nghèo đói và cho cả lớp sinh viên nông thôn. Điều đó thể hiện sự kế tiếp đùm
bọc của sinh viên ngày nay. 1.1.2. Hạn chế
Thứ nhất, hầu như sinh viên không đọc trước giáo trình trước khi lên lớp, mặc
dù khi giảng viên bắt đầu dạy một học phần mới, ngoài việc giới thiệu đề cương,
hình thức thi, mà còn giới thiệu rất nhiều loại tài liệu: tài liệu chính, tài liệu tham
khảo và đôi khi còn giới thiệu cho học viên cả kinh nghiệm và phương pháp học tập
của học phần đó cho sinh viên.
Thứ hai, việc học bài cũ thì đại đa số sinh viên có học nhưng không tuân theo
một quy luật nào, thời gian ôn lại các bài trước cũng rất ít, ngẫu hứng, chưa thực sự
tập trung và không có phương pháp học cụ thể. Môn chuyên ngành (nhiều tiết, thi
tốt nghiệp) thì học nhiều hơn, còn các môn đại cương, cơ sở ngành thì học cho qua
không thi lại là được. Việc giải bài tập thì sách bài tập có ở thư viện, hoặc mượn của
thầy cô giáo photo có thể có đáp số, hoặc đáp án của các anh chị khóa trước thì
photo mỗi người một bản không cần phải giải nữa. Khi giảng viên kiểm tra bài tập, 7 lOMoAR cPSD| 23022540
nhiều sinh viên còn xung phong lên bảng giải (nhưng thực chất là chép lại), và cũng
không biết mình chép đúng hay sai.
Thứ ba, sẽ càng tệ hơn khi đến những kỳ thi bởi ngay khi học đã không có sự
chuẩn bị kỹ càng. Đến tận ngày thi, ngày kiểm tra nhiều sinh viên học vội, học vàng
rồi rủ nhau đến các quán photo tìm phao cứu sinh. Số lượng sinh viên đến thư viện
hoặc học tổ, học nhóm thì đếm trên đầu ngón tay. Hầu hết những người đến thư viện
thường là những sinh viên học tập chăm chỉ, chịu khó.
1.2. Vai trò của tri thức đối với sinh viên
Khi con người có tri thức, có hiểu biết, am hiểu sâu rộng tới mọi vấn đề hay
lĩnh vực xã hội, thì con người ta dễ dàng thực hiện được những mục tiêu, ham
muốn, ước nguyện của bản thân, chỉ có tri thức được lấy bằng chính mồ hôi công
sức thì mới mang lại được hiệu quả. Và hiển nhiên, một xã hội với những con người
thành đạt giúp xã hội phát triển không ngừng về tri thức. Đơn giản rằng khi xã hội
được hợp thành bởi cá nhân, nhưng sự kết hợp mang lại hiệu quả thì cần quá trình
rèn luyện không ngừng đối với thế hệ trẻ, việc học tập như nào, trau dồi bản thân ra
sao để tri thức mình mang lại cho xã hội có sự đóng góp hiệu quả nhất.
Khi nhu cầu xã hội ngày càng nâng cao, việc đáp ứng nhu cầu đòi hỏi mỗi
công dân cần phải có, đặc biệt nhu cầu trong giáo dục và trách nhiệm của học sinh
sinh viên là quan trọng. Con người có tri thức, kiến thức và nhận thức tốt, làm chủ
tri thức bản thân là chủ trong cách sống của mình, biết bản thân mình làm gì, biết
được nhu cầu xã hội đang đòi hỏi gì ở chính các bạn trẻ, mà không ngừng học hỏi.
Vai trò của tri thức trong việc phục vụ những yêu cầu của xã hội, cũng góp phần
trong việc thể hiện khả năng bản thân mình ở xã hội không ngừng phát triển lớn mạnh.
Khi trở thành con người có tri thức thì sống theo chuẩn mực đạo đức tốt, giữ
gìn cũng như phát huy được những giá trị văn hóa tốt đẹp ông cha ta để lại. Một câu
hỏi đề ra, nếu bản thân mỗi công dân không có am hiểu về tri thức, tri thức sách vở,
tri thức trong cách sống, tri thức trong sự nhìn nhận thì xã hội sẽ duy trì như thế
nào. Tri thức hình thành được là nhờ sự tiếp thu kiến thức cũng như học hỏi được
những kỹ năng, một xã hội sẽ lạc hậu, không có sự phát triển là xã hội còn xuất hiện
những con người không có tri thức, một thành phần thừa trong xã hội.
Vai trò cuối cùng mà tri thức mang lại cho xã hội là sự hội nhập quốc tế, giao
lưu học hỏi kiến thức hay những truyền thống tốt đẹp của các quốc gia khác là rất 8 lOMoAR cPSD| 23022540
cần thiết, hay là tham gia các cuộc thi quốc tế mà các vấn đề cần quan tâm ở đây là
ngôn ngữ tiếng anh phải thực sự tốt và chuyên môn cao. Xã hội sẽ được sánh ngang
với các cường quốc năm châu, sự sáng tạo cũng như những phát minh hay, mới lạ
thì công dân có tri thức là không thể thiếu, tri thức lúc này như là công cụ giúp giải
quyết mọi vấn đề khó khăn không chỉ cho bản thân, gia đình mà còn cho cả xã hội
vì lợi ích của đất nước.
Nhận thức rất rõ việc học tập, cũng như biết được những giá trị tri thức, tri
thức là gì, tại sao phải có tri thức thì mỗi học sinh sinh viên cần phải phát huy bản
thân học hỏi trong nhiều lĩnh vực, phụ huynh cũng có giải pháp tốt nhất cho các bạn
trẻ trong việc rèn luyện các kỹ năng mềm hay kiến thức chuyên sâu môn học, đó
cũng là chặng đường giúp các bạn trẻ chuẩn bị tốt nhất để có hành trang tốt trên con
đường đi tìm thành công và hỗ trợ học sinh và phụ huynh trong việc học tập của con
em mình rất cần đến một gia sư chất lượng, hiệu quả.
2. Một số giải pháp nhằm vận dụng quan điểm của triết học Mác – Lênin
về tri thức vào học tập và nghiên cứu đối với sinh viên
Trong giai đoạn phát triển của đất nước ta –thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã
hội, thì sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là nhiệm vụ trung tâm, là
giải pháp quyết định đưa nước ta khắc phục nguy cơ tụt hậu, là quá trình phấn đấu
lâu dài của nhân dân ta. Điều đó được thể hiện trong việc chỉ đạo của Đảng và Nhà
nước, những tiền đề tạo nên sự lớn mạnh của sự nghiệp đó. Và trong nguồn nhân
lực ấy thì sinh viên lại giữ vai trò quan trọng, là nguồn lực chủ yếu, bởi họ đại diện
cho đông đảo người ở độ tuổi lao động của nước ta, họ có một nhiệm vụ hay giữ
một trọng trách hết sức nặng nề.
Đầu tiên, sinh viên phải tích cực tham gia học tập nâng cao trình độ lý luận chính
trị, nuôi dưỡng lý tưởng cách mạng trong sáng. Bối cảnh quốc gia và quốc tế đang
ảnh hưởng lên tất cả các đối tượng sinh viên, tác động một cách toàn diện lên tư
tưởng, tình cảm, lối sống, nhu cầu của từng sinh viên. Vì vậy, sinh viên phải rèn luyện
để có lập trường tư tưởng vững vàng, có lòng yêu nước, có niềm tin vào sự lãnh đạo
của Đảng và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng và lối sống
lành mạnh; tích cực tham gia vào các cuộc đấu tranh bảo vệ Đảng, Nhà nước và bảo
vệ chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đấu tranh
chống lại âm mưu “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch và các tiêu cực, tệ
nạn xã hội, tham nhũng… 9 lOMoAR cPSD| 23022540
Thứ hai, sinh viên cần tích cực học tập và nghiên cứu để nâng cao trình độ văn
hóa, chuyên môn, khoa học, kỹ thuật và tay nghề. Trong thời kỳ phát triển kinh tế xã
hội trong nước và hội nhập quốc tế, sinh viên nước ta cần nâng cao trình độ học vấn,
tay nghề khả năng thực tế, kỹ năng lao động để thích ứng với thị trường lao động
trong nước và thị trường lao động quốc tế. Sinh viên cần tích cực tham gia xây dựng
xã hội học tập với phương châm: người sinh viên nào cũng phải học ở đâu, làm gì,
thời gian nào cũng phải học, người sinh viên nào cũng phải xác định tham gia học tập
thường xuyên, suốt đời là quyền và nghĩa vụ của bản thân.
Thứ ba, sinh viên phải tích cực tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân. Sinh viên phải tích cực tham gia bảo vệ
và xây dựng hệ thống chính trị ở các cấp vững mạnh và tham gia xây dựng khối đại
đoàn kết toàn dân tộc vững chắc. Các đối tượng sinh viên tự nguyện, tự giác tham gia
vào các hội của sinh viên, phấn đấu trở thành đoàn viên, đảng viên của Đảng và hội
viên của các quần chúng nhân dân.
Thứ tư, sinh viên phải tích cực tham gia vào việc xây dựng môi trường xã hội
lành mạnh và môi trường sinh thái trong lành, sạch đẹp. Tích cực tham gia phòng
chống ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu.
Thứ năm, sinh viên phải xung phong đi đầu trong sự nghiệp phát triển kinh tế
xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh. Tích cực tham gia các chương trình, dự án của
địa phương; tự nguyện, tự giác tham gia thực hiện nghĩa vụ quân sự, tham gia các
hoạt động bảo vệ Tổ quốc và giữ gìn an ninh trật tự an toàn xã hội.
Cuối cùng, sinh viên cần chủ động tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế,
tham gia giải quyết các vấn đề toàn cầu, tham gia vào công tác ngoại giao nhân dân
để nâng tầm ảnh hưởng của Việt Nam trên trường quốc tế, chủ động và tham gia có
hiệu quả vào giải quyết các vấn đề toàn cầu như: giữ gìn hòa bình, đẩy lùi nguy cơ
chiến tranh, chống khủng bố, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu
toàn cầu, hạn chế sự bùng nổ dân số, phòng ngừa và đẩy lùi các dịch bệnh hiểm nghèo… 10 lOMoAR cPSD| 23022540 KẾT LUẬN
Trên đời không gì vĩ đại bằng con người, trong con người không gì vĩ đại bằng
tri thức. Chính nhờ việc biết tích lũy tri thức qua hàng trăm triệu năm, không ngừng
sàng lọc và bồi tích nó, con người đã từng bước thống trị và làm thay đổi thế giới
này. Trong bất kỳ xã hội hay thời kỳ nào thì vai trò của trí thức đều vô cùng quan
trọng. Tri thức là một nhân tố vô cùng thiết yếu tạo nên sự giàu mạnh của một quốc
gia, dân tộc, là nền tảng cho sự phát triển. Đặc biệt, trong xã hội ngày nay, tri thức
thực sự ngày càng khẳng định được vai trò lớn của mình trong việc phát triển đất
nước cũng như trong việc định hướng mỗi bản thân con người. Tri thức là động lực
thúc đẩy xã hội trở nên tốt đẹp và văn minh hơn. Không có tri thức, cuộc sống của
con người sẽ trở nên khó khăn hơn bao giờ hết, tất cả chỉ “giậm chân tại chỗ”,
không phát triển đi lên được.Bởi vậy, mỗi con người chúng ta có nhiệm vụ tìm hiểu
những tri thức mới, cập nhật và làm chủ những tiến bộ khoa học của loài người để
góp phần phát triển đất nước hùng mạnh. Hãy trau dồi tri thức để mang đến sức
mạnh, lợi thế cho chính mình, cho quốc gia, dân tộc mình. Hãy là một vì sao lấp
lánh tài năng, bản lĩnh và một trái tim đẹp. 11 lOMoAR cPSD| 23022540
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ giáo dục và Đào tạo, Giáo trình Triết học Mác – Lênin, Hà Nội – 2019
2. V.I.Lenin, 1974 – 1981, tập 26
3. C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, NXB CTQG, Hà Nội, 1995
4. Tri thức, https://vi.wikipedia.org/wiki/Tri_thức , cập nhật 31/01/2022, truy cập 09/05/2022
5. Tri thức là gì? Vai trò của tri thức trong đời sống xã hội,
https://lytuong.net/trithuc-la-gi// , cập nhật 09/12/2021, truy cập 09/05/2022
6. Tiểu luận sự phát triển của nền kinh tế tri thức, https://viettieuluan.com/tieu-
luansu-phat-trien-cua-nen-kinh-te-tri-thuc/ , truy cập 11/05/2022
7. Bài dự thi viết về Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ X,
https://123docz.net//document/2518892-bai-du-thi-viet-ve-dai-hoi-doan-toan-
quoclan-thu-x.htm, truy cập 13/05/2022
8. Vai trò của tri thức đối với hoạt động của con người,
https://123docz.net/document/949401-vai-tro-cua-tri-thuc-voi-hoat-dong-cua-
connguoi.htm, truy cập 13/05/2022
Downloaded by Hoàng Kim Chi (chi.qh2002@gmail.com)