



















Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA MARKETING ---------- BÀI THẢO LUẬN LUẬT KINH TẾ 1 ĐỀ TÀI:
SO SÁNH LOẠI HÌNH KINH DOANH CÁ THỂ VÀ
HỢP TÁC XÃ – ÁP DỤNG LUẬT PHÁ SẢN,
LUẬT DOANH NGHIỆP VÀO VIỆC XỬ LÝ BÀI TẬP TÌNH HUỐNG Nhóm : 12
Lớp học phần : 232_PLAW0321_06
Giáo viên hướng dẫn : GV Tạ Thị Thùy Trang MỤC LỤC
I. LỜI MỞ ĐẦU................................................................................................2
II. NỘI DUNG....................................................................................................3
Phần 1: Câu hỏi lý thuyết...................................................................................3
1.1. Khái niệm...........................................................................................3
1.1.1. Hộ kinh doanh cá thể.................................................................3
1.1.2. Hợp tác xã.........................................................................................3
1.2. So sánh “hộ kinh doanh cá thể” và “hợp tác xã”:...3
1.2.1. Điểm giống nhau:.........................................................................3
1.2.2. Điểm khác nhau.............................................................................5
Phần 2: Xử lý bài tập tình huống.......................................................................8
2.1. Đề bài...................................................................................................8
2.2. Xử lý tình huống:..........................................................................8 1 | P a g e I. LỜI MỞ ĐẦU
Ở tất cả các quốc gia, các hoạt động kinh tế luôn đóng vai trò đặc biệt quan
trọng, quyết định đến sự tồn tại và phát triển của đất nước và ở đâu cũng vậy, hiệu quả
của các hoạt động kinh tế phụ thuộc rất lớn vào môi trường pháp lý trong đó có các
hoạt động kinh tế được tiến hành. Chính vì vậy, hoàn thiện hệ thống pháp luật về Hợp
tác xã luôn được nhà nước đặc biệt quan tâm. Nhà nước ta khẳng định: “Kinh tế tập
thể là thành phần kinh tế quan trọng, phải được củng cố và phát triển cùng kinh tế nhà
nước trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Phát triển kinh tế tập thể
là xu hướng tất yếu trong bối cảnh hội nhập quốc tế, phù hợp với nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa”.
Tuy nhiên ngày nay, có nhiều người nhầm lẫn
giữa hai mô hình kinh doanh khá
phổ biến tại Việt Nam là “hộ kinh doanh cá thể” và “hợp tác xã” do tính chất phù hợp
và đối tượng kinh doanh, tổ chức hoạt động, quy mô có phần giống nhau của chúng.
Nên trong quá trình hoạt động kinh doanh, các thành viên không tìm hiểu kỹ các quy
định luật pháp rất dễ xảy ra những mâu thuẫn, hiểu lầm không đáng có về mặt luật
pháp, dẫn đến kiện cáo hay giải thể. Chính vì vậy, sau một thời gian học và tìm hiểu về
bộ môn Luật kinh tế 1, dựa vào những điều đã học nhóm 12 đã tiến hành nghiên cứu
và áp dụng trong việc so sánh về hộ kinh doanh cá thể và hợp tác xã, từ đó giải quyết
một vấn đề liên quan đến Quyết định chấm dứt tư cách hợp tác xã thành viên và Chia
và trả nợ cho các chủ nợ theo thủ tục pháp luật hiện hành. Dù kiến thức còn hạn chế,
nhưng đây là kết quả tốt nhất cả nhóm đã cùng thống nhất và thực hiện, nên nhóm 12
hy vọng rằng bài thảo luận dưới đây sẽ góp phần nêu lên ý kiến phân tích của nhóm
giúp cho bài thảo luận được phong phú hơn và kiến thức của chúng em cũng đa dạng hơn. 2 | P a g e II. NỘI DUNG
Phần 1: Câu hỏi lý thuyết 1.1. Khái niệm 1.1.1. Hộ kinh doanh cá thể
Căn cứ vào Điều 79 Nghị định 01/2021/NĐ-CP
- Hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc các thành viên hộ gia đình đăng ký thành
lập và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh
doanh của hộ. Trường hợp các thành viên hộ gia đình đăng ký hộ kinh doanh thì
ủy quyền cho một thành viên làm đại diện hộ kinh doanh. Cá nhân đăng ký hộ
kinh doanh, người được các thành viên hộ gia đình ủy quyền làm đại diện hộ
kinh doanh là chủ hộ kinh doanh.
- Hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, làm muối và những người bán
hàng rong, quà vặt, buôn chuyến, kinh doanh lưu động, kinh doanh thời vụ, làm
dịch vụ có thu nhập thấp không phải đăng ký hộ kinh doanh, trừ trường hợp
kinh doanh các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Ủy ban nhân dân
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định mức thu nhập thấp áp dụng trên phạm vi địa phương. 1.1.2. Hợp tác xã
Căn cứ theo Khoản 1 Điều 3 Luật Hợp tác xã 2012:
- Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít
nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt
động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành
viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý hợp tác xã.
1.2. So sánh “hộ kinh doanh cá thể” và “hợp tác xã”: 1.2.1. Điểm giống nhau:
STT Các tiêu chí Hộ kinh doanh cá thể Hợp tác xã 1 Loại hình
Không phải loại hình doanh nghiệp kinh doanh 2 Số lượng
Không giới hạn thành viên tham gia thành viên 3 | P a g e 3 Đối tượng
Cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân là công dân Việt Nam thành lập 4 Địa điểm
Có thể hoạt động kinh doanh tại nhiều địa điểm kinh doanh,
trụ sở chính Chỉ được chọn 1 địa điểm để đặt trụ sở chính
Đối với địa điểm kinh doanh ở địa chỉ khác cần thông báo cho
cơ quan quản lý thuế và cơ quan quản lý thị trường. (Căn cứ
theo Khoản 2 Điều 86 Nghị định 01/2021/NĐ-CP và Điều 16,
17 Nghị định 193/2013/NĐ-CP)
Đăng ký thành lập hợp tác xã, hộ kinh doanh có thủ tục không 5 Đăng ký
quá phức tạp, thời gian thành lập thường từ 3-5 ngày làm việc
giấy chứng để được cấp giấy chứng nhận đăng ký. (Căn cứ theo Khoản 4 nhận đăng
Điều 87 Nghị định 01/2021 và Khoản 3 Điều 14 Nghị định ký 193/2013/NĐ-CP.) 4 | P a g e 1.2.2. Điểm khác nhau
STT Các tiêu Hộ kinh doanh cá thể (Nghị định Hợp tác xã (Luật Hợp tác xã chí 01/2021) 2012) 1
Đối tượng - Đối tượng: cá nhân, các thành - Đối tượng được đăng ký
và quyền viên hộ gia đình là công dân Việt tham gia: cá nhân, hộ gia đình
hạn đăng Nam theo Khoản 1 Điều 80 Nghị
là công dân Việt Nam/ người
ký tham định 01/2021/NĐ-CP
nước ngoài cư trú hợp pháp tại gia
Việt Nam, từ đủ 18 tuổi trở
- Số lượng: không giới hạn thành lên, có hành vi năng lực dân sự viên
đầy đủ/ hộ gia đình có người
- Quyền đăng ký tham gia: Chỉ đại diện hợp pháp theo quy được đăng ký một hộ
định của pháp luật; cơ quan, tổ kinh doanh
cá thể duy nhất trên lãnh thổ chức là pháp nhân Việt Nam Việt Nam theo Khoản 2 căn cứ theo Khoản 1 Điều 13 Điều 80 Nghị định 01/2021/NĐ-CP Luật hợp tác xã 2012 - - Số lượng: ≥7 thành viên căn
Cá nhân, thành viên đăng ký hộ
kinh doanh không được đồng cứ theo Khoản 1 Điều 3 Luật
thời là chủ doanh nghiệp tư hợp tác xã 2012.
nhân, thành viên hợp danh của - Có thể đăng ký trở thành
công ty hợp danh trừ trường hợp thành viên của nhiều hợp tác
được sự nhất trí của các thành xã khác căn cứ theo Khoản 3
viên hợp danh còn lại theo Điều 13 Luật hợp tác xã 2012. Khoản 3 Điều 80 Nghị định 01/2021/NĐ-CP. 2 Quyền
Do chủ hộ kinh doanh hoặc theo Có quyền bình đẳng giữa các
hạn quyết thỏa thuận giữa các thành viên thành viên trong mọi quyết
định của trong hộ gia đình
định, hoạt động của hợp tác xã thành
theo quy định tại Điều 14 Luật viên hợp tác xã 2012. 3
Người đại Chủ hộ kinh doanh theo Khoản 2
Chủ tịch Hội đồng quản trị
diện theo Điều 81 Nghị định 01/2021/NĐ- pháp luật CP 5 | P a g e 4
Cơ cấu Chủ hộ kinh doanh, thành viên
Đại hội thành viên, hội đồng quản lý tổ
quản trị, giám đốc (tổng giám chức
đốc) và ban kiểm soát hoặc
kiểm soát viên theo Điều 29 Luật Hợp tác xã 2012 5
Tư cách Không có tư cách pháp nhân Có tư cách pháp nhân theo pháp nhân
Khoản 1 Điều 3 Luật Hợp tác
Vì không có sự tách bạch về tài xã 2012
sản theo Khoản 1 Điều 79 Nghị định 01/2021/NĐ-CP 6
Căn cứ Phân chia lợi nhuận sẽ do cá Lợi nhuận được phân chia chủ
phân chia nhân hoặc thành viên hộ gia đình yếu dựa theo công sức thành lợi nhuận xác định, thống nhất.
viên đóng góp và mức độ sử
dụng sản phẩm, dịch vụ. Phần
còn lại mới được chia theo tỷ lệ vốn góp 7 Trách Vô hạn Hữu hạn nhiệm tài sản 8
Bản chất Mục đích chính thành lập hộ Được thành lập nhằm giúp đỡ, thành lập
kinh doanh nhằm tăng thu nhập, tạo việc làm, đào tạo và phát
nhắm đến lợi ích kinh tế
triển chuyên môn của thành viên hợp tác xã 9 Thành
Thành viên trong hộ kinh doanh Thành viên không được góp
viên góp tự thỏa thuận về tỷ lệ vốn góp
vốn vượt quá 20% vốn điều lệ vốn Điều lệ 10
Góp vốn, Chỉ được tham gia với tư cách cá Được phép góp vốn, mua bán
mua bán nhân trong các hoạt động góp cổ phần và thành lập doanh
cổ phần, vốn, mua cổ phần, mua phần vốn nghiệp với tư cách hợp tác xã
thành lập góp trong doanh nghiệp theo nhưng không được vượt quá doanh Khoản 2 Điều 80 Nghị định
50% vốn điều lệ (ghi trong báo 6 | P a g e nghiệp 01/2021/NĐ-CP
cáo tài chính gần nhất). 11
Quy định Không được khắc dấu
Được quyền khắc và sử dụng về quyền con dấu khắc và sử dụng con dấu 12 Các loại Thuế môn bài Thuế môn bài thuế phải nộp Thuế giá trị gia tăng Thuế giá trị gia tăng Thuế thu nhập cá nhân.
Thuế thu nhập doanh nghiệp. 13
Xuất hóa Hóa đơn bán hàng. Hóa đơn đỏ đơn Hóa đơn bán hàng. 7 | P a g e
Phần 2: Xử lý bài tập tình huống II.1. Đề bài
Liên hiệp Hợp tác xã ABCDEF được thành lập vào tháng 8 năm 2017 với
ngành nghề sản xuất, kinh doanh đồ thủ công mỹ nghệ; bao gồm 06 Hợp tác xã thành
viên là: A, B, C, D, E, F. Ngày 06/12/2017, do nhận thấy Hợp tác xã A không thực
hiện nghĩa vụ góp vốn như đã cam kết nên HTX B và HTX C đã yêu cầu Hội đồng
quản trị Liên hiệp HTX triệu tập đại hội thành viên bất thường để quyết định việc
chấm dứt tư cách HTX thành viên của HTX A. Tuy nhiên, cho rằng vấn đề này không
thuộc thẩm quyền của Đại hội thành viên Liên hiệp HTX nên Hội đồng quản trị liên
hiệp HTX đã không triệu tập theo yêu cầu.
Ngày 15/12/2017; Ban kiểm soát Liên hiệp HTX đã đứng ra triệu tập Đại hội
thành viên. Đại hội thành viên diễn ra với sự tham gia của 5 HTX thành viên là: B, D,
C, E, F. Đại hội thành viên đã thông qua quyết định chấm dứt tư cách HTX thành viên
của HTX A với sự biểu quyết tán thành của HTX C và D. Liên hiệp Hợp tác xã
ABCDEF sau đó liên tiếp gặp khó khăn trong kinh doanh. Ngày 1/1/2018, sau 4 tháng
từ ngày đến hạn trả nợ nhưng Liên hiệp HTX không trả được các Khoản nợ như sau:
-Nợ ngân hàng X (tỉnh Hòa Bình) 1 tỷ (thế chấp ô tô 500 triệu)
-Nợ cá nhân C (cư trú tại Hòa Bình) 2 tỷ
-Nợ lương người lao động chi nhánh Hòa Bình 200 tr
Ngoài ra, liên hiệp hợp tác xã còn nợ 3,3 tỷ của các cá nhân, tổ chức khác
nhưng chưa đến hạn trả nợ. Phí phá sản 100 triệu. Thêm vào đó, 1 tháng sau khi mở
thủ tục phá sản Liên hiệp tăng ban hàng là công ty H 100 triệu để mừng khai trương
chi nhánh mới. Tài sản còn của liên hiệp HTX thời điểm này là 500 triệu (chưa gồm TS thế chấp).
1. Quyết định chấm dứt tư cách HTX thành viên của HTX A đúng hay sai? Vì sao?
2. Chia và trả nợ cho các chủ nợ theo thủ tục pháp luật hiện hành?
II.2. Xử lý tình huống:
1, Quyết định chấm dứt tư cách HTX thành viên của HTX A đúng hay sai? Vì sao?
Khẳng định: Quyết định chấm dứt tư cách HTX thành viên của HTX A là sai. Giải thích:
Theo Khoản 2, Điều 3, Luật Hợp tác xã 2012 giải thích về Liên hiệp HTX: 8 | P a g e
“2. Liên hiệp hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp
nhân, do ít nhất 04 hợp tác xã tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau
trong hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm đáp ứng nhu cầu chung của hợp tác xã
thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý
liên hiệp hợp tác xã.”
Tình huống đưa ra Liên hiệp Hợp tác xã ABCDEF được thành lập vào tháng 8
năm 2017 với ngành nghề sản xuất, kinh doanh đồ thủ công mỹ nghệ, bao gồm 06 Hợp
tác xã thành viên là: A, B, C, D, E, F. Vậy nên sự kiện thành lập Liên hiệp HTX vào
tháng 8/2017 là hoàn toàn hợp pháp. Sự kiện pháp lý này đã làm phát sinh quyền,
nghĩa vụ của Liên hợp tác xã theo quy định.
Trường hợp 1: HTX A góp vốn cao hơn mức vốn tối thiểu và còn thời hạn góp vốn:
Theo điểm g, Khoản 1, Điều 16, luật Hợp tác xã 2012 quy định về Chấm
dứt tư cách thành viên, hợp tác xã thành viên
“1. Tư cách thành viên, hợp tác xã thành viên bị chấm dứt khi xảy ra một trong các trường hợp sau đây:
g) Tại thời điểm cam kết góp đủ vốn, thành viên, hợp tác xã thành viên không góp vốn
hoặc góp vốn thấp hơn vốn góp tối thiểu quy định trong điều lệ;”
Giả sử thời điểm diễn ra tình huống là thời điểm cam kết góp đủ vốn. Như vậy,
trong trường hợp trên HTX thành viên A không góp đủ vốn theo cam kết nhưng nếu
như HTX thành viên A vẫn góp vốn cao hơn vốn góp tối thiểu thì tư cách thành viên
của HTX thành viên A vẫn chưa bị chấm dứt. Như vậy, không có căn cứ để chấm dứt
tư cách thành viên của HTX.
Bên cạnh đó, Theo Khoản 3, Điều 17, Luật Hợp tác xã năm 2012 quy định
về Góp vốn điều lệ và giấy chứng nhận vốn góp:
“3. Thời hạn, hình thức và mức góp vốn điều lệ theo quy định của điều lệ, nhưng thời
hạn góp đủ vốn không vượt quá 06 tháng, kể từ ngày hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã
được cấp giấy chứng nhận đăng ký hoặc kể từ ngày được kết nạp.”
Tuy HTX B và C nhận thấy HTX A không thực hiện nghĩa vụ góp vốn như đã
cam kết nhưng trong trường hợp này, Liên hợp tác xã được thành lập vào tháng 8 năm
2017. Cho đến tháng 12 năm 2017, HTX A vẫn còn thời hạn để góp đủ vốn.
Quyết định chấm dứt tư cách Hợp tác xã thành viên của HTX A là sai.
Trường hợp 2: HTX A góp vốn chưa đủ số vốn tối thiểu và đã hết thời hạn góp vốn: 9 | P a g e
Theo Khoản 3, Điều 17, Luật Hợp tác xã năm 2012 quy định về Góp vốn
điều lệ và giấy chứng nhận vốn góp:
“3. Thời hạn, hình thức và mức góp vốn điều lệ theo quy định của điều lệ, nhưng thời
hạn góp đủ vốn không vượt quá 06 tháng, kể từ ngày hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã
được cấp giấy chứng nhận đăng ký hoặc kể từ ngày được kết nạp.”
Giả sử thời hạn góp vốn theo quy định của điều lệ hết hạn trong tháng 12 năm
2017 - cùng thời điểm xảy ra tình huống. Như vậy, HTX A đã hết thời hạn thực hiện nghĩa vụ góp vốn.
Theo điểm g, Khoản 1, Điều 16, luật Hợp tác xã 2012 quy định về Chấm
dứt tư cách thành viên, hợp tác xã thành viên
“1. Tư cách thành viên, hợp tác xã thành viên bị chấm dứt khi xảy ra một trong các trường hợp sau đây:
g) Tại thời điểm cam kết góp đủ vốn, thành viên, hợp tác xã thành viên không góp vốn
hoặc góp vốn thấp hơn vốn góp tối thiểu quy định trong điều lệ;”
Trong trường hợp trên, do nhận thấy Hợp tác xã A không thực hiện nghĩa vụ
góp vốn như đã cam kết nên HTX B và HTX C đã yêu cầu Hội đồng quản trị Liên hiệp
HTX triệu tập đại hội thành viên bất thường để quyết định việc chấm dứt tư cách HTX
thành viên của HTX A. Nếu như HTX thành viên A chưa góp đủ số vốn góp tối thiểu
và thời hạn thực hiện nghĩa vụ góp vốn đã hết theo quy định của điều lệ thì chứng tỏ là
việc HTX B và C yêu cầu chấm dứt tư cách thành viên của HTX A là hoàn toàn có căn cứ.
Xét các sự kiện pháp lý trong ngày 06/12/2017
Thẩm quyền quyết định:
Căn cứ Khoản 16, Điều 32, Luật Hợp tác xã 2012 quy định về Quyền và
nhiệm vụ của đại hội thành viên:
“Đại hội thành viên quyết định các nội dung sau đây:
16. Chấm dứt tư cách thành viên, hợp tác xã thành viên theo quy định tại điểm b
Khoản 2 Điều 16 của Luật này;”
Theo điểm b, Khoản 2, Điều 16, Luật Hợp tác xã 2012 quy định về Chấm
dứt tư cách thành viên, hợp tác xã thành viên:
“2. Thẩm quyền quyết định chấm dứt tư cách thành viên, hợp tác xã thành viên được thực hiện như sau:
b) Đối với trường hợp quy định tại điểm đ, g và h Khoản 1 Điều này thì hội đồng quản
trị trình đại hội thành viên quyết định sau khi có ý kiến của ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên.” 10 | P a g e
Dựa vào nội dung quy định ở điểm g Khoản 1 Điều 16, Luật Hợp tác xã 2012
(đã trích dẫn ở trên) thì Đại hội thành viên có thẩm quyền quyết định chấm dứt tư
cách HTX thành viên của HTX A. Nhưng trong tình huống, Hội đồng quản trị liên
hiệp HTX đã cho rằng vấn đề của việc chấm dứt tư cách thành viên của HTX A không
thuộc thẩm quyền của Đại hội thành viên Liên hiệp HTX. Như vậy là sai với pháp luật
quy định về thẩm quyền quyết định.
Xét các yếu tố cấu thành cuộc họp
Thời gian, địa điểm:
Theo Điểm d, Khoản 2, Điều 31, Luật Hợp tác xã 2012 về Triệu tập Đại hội thành viên
“2. Hội đồng quản trị triệu tập đại hội thành viên bất thường trong những trường hợp sau đây:
d) Theo đề nghị của ít nhất một phần ba tổng số thành viên, hợp tác xã thành viên.”
Giả sử yếu tố về thời gian diễn ra cuộc họp đang trong thời hạn 15 ngày kể từ
lúc HTX B và HTX C tương ứng với 2/6 HTX (⅓ tổng số thành viên hợp tác xã thành
viên) đã yêu cầu Hội đồng quản trị Liên hiệp HTX triệu tập Đại hội thành viên bất
thường -> Thỏa mãn về yếu tố thời gian diễn ra cuộc họp theo quy định tại Khoản 2,
Điều 31, Luật Hợp tác xã 2012 về Triệu tập Đại hội thành viên “Trong thời hạn 15
ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị của ban kiểm soát, kiểm soát viên hoặc đề nghị
của ít nhất một phần ba tổng số thành viên, hợp tác xã thành viên, hội đồng quản trị
phải triệu tập đại hội thành viên bất thường.”
Thẩm quyền triệu tập:
Theo Điểm d, Khoản 2, Điều 31, Luật Hợp tác xã 2012 về Triệu tập Đại hội thành viên
“2. Hội đồng quản trị triệu tập đại hội thành viên bất thường trong những trường hợp sau đây:
d) Theo đề nghị của ít nhất một phần ba tổng số thành viên, hợp tác xã thành viên.
Trong tình huống trên, ngày 6/12/2017 có HTX B và C tương ứng với 2/6 HTX
(⅓ tổng số thành viên hợp tác xã thành viên) đã yêu cầu Hội đồng quản trị Liên hiệp
HTX triệu tập đại hội thành viên bất thường. Điều này là phù hợp với quy định của
luật, do đó, thông qua đề nghị của HTX B và C thì có Hội đồng quản trị có thẩm quyền
triệu tập Đại hội thành viên bất thường là hợp lệ.
Các yếu tố thuộc về thẩm quyền quyết định; thời gian, địa điểm; thẩm quyền
triệu tập trong cuộc họp đều diễn ra đúng theo quy định pháp luật nhưng Hội đồng
quản trị liên hiệp HTX đã không triệu tập Đại hội thành viên bất thường với lý do cho 11 | P a g e
rằng vấn đề chấm dứt tư cách thành viên của HTX thành viên A không nằm trong
thẩm quyền của Đại hội thành viên Liên hiệp HTX. Như vậy, việc Hội đồng quản trị
liên hiệp HTX từ chối triệu tập Đại hội thành viên bất thường khi có đề nghị của 2
HTX thành viên B và C là sai.
Xét các sự kiện pháp lý diễn ra trong ngày 15/12/2017
Theo Điểm k, Khoản 4, Điều 39, Luật Hợp tác xã 2012 quy định về Ban
kiểm soát, kiểm soát viên:
“4. Ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên chịu trách nhiệm trước đại hội thành viên và có
quyền hạn, nhiệm vụ sau đây:
k) Chuẩn bị chương trình và triệu tập đại hội thành viên bất thường theo quy định tại
Khoản 3 Điều 31 của Luật này;”
Tình huống đưa ra: ngày 15/12/2017; Ban kiểm soát Liên hiệp HTX đã đứng ra
triệu tập Đại hội thành viên. Như vậy, Đại hội thành viên diễn ra do Ban kiểm soát
đứng ra triệu tập là Đại hội thành viên bất thường theo quy định tại điểm k, Khoản 4,
Điều 39, Luật hợp tác xã 2012.
Thẩm quyền quyết định: Việc thông qua quyết định chấm dứt tư cách thành
viên thuộc thẩm quyền của Đại hội thành viên là đúng theo Khoản 16, Điều 32,
Luật Hợp tác xã 2012 quy định về Quyền và nghĩa vụ của Đại hội thành
viên và Điểm b, Khoản 2, Điều 16, Luật Hợp tác xã 2012 quy định về Chấm
dứt tư cách thành viên, hợp tác xã thành viên (Đã trích dẫn ở trên)
Xét các yếu tố trong cuộc họp
Thời gian, địa điểm:
Theo Khoản 3, Điều 31, Luật Hợp tác xã 2012 quy định về Triệu tập đại hội thành viên:
“3. Trường hợp quá thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị của ban
kiểm soát, kiểm soát viên hoặc đề nghị của ít nhất một phần ba tổng số thành viên,
hợp tác xã thành viên mà hội đồng quản trị không triệu tập đại hội thành viên bất
thường hoặc quá 03 tháng, kể từ ngày kết thúc năm tài chính mà hội đồng quản trị
không triệu tập đại hội thường niên thì ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên có quyền
triệu tập đại hội thành viên.”
Theo dữ kiện tình huống đưa ra, ngày 15/12/2017, Ban kiểm soát Liên hiệp
HTX đã đứng ra triệu tập Đại hội thành viên, thời hạn cách 9 ngày (chưa quá 15 ngày
như trong quy định tại điểm Khoản 3 Điều 31 Luật Hợp tác xã 20212) kể từ ngày 12 | P a g e
6/12/2017 nhận được đề nghị của ⅓ tổng số thành viên hợp tác xã thành viên mà hội
đồng quản trị không triệu tập đại hội thành viên bất thường. Như vậy thời gian diễn
ra cuộc họp là sai quy định.
Thẩm quyền triệu tập:
Theo Điểm k, Khoản 4, Điều 39, Luật Hợp tác xã 2012 quy định về Ban
kiểm soát, kiểm soát viên:
“4. Ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên chịu trách nhiệm trước đại hội thành
viên và có quyền hạn, nhiệm vụ sau đây:
k) Chuẩn bị chương trình và triệu tập đại hội thành viên bất thường theo quy
định tại Khoản 3 Điều 31 của Luật này;”
Trong tình huống trên, ngày 15/12/2017 Ban kiểm soát Liên hiệp HTX đã đứng
ra triệu tập Đại hội thành viên bất thường. Điều này là phù hợp với quy định của pháp
luật tại điểm k Khoản 4 Điều 39 Luật Hợp tác xã 2012, do đó, yêu cầu về thẩm quyền
triệu tập trong cuộc họp là đúng. Thủ tục thông báo
Theo Khoản 1, Điều 33, Luật Hợp tác xã 2012 quy định về Chuẩn bị đại hội thành viên
“1. Người triệu tập đại hội thành viên phải lập danh sách thành viên, hợp tác
xã thành viên, đại biểu thành viên có quyền dự họp; chuẩn bị chương trình, nội dung,
tài liệu và dự thảo nghị quyết; xác định thời gian, địa điểm và gửi giấy mời đến thành
viên, hợp tác xã thành viên hoặc đại biểu thành viên dự họp. Giấy mời họp phải kèm
theo chương trình, tài liệu liên quan đến nội dung đại hội thành viên ít nhất 07 ngày
trước ngày đại hội thành viên khai mạc.”
Giả sử, Ban Kiểm soát gửi thông báo triệu tập đến từng thành viên ít nhất 07
ngày trước ngày Đại hội thành viên khai mạc với nội dung xác định thời gian, địa
điểm, tài liệu liên quan đến nội dung đại hội thành viên và chương trình họp. Như vậy,
yêu cầu về thủ tục thông báo trong cuộc họp diễn ra hợp lệ.
Điều kiện tiến hành và biểu quyết
Theo Khoản 6, Điều 31, Luật Hợp tác xã 2012 quy định về Triệu tập đại hội thành viên:
“6. Đại hội thành viên được tiến hành khi có ít nhất 75% tổng số thành viên,
hợp tác xã thành viên hoặc đại biểu thành viên tham dự; trường hợp không đủ số
lượng thành viên thì phải hoãn đại hội thành viên.”
Đại hội thành viên diễn ra với sự tham gia của 5 HTX thành viên, đó là B, D, C,
E, F trên tổng 6 HTX thành viên, ứng với 83% tổng số thành viên chính thức. Như
vậy, số lượng thành viên tham gia dự họp là hợp lệ và đại hội thành viên được tiến 13 | P a g e
hành do Ban Kiểm soát chủ trì theo Khoản 5 Điều 31 luật Hợp tác xã 2012 “5. Đại
hội thành viên do người triệu tập chủ trì, trừ trường hợp đại hội thành viên quyết định
bầu thành viên khác chủ trì.”.
Theo Điều 34, Luật Hợp tác xã 2012 quy định về Biểu quyết trong Đại hội thành viên:
“1. Các nội dung sau đây được đại hội thành viên thông qua khi có ít nhất 75% tổng
số đại biểu có mặt biểu quyết tán thành:
a) Sửa đổi, bổ sung điều lệ;
b) Chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, giải thể, phá sản hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã;
c) Đầu tư hoặc bán tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được
ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã.
2. Các nội dung không thuộc quy định tại Khoản 1 Điều này được thông qua khi có
trên 50% tổng số đại biểu biểu quyết tán thành.
3. Mỗi thành viên, hợp tác xã thành viên hoặc đại biểu thành viên tham dự đại hội
thành viên có một phiếu biểu quyết. Phiếu biểu quyết có giá trị ngang nhau, không
phụ thuộc vào số vốn góp hay chức vụ của thành viên, hợp tác xã thành viên hoặc đại biểu thành viên.”
Nội dung quyết định chấm dứt tư cách thành viên của HTX thành viên A không
thuộc quy định tại Khoản 1, Điều 34, luật Hợp tác xã 2012 nên sẽ được áp dụng
bằng Khoản 2 của Điều này. Trong cuộc họp diễn ra với sự tham gia của 5 HTX
thành viên, có 5 phiếu biểu quyết có giá trị ngang nhau theo quy định tại Khoản 3,
Điều 34, luật Hợp tác xã 2012 nhưng chỉ có sự biểu quyết tán thành của HTX C và D
tức là chỉ mới có 40% tổng số phiếu đại biểu tán thành. Vì vậy, việc Đại hội thành
viên thông qua quyết định chấm dứt tư cách HTX thành viên của HTX A là sai.
2, Chia và trả nợ cho các chủ nợ theo thủ tục pháp luật hiện hành?
Theo Khoản 1 Điều 4, Luật phá sản 2014 giải thích về Doanh nghiệp, hợp
tác xã mất khả năng thanh toán:
“1. Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp, hợp tác xã
không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán.”
Tình huống đưa ra, ngày 1/1/2018, sau 4 tháng từ ngày đến hạn trả nợ nhưng
Liên hiệp HTX không trả được các khoản nợ. Như vậy thời hạn thực hiện nghĩa vụ
thanh toán khoản nợ của Liên hiệp Hợp tác xã đã quá 03 tháng kể từ ngày đến hạn
thanh toán theo quy định tại Khoản 1, Điều 4, Luật phá sản 2014. Vì thế, Liên hiệp
hợp tác xã đã mất khả năng thanh toán. 14 | P a g e
Giả sử, việc mở thủ tục phá sản của Liên hiệp HTX diễn ra thuận lợi. Tiến hành
chia và trả nợ cho các chủ nợ theo thủ tục pháp luật hiện hành.
Phân chia và trả nợ cho các chủ nợ theo thủ tục pháp luật hiện hành
Theo Khoản 1, Điều 53, Luật phá sản 2014 quy định về Xử lý khoản nợ có bảo đảm:
“1. Sau khi mở thủ tục phá sản, Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản
đề xuất Thẩm phán về việc xử lý khoản nợ có bảo đảm đã được tạm đình chỉ theo quy
định tại khoản 3 Điều 41 của Luật này, Thẩm phán xem xét và xử lý cụ thể như sau:
a) Trường hợp tài sản bảo đảm được sử dụng để thực hiện thủ tục phục hồi kinh
doanh thì việc xử lý đối với tài sản bảo đảm theo Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ;
b) Trường hợp không thực hiện thủ tục phục hồi kinh doanh hoặc tài sản bảo đảm
không cần thiết cho việc thực hiện thủ tục phục hồi kinh doanh thì xử lý theo thời hạn
quy định trong hợp đồng đối với hợp đồng có bảo đảm đã đến hạn. Đối với hợp đồng
có bảo đảm chưa đến hạn thì trước khi tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản,
Tòa án nhân dân đình chỉ hợp đồng và xử lý các khoản nợ có bảo đảm. Việc xử lý
khoản nợ có bảo đảm theo quy định tại khoản 3 Điều này.
2. Trường hợp tài sản bảo đảm có nguy cơ bị phá hủy hoặc bị giảm đáng kể về giá trị
thì Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản đề nghị Thẩm phán cho xử lý
ngay tài sản bảo đảm đó theo quy định tại khoản 3 Điều này.
3. Việc xử lý tài sản bảo đảm theo quy định tại điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều này
được thực hiện như sau:
a) Đối với khoản nợ có bảo đảm được xác lập trước khi Tòa án nhân dân thụ lý đơn
yêu cầu mở thủ tục phá sản được thanh toán bằng tài sản bảo đảm đó;
b) Trường hợp giá trị tài sản bảo đảm không đủ thanh toán số nợ thì phần nợ còn lại
sẽ được thanh toán trong quá trình thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã; nếu
giá trị tài sản bảo đảm lớn hơn số nợ thì phần chênh lệch được nhập vào giá trị tài
sản của doanh nghiệp, hợp tác xã.”
Theo Khoản 6, Điều 4, Luật phá sản 2014 giải thích về Chủ nợ có bảo đảm một phần:
“6. Chủ nợ có bảo đảm một phần là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu
doanh nghiệp, hợp tác xã phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ được bảo đảm
bằng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc của người thứ ba mà giá trị tài sản
bảo đảm thấp hơn khoản nợ đó.” 15 | P a g e
Trong tình huống trên, Liên hiệp HTX nợ ngân hàng X 1 tỷ đồng và đã thế chấp
ô tô 500 triệu. Phần thế chấp ô tô 500 triệu thấp hơn khoản nợ 1 tỷ, được gọi là giá trị
tài sản bảo đảm. Như vậy, theo quy định tại Điều 53 Luật phá sản 2014 thì việc xử lý
khoản nợ có bảo đảm sẽ được thực hiện đầu tiên sau khi mở thủ tục phá sản. Tức là,
Liên hiệp HTX đã thế chấp chiếc ô tô 500 triệu trong khoản nợ ngân hàng X thì phần
500 triệu đó sẽ được thanh toán đầu tiên sau khi Liên hợp tác xã mở thủ tục phá sản.
Còn lại 500 triệu trong khoản nợ với ngân hàng X sẽ được xử lý theo điểm b Khoản 3
Điều 53 Luật phá sản 2014: được thanh toán trong quá trình thanh lý tài sản của hợp tác xã.
Tổng tài sản mà Liên hiệp HTX còn lại sau mở thủ tục phá sản
Theo Điểm a, Khoản 1 và Khoản 2 Điều 48, Luật phá sản 2014 quy định về
hoạt động của doanh nghiệp, hợp tác xã bị cấm sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản:
“1. Sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản, cấm doanh nghiệp, hợp tác xã thực hiện các hoạt động sau:
a) Cất giấu, tẩu tán, tặng cho tài sản...”
“2. Giao dịch quy định tại khoản 1 điều này là vô hiệu và xử lý theo quy định tại Điều 60 của Luật này.”
Như vậy việc Liên hiệp tăng bạn hàng là công ty H 100 triệu để mừng khai
trương chi nhánh mới 1 tháng sau khi mở thủ tục phá sản sẽ bị vô hiệu theo quy định của pháp luật.
Theo điểm a và điểm e Khoản 1, Điều 64, Luật phá sản 2014 quy định về
Tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán:
“1. Tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán gồm:
a) Tài sản và quyền tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã có tại thời điểm Tòa án nhân
dân quyết định mở thủ tục phá sản;
d) Giá trị quyền sử dụng đất của doanh nghiệp, hợp tác xã được xác định theo quy
định của pháp luật về đất đai;
e) Tài sản và quyền tài sản có được do thu hồi từ giao dịch vô hiệu;”
Như vậy, tổng tài sản mà Liên hiệp HTX còn lại sau mở thủ tục phá sản = 500
triệu (tài sản còn lại chưa tính tài sản thế chấp) + 100 triệu (tài sản có được do thu hồi
từ giao dịch vô hiệu) = 600 triệu đồng.
Theo Khoản 1, Điều 54, Luật phá sản 2014 quy định về Thứ tự phân chia tài sản: 16 | P a g e
“1. Trường hợp Thẩm phán ra quyết định tuyên bố phá sản thì tài sản của doanh
nghiệp, hợp tác xã được phân chia theo thứ tự sau: a) Chi phí phá sản;
b) Khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với người lao
động, quyền lợi khác theo hợp đồng lao động và thỏa ước lao động tập thể đã ký kết;
c) Khoản nợ phát sinh sau khi mở thủ tục phá sản nhằm mục đích phục hồi hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã;
d) Nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước; khoản nợ không có bảo đảm phải trả cho chủ
nợ trong danh sách chủ nợ; khoản nợ có bảo đảm chưa được thanh toán do giá trị tài
sản bảo đảm không đủ thanh toán nợ.”
Theo đó, thứ tự phân chia tài sản của HTX là: Số tài sản còn lại đầu tiên được
phân chia cho khoản nợ chi phí tài sản 100 triệu, sau đó phân chia tiếp cho khoản nợ
lương lao động chi nhánh Hòa Bình 200 triệu và cuối cùng là thanh toán cho chủ nợ có
khoản nợ không có bảo đảm và khoản nợ có bảo đảm nhưng chưa được thanh toán hết
do giá trị tài sản bảo đảm không đủ thanh toán nợ. (ngân hàng X).
Theo Khoản 4, Điều 4, Luật phá sản 2014 giải thích về Chủ nợ không có bảo đảm:
“4. Chủ nợ không có bảo đảm là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu doanh
nghiệp, hợp tác xã phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ không được bảo đảm
bằng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc của người thứ ba.”
Như vậy, khoản nợ cá nhân C (cư trú tại Hòa Bình) 2 tỷ và khoản nợ các cá
nhân, tổ chức khác 3,3 tỷ mà liên hiệp HTX nợ là khoản nợ không đảm bảo. Tổng
khoản nợ này là 5,3 tỷ đồng.
Tổng số tiền Liên hiệp HTX còn lại sau khi phân chia cho chi phí phá sản và
khoản nợ lương người lao động là: 600 triệu - 100 triệu - 200 triệu = 300 triệu đồng.
Tổng số tiền Liên hiệp HTX phải trả nợ sau khi đã phân chia cho chi phí phá
sản, khoản nợ lương người lao động là: 5,3 tỷ + 500 triệu = 5,8 tỷ đồng.
-> Giá trị tài sản của liên hiệp HTX không đủ thanh toán các khoản nợ còn lại.
Theo Khoản 3, Điều 54, Luật phá sản 2014 quy định về Thứ tự phân chia tài sản:
“3. Nếu giá trị tài sản không đủ để thanh toán theo quy định tại Khoản 1 Điều này thì
từng đối tượng cùng một thứ tự ưu tiên được thanh toán theo tỷ lệ phần trăm tương ứng với số nợ.”
Các đối tượng còn lại cùng một thứ tự ưu tiên nên sẽ được thanh toán dựa trên
Khoản 3, Điều 54, Luật phá sản 2014. Ta có bảng sau: 17 | P a g e Đối tượng Ngân hàng X Cá nhân C Cá nhân, tổ chức khác
Số nợ của 500 triệu 2 tỷ 3,3 tỷ HTX (x) Tổng số nợ 5,8 tỷ của HTX (y)
Tỷ lệ phần 8,6% 34,5% 56,9% trăm (x/y)
Số tiền HTX 8,6% x 300 triệu = 34,5% x 300 triệu = 56,9% x 300 triệu = phải trả 25,8 triệu đồng 103,5 triệu đồng 170,7 triệu đồng
Như vậy, số tiền HTX phải trả cho từng đối tượng chủ nợ theo quy định pháp luật hiện hành là
Ngân hàng X: 25,8 triệu đồng
Cá nhân C: 103,5 triệu đồng
Cá nhân, tổ chức khác: 170,7 triệu đồng
Phí phá sản: 100 triệu đồng
Khoản nợ lương người lao động: 200 triệu đồng 18 | P a g e Phần 3: Lời kết
Qua bài tiểu luận, nhóm đã đúc kết được những điểm khác biệt đáng lưu ý của
hai loại hình kinh doanh cá thể và hợp tác xã, đưa ra được các so sánh giữa điểm
chung và riêng dựa trên hệ thống luật do nhà nước ban hành. Đồng thời, việc áp dụng
các quy định của Luật Phá sản và Luật Doanh nghiệp, chúng ta đã nhận thấy sự ảnh
hưởng đáng kể của pháp luật đến việc xử lý tình huống trong hai loại hình kinh doanh
này qua ví dụ cụ thể. Luật Phá sản và Luật Doanh nghiệp đã cung cấp khung pháp lý
cho việc quản lý và xử lý các vấn đề phát sinh trong kinh doanh cá thể và hợp tác xã.
Từ những phân tích trên, ta có thể kết luận rằng việc hiểu biết và áp dụng chính
sách pháp luật một cách linh hoạt và hiệu quả là cực kỳ quan trọng đối với cả hai loại
hình kinh doanh. Qua đó, các doanh nghiệp có thể tối ưu hóa quản lý rủi ro và tạo điều
kiện cho sự phát triển bền vững trong môi trường kinh doanh đầy biến động hiện nay.
Kết thúc học phần, nhóm 12 xin gửi lời cảm ơn tới giảng viên Tạ Thị Thùy
Trang vì đã tích cực hướng dẫn và hỗ trợ nhóm trong quá trình
nghiên cứu nội dung và tiếp thu các kiến thức về luật kinh tế trên
giảng đường. Nhóm sẽ tiếp tục áp dụng những kiến thức đã học để
xử lý các tình huống phát sinh trong tương lai. 19 | P a g e