TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
-------- --------
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN LUẬT KINH TẾ 1
Đề tài:
SO SÁNH HỘ KINH DOANH CÁ THỂ VÀ TỔ
HỢP TÁC. GIẢI QUYẾT BÀI TẬP TÌNH
HUỐNG
Nhóm: 8
Lớp học phần: 232_PLAW0321_06
Người hướng dẫn: Tạ Thị Thùy Trang
Hà Nội, tháng 4 năm 2024
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU................................................................................................................3
PHẦN NỘI DUNG............................................................................................................4
CHƯƠNG 1: SO SÁNH HỘ KINH DOANH CÁ THỂ VÀ TỔ HỢP TÁC.................4
I. ĐIỂM GIỐNG NHAU.............................................................................................4
II. ĐIỂM KHÁC NHAU.............................................................................................5
CHƯƠNG 2: PHẦN BÀI TẬP TÌNH HUỐNG...........................................................10
I. QUYẾT ĐỊNH CHẤM DỨT TƯ CÁCH HTX THÀNH VIÊN CỦA HTX A
ĐÚNG HAY SAI? VÌ SAO?.....................................................................................11
II. CHIA VÀ TRẢ NỢ CHO CÁC CHỦ NỢ THEO THỦ TỤC PHÁP LUẬT HIỆN
HÀNH.......................................................................................................................14
III. KẾT LUẬN.........................................................................................................18
PHẦN KẾT LUẬN..........................................................................................................20
TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................................21
2
PHẦN MỞ ĐẦU
Luật kinh tế đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vực kinh tế đời sống hàng ngày
của con người. Nhờ các quy định được ban hành trong lĩnh vực kinh tế, các doanh
nghiệp hoạt động theo đúng quy định của pháp luật, nhà nước phát huy được vai trò chủ
sở hữu của mình. Xác định các tiêu chuẩn, làm tiền đề để doanh nghiệp thực hiện, xác
định các loại hình kinh doanh hợp lý.
Trong thời kỳ đầu của quá trình đổi mới cơ chế kinh tế, pháp luật kinh tế nói chung
và pháp luật về các hình thức tổ chức kinh doanh nói riêng, được xây dựng trên nền tảng
những đặc thù về chính trị, kinh tế hội, tính chất giải pháp tình thế, nhằm giải
quyết những vấn đề bức xúc do thực tiễn kinh doanh đặt ra. Các văn bản pháp luật về
doanh nghiệp ngày càng được gia tăng nhanh chóng cả về số lượng hình thức văn
bản.
Tuy nhiên, các doanh nghiệp tổ chức kinh tế không thể tránh khỏi xảy ra mâu
thuẫn, đa số thường không biết cách giải quyết ngày càng để mâu thuẫn, tranh chấp
nội bộ doanh nghiệp, tranh chấp giữa các thành viên trong công ty ngày càng gay gắt,
ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của công ty, thậm chí là phá sản.
Đề tài của chúng em hôm nay sẽ cho chúng ta thấy rõ sự giống và khác nhau của hộ
kinh doanh thể với tổ hợp tác, đồng thời giải quyết bài tập tình huống dưới đây để
thể hiểu hơn quy định về quản lý, điều hành và tổ chức nội bộ.
3
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: SO SÁNH HỘ KINH DOANH CÁ THỂ VÀ TỔ HỢP TÁC
Căn cứ pháp lý:
- Tổ hợp tác được quy định tại Nghị định số 77/2019/NĐ-CP về tổ hợp tác, Bộ luật
Dân sự 2015;
- Hộ kinh doanh thể được quy định tại các Nghị định số 01/2021/NĐ-CP về
đăng ký doanh nghiệp; Bộ luật dân sự 2015.
I. ĐIỂM GIỐNG NHAU
1. Tư cách pháp nhân
Căn cứ vào Điều 74 Bộ luật dân sự 2015
1. Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Được thành lập theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan;
b) Có cơ cấu tổ chức theo quy định tại Điều 83 của Bộ luật này;
c) Có tài sản độc lập với nhân, pháp nhân khác tự chịu trách nhiệm bằng tài
sản của mình;
d) Nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập.
2. Mọinhân, pháp nhân đềuquyền thành lập pháp nhân, trừ trường hợp luật
có quy định khác."
vậy hộ kinh doanh thể không đáp ứng được các yêu cầu trên nên hộ kinh
doanh cá thể không có tư cách pháp nhân
Căn cứ vào khoản 1 Điều 3 Nghị định số 77/2019/NĐ-CP
“Tổ hợp tác tổ chức không cách pháp nhân, được hình thành trên sở
hợp đồng hợp tác, gồm từ 02 nhân, pháp nhân trở lên tự nguyện thành lập, cùng
đóng góp tài sản, công sức để thực hiện những công việc nhất định, cùng hưởng lợi
cùng chịu trách nhiệm.”
Vì vậy tổ hợp tác không có tư cách pháp nhân
2. Góp vốn điều lệ
Luật không quy định cụ thể về phần vốn phải góp trong hộ kinh doanh thể.
Tức các thành viên trong hộ kinh doanh cá thể tự thỏa thuận với nhau về phần vốn góp.
4
Căn cứ vào khoản 1 Điều 24 Nghị định 77/2019/NĐ-CP
“Các thành viên tổ hợp tác thể đóng góp bằng tài sản, công sức vào tổ hợp tác
tùy theo thỏa thuận tại hợp đồng hợp c. Việc xác định giá trị tài sản công sức của
thành viên tổ hợp tác góp vào tổ hợp tác do các viên tổ hợp tác tự thỏa thuận hoặc do
bên thứ ba tự xác định theo sự ủy quyền của một trăm phần trăm (100%) tổng số thành
viên tổ hợp tác.”
vậy tương tự như hộ kinh doanh thể thì tổ hợp tác phần vốn góp cũng
được tự thỏa thuận giữa các thành viên
3. Đăng ký kinh doanh
Căn cứ vào khoản 1 Điều 87 Nghị định 01/2021/NĐ-CP
“Đăng hộ kinh doanh được thực hiện tại quan đăng kinh doanh cấp
huyện nơi đặt trụ sở kinh doanh.”
vậy hộ kinh doanh thể phải thực hiện thủ tục đăng kinh doanh với
quan nhà nước có thẩm quyền
Căn cứ vào khoản 5 Điều 12 Nghị định 77/2019/NĐ-CP
Ủy ban nhân dân cấp lập sổ theo dõi về việc thành lập hoạt động của tổ
hợp tác trên địa bàn của mình (Mẫu II.01); cập nhật các thay đổi biến động của tổ
hợp tác theo quy định của pháp luật.”
Vì vậy tương tự như hộ kinh doanh cá thể thì tổ hợp tác cũng cần phải thực hiện thủ
tục đăng ký kinh doanh với Cơ quan nhà nước có thẩm quyền tại địa phương
II. ĐIỂM KHÁC NHAU
1. Số lượng thành viên
Căn cứ vào khoản 1 Điều 79 Nghị định số 01/2021/NĐ-CP
“Hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc các thành viên hộ gia đình đăng ký thành lập
chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh của
hộ. Trường hợp các thành viên hộ gia đình đăng kinh doanh thì ủy quyền cho một
thành viên làm đại diện hộ kinh doanh. Cá nhân đăng ký hộ kinh doanh, người được các
thành viên hộ gia đình ủy quyền làm đại diện hộ kinh doanh là chủ hộ kinh doanh.”
Vì vậy hộ kinh doanh cá thể: Từ 1 cá nhân hoặc các thành viên hộ gia đình
Căn cứ vào khoản 1 Điều 3 Nghị định số 77/2019/NĐ-CP
5
“Tổ hợp tác tổ chức không cách pháp nhân, được hình thành trên sở
hợp đồng hợp tác, gồm từ 02 nhân, pháp nhân trở lên tự nguyện thành lập, cùng
đóng góp tài sản, công sức để thực hiện những công việc nhất định, cùng hưởng lợi
cùng chịu trách nhiệm.”
Vì vậy tổ hợp tác có từ 2 cá nhân, pháp nhân trở lên
2. Đối tượng được đăng ký tham gia
Căn cứ vào khoản 1 Điều 80 Nghị định 01/2021/NĐ-CP
“Cá nhân, thành viên hộ gia đình công dân Việt Nam năng lực hành vi dân
sự đầy đủ theo quy định của quyền thành lập hộ kinh doanh, trừ cácBộ luật Dân sự
trường hợp sau đây:
- Người chưa thành niên, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; người bị mất
năng lực hành vi dân sự; người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi;
- Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị tạm giam, đang chấp hành hình
phạt tù, đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở
giáo dục bắt buộc hoặc đang bị Tòa án cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc
làm công việc nhất định;
- Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật có liên quan.”
Vì vậy đối tượng là: Các cá nhân, thành viên hộ gia đình là công dân Việt Nam
Căn cứ vào khoản 1, 2 Điều 7 Nghị định 77/2019/NĐ-CP
“1. nhân công dân Việt Nam, năng lực hành vi dân sự phù hợp theo quy
định từ Điều 16 đến Điều 24 , quy định của phápBộ luật Dân sự Bộ luật Lao động
luật khác có liên quan.
2. Tổ chức là pháp nhân Việt Nam, thành lập và hoạt động theo quy định của pháp
luật Việt Nam, có năng lực pháp luật phù hợp với lĩnh vực kinh doanh của tổ hợp tác.”
vậy đối tượng là: nhân công dân Việt Nam Tổ chức pháp nhân Việt
Nam
3. Người đại diện theo pháp luật
Căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Nghị định số 01/2021/NĐ-CP
6
“Chủ hộ kinh doanh đại diện cho hộ kinh doanh với cách người yêu cầu giải
quyết việc dân sự, nguyên đơn, bị đơn, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước
Trọng tài, Tòa án và các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.”
Vì vậy người đại diện là: Chủ hộ kinh doanh
Căn cứ vào khoản 4 Điều 18 Nghị định 77/2019/NĐ-CP
“Tổ trưởng tổ hợp tác người đại diện xác lập, thực hiện giao dịch khi được các
thành viên tổ hợp tác ủy quyền theo quy định tại Điều 16 Nghị định này.”
Vì vậy người đại diện là: Tổ trưởng tổ hợp tác
4. Thời gian đăng ký thành lập
Căn cứ vào khoản 3 Điều 87 Nghị định số 01/2021/NĐ-CP
“Khi tiếp nhận hồ sơ, Cơ quan đăngkinh doanh cấp huyện trao Giấy biên nhận
cấp Giấy chứng nhận đăng hộ kinh doanh cho hộ kinh doanh trong thời hạn 03
ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ hợp lệ.”
vậy được cấp giấy chứng nhận đăng hộ kinh doanh sau 3 ngày kể từ ngày
nhận hồ sơ hợp lệ
Căn cứ vào khoản 3 Điều 12 Nghị định 77/2019/NĐ-CP
“Sau khi các thành viên tổ hợp tác tên vào hợp đồng hợp tác, tổ trưởng tổ hợp
tác gửi thông báo về việc thành lập tổ hợp tác (Mẫu I.01) kèm theo hợp đồng hợp tác
(Mẫu I.02) đến Ủy ban nhân dân cấp nơi tổ hợp tác dự định thành lập hoạt động
trong thời hạn 05 ngày làm việc.”
vậy thời gian được cấp giấy chứng nhận lâu hơn so với đăng hộ kinh doanh
cá thể
5. Trách nhiệm tài sản
Căn cứ vào khoản 1 Điều 79 Nghị định 01/2021/NĐ-CP
“Hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc các thành viên hộ gia đình đăng ký thành lập
chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh của
hộ. Trường hợp các thành viên hộ gia đình đăng kinh doanh thì ủy quyền cho một
thành viên làm đại diện hộ kinh doanh. Cá nhân đăng ký hộ kinh doanh, người được các
thành viên hộ gia đình ủy quyền làm đại diện hộ kinh doanh là chủ hộ kinh doanh.”
7
Vì vậy hộ kinh doanh cá thể phải chịu trách nhiệm vô hạn (bằng toàn bộ tài sản của
mình)
Căn cứ vào Điều 509 Bộ Luật Dân sự 2015
“Các thành viên hợp tác chịu trách nhiệm dân sự chung bằng tài sản chung; nếu
tài sản chung không đủ để thực hiện nghĩa vụ chung thì thành viên hợp tác phải chịu
trách nhiệm bằng tài sản riêng theo phần tương ứng với phần đóng góp của mình, trừ
trường hợp hợp đồng hợp tác hoặc luật có quy định khác.”
vậy thành viên tổ hợp tác sẽ chịu trách nhiệm dân sự chung bằng tài sản chung.
Tuy nhiên, nếu tài sản chung không đủ để thực hiện nghĩa vụ chung thì thành viên hợp
tác phải chịu trách nhiệm bằng tài sản riêng theo phần tương ứng với phần đóng góp của
mình, trừ trường hợp hợp đồng hợp tác hoặc luật có quy định khác.
6. Quyền hạn quyết định của các thành viên
Đối với hộ kinh doanh cá thể thì Luật không có quy định cụ thể. Mà dựa theo chủ
kinh doanh hoặc dựa theo thỏa thuận giữa các thành viên trong hộ gia đình
Căn cứ vào khoản 2 Điều 8 Nghị định 77/2019/NĐ-CP
“Tham gia quyết định các vấn đề liên quan đến việc thực hiện hợp đồng hợp tác,
quản lý, giám sát hoạt động của tổ hợp tác.”
Vì vậy có quyền quyết định các vấn đề lớn
8
TỔNG KẾT ĐIỂM GIỐNG VÀ KHÁC NHAU CỦA HỘ KINH DOANH THỂ
VÀ TỔ HỢP TÁC
Hộ kinh doanh cá thể Tổ hợp tác
Điểm giống nhau
- Tư cách pháp nhân: Đều không có tư cách pháp
nhân
- Góp vốn điều lệ: Phần vốn góp được tự thỏa thuận
giữa các thành viên
- Đăng ký kinh doanh: Phải thực hiện thủ tục đăng ký
kinh doanh với Cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Điểm
khác
nhau
- Số lượng thành
viên
Từ 1 cá nhân hoặc các
thành viên hộ gia đình
Từ 2 nhân, pháp nhân
trở lên
- Đối tượng được
đăng ký tham gia
Các nhân, thành viên
hộ gia đình công dân
Việt Nam
nhân công dân Việt
Nam Tổ chức pháp
nhân Việt Nam
- Người đại diện
theo pháp luật
Chủ hộ kinh doanh Tổ trưởng tổ hợp tác
- Thời gian đăng
ký thành lập
Sau 3 ngày kể từ ngày
nhận hồ sơ hợp lệ
Trong thời hạn 05 ngày
làm việc
- Trách nhiệm tài
sản
C Chịu trách nhiệm vô hạn hịu trách nhiệm dân sự
chung bằng tài sản chung
- Quyền hạn quyết
định của các thành
viên
Luật không có quy định
cụ thể
Có quyền quyết định các
vấn đề lớn
9
CHƯƠNG 2: PHẦN BÀI TẬP TÌNH HUỐNG
Liên hiệp Hợp tác ABCDEF được thành lập vào tháng 8 năm 2017 với ngành
nghề sản xuất, kinh doanh đồ thủ công mỹ nghệ; bao gồm 06 Hợp tác thành viên là:
A, B, C, D, E, F.
Ngày 06/12/2017, do nhận thấy Hợp tác A không thực hiện nghĩa vụ góp vốn
như đã cam kết nên HTX B HTX C đã yêu cầu Hội đồng quản trị Liên hiệp HTX
triệu tập đại hội thành viên bất thường để quyết định việc chấm dứt cách HTX thành
viên của HTX A. Tuy nhiên, cho rằng vấn đề này không thuộc thẩm quyền của Đại hội
thành viên Liên hiệp HTX nên Hội đồng quản trị liên hiệp HTX đã không triệu tập theo
yêu cầu.
Ngày 15/12/2017; Ban kiểm soát Liên hiệp HTX đã đứng ra triệu tập Đại hội thành
viên. Đại hội thành viên diễn ra với sự tham gia của 5 HTX thành viên là: B, D, C, E, F.
Đại hội thành viên đã thông qua quyết định chấm dứtcách HTX thành viên của HTX
A với sự biểu quyết tán thành của HTX C và D.
Liên hiệp Hợp tác ABCDEF sau đó liên tiếp gặp khó khăn trong kinh doanh.
Ngày 1/1/2018, sau 4 tháng từ ngày đến hạn trả nợ nhưng Liên hiệp HTX không trả
được các khoản nợ như sau:
- Nợ ngân hàng X (tỉnh Hòa Bình) 1 tỷ (thế chấp ô tô 500 triệu)
- Nợ cá nhân C (cư trú tại Hòa Bình) 2 tỷ
- Nợ lương người lao động chi nhánh Hòa Bình 200 triệu
Ngoài ra, liên hiệp hợp tác còn nợ 3,3 tỷ của các nhân, tổ chức khác nhưng
chưa đến hạn trả nợ. Phí phá sản 100 triệu. Thêm vào đó, 1 tháng sau khi mở thủ tục phá
sản Liên hiệp tặng bạn hàng công ty H 100 triệu để mừng khai trương chi nhánh mới.
Tài sản còn của liên hiệp HTX thời điểm này là 500 triệu (chưa gồm TS thế chấp).
1, Quyết định chấm dứt cách HTX thành viên của HTX A đúng hay sai ?
sao ?
2, Chia và trả nợ cho các chủ nợ theo thủ tục pháp luật hiện hành
10
I. QUYẾT ĐỊNH CHẤM DỨT CÁCH HTX THÀNH VIÊN CỦA HTX A
ĐÚNG HAY SAI? VÌ SAO?
Quyết định chấm dứt tư cách HTX thành viên của HTX A là sai. Vì:
1. TH1: HTX A chưa hết thời hạn góp vốn theo quy định
Căn cứ khoản 3 Điều 17 Luật hợp tác 2012: “Thời hạn, hình thức mức góp
vốn điều lệ theo quy định của điều lệ, nhưng thời hạn góp đủ vốn không vượt quá 06
tháng, kể từ ngày hợp tác xã, liên hiệp hợp tác được cấp giấy chứng nhận đăng
hoặc kể từ ngày được kết nạp.”
vậy, kể từ thời điểm Liên hiệp HTX được thành lập tháng 8/2017 đến thời
điểm ngày 6/12/2017, HTX A vẫn còn thời hạn góp vốn, HTX B C không căn cứ
để yêu cầu triệu tập Đại hội thành viên để chấm dứt tư cách HTX thành viên của A.
2. TH2: HTX A đã hết thời hạn góp vốn theo như cam kết góp đủ vốn
Căn cứ vào khoản 3 Điều 17 Luật hợp tác 2012 về việc Góp vốn điều lệ giấy
chứng nhận vốn góp: “Thời hạn, hình thức mức góp vốn điều lệ theo quy định của
điều lệ, nhưng thời hạn góp đủ vốn không vượt quá 06 tháng, kể từ ngày hợp tác xã, liên
hiệp hợp tác xã được cấp giấy chứng nhận đăng ký hoặc kể từ ngày được kết nạp.”
Căn cứ vào điểm g khoản 1 Điều 16 về việc Chấm dứt cách thành viên, hợp tác
xã thành viên:
“1. Tư cách thành viên, hợp tác xã thành viên bị chấm dứt khi xảy ra một trong các
trường hợp sau đây:
g) Tại thời điểm cam kết góp đủ vốn, thành viên, hợp tác thành viên không góp
vốn hoặc góp vốn thấp hơn vốn góp tối thiểu quy định trong điều lệ”
Vì vậy, có thể trong trường hợp này HTX B và C có đủ căn cứ để yêu cầu Hội đồng
quản trị Liên hiệp HTX triệu tập đại hội thành viên bất thường để quyết định việc chấm
dứt tư cách HTX thành viên của HTX A.
a) Căn cứ để yêu cầu chấm dứt tư cách HTX của A
Căn cứ vào khoản 16 Điều 32 Luật hợp tác 2012 quy định về Quyền hạn
nghĩa vụ của Đại hội thành viên:“Chấm dứt cách thành viên, hợp tác thành viên
theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 16 của Luật này” và điểm b khoản 2 Điều 16 quy
định về Thẩm quyền quyết định chấm dứt cách thành viên, hợp tác thành viên:
Đối với trường hợp quy định tại điểm đ, g h khoản 1 Điều này thì hội đồng quản trị
11
trình đại hội thành viên quyết định sau khi ý kiến của ban kiểm soát hoặc kiểm soát
viên.” đối với trường hợp trong bài thì hợp tác A không thực hiện nghĩa vụ góp
vốn như đã cam kết vậy HTX A sẽ bị chấm dứt cách thành viên căn cứ vào điểm g
khoản 1 Điều 16: “Tại thời điểm cam kết góp đủ vốn, thành viên, hợp tác thành viên
không góp vốn hoặc góp vốn thấp hơn vốn góp tối thiểu quy định trong điều lệ”
Vì vậy Đại hội thành viên có quyền chấm dứt tư cách HTX thành viên của HTX A
b) Tổ chức cuộc họp
* Thời gian tổ chức cuộc họp
Ngày 15/12/2017, Ban kiểm soát Liên hiệp HTX đã đứng ra triệu tập Đại hội thành
viên. Căn cứ vào khoản 3 Điều 31 Luật Hợp tác 2012:Trường hợp quá thời hạn 15
ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị của ban kiểm soát, kiểm soát viên hoặc đề nghị của
ít nhất một phần ba tổng số thành viên, hợp tác thành viên hội đồng quản trị
không triệu tập đại hội thành viên bất thường hoặc quá 03 tháng, kể từ ngày kết thúc
năm tài chính hội đồng quản trị không triệu tập đại hội thường niên thì ban kiểm
soát hoặc kiểm soát viên có quyền triệu tập đại hội thành viên.
Tuy nhiên, ngày 15/12/2017, Ban kiểm soát Liên hiệp HTX đã đứng ra triệu tập
Đại hội thành viên, thời hạn cách 9 ngày (theo quy định phải quá 15 ngày) kể từ ngày
06/12/2017 nhận được đề nghị của ít nhất một phần ba tổng số thành viên, hợp tác
thành viên mà hội đồng quản trị không triệu tập đại hội thành viên bất thường.
Vì vậy thời gian diễn ra cuộc họp là sai quy định.
* Quyền triệu tập
Quyền triệu tập của Ban kiểm soát Liên hiệp HTX:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 31 Luật Hợp tác 2012: “Trường hợp quá thời hạn 15
ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị của ban kiểm soát, kiểm soát viên hoặc đề nghị của
ít nhất một phần ba tổng số thành viên, hợp tác thành viên hội đồng quản trị
không triệu tập đại hội thành viên bất thường hoặc quá 03 tháng, kể từ ngày kết thúc
năm tài chính hội đồng quản trị không triệu tập đại hội thường niên thì ban kiểm
soát hoặc kiểm soát viên có quyền triệu tập đại hội thành viên.”
Tuy nhiên, ngày 15/12/2017 Ban kiểm soát Liên hiệp HTX đã đứng ra triệu tập Đại
hội thành viên, thời hạn cách 9 ngày (chưa quá 15 ngày như trong quy định) kể từ ngày
06/12/2017 nhận được đề nghị của ít nhất một phần ba tổng số thành viên, hợp tác
12
thành viên hội đồng quản trị không triệu tập đại hội thành viên bất thường (ở đây
chính HTX B HTX C - chiếm 1/3 tổng số hợp tác thành viên, có quyền yêu cầu
Hội đồng quản trị Liên hiệp HTX triệu tập đại hội thành viên bất thường để quyết định
việc chấm dứt cách HTX thành viên của HTX A được quy định tại Khoản 7 Điều 14
về Quyền của hợp tác thành viên:Kiến nghị, yêu cầu hội đồng quản trị, giám đốc
(tổng giám đốc), ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên giải trình về hoạt động của hợp tác
xã, liên hiệp hợp tác xã; yêu cầu hội đồng quản trị, ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên
triệu tập đại hội thành viên bất thường theo quy định của Luật này điều lệ.” Trong
khi đó Hội đồng quản trị liên hiệp HTX cho rằng vấn đề này không thuộc thẩm quyền
của Đại hội thành viên Liên hiệp HTX nên họ đã không triệu tập theo yêu cầu.
Vì vậy việc triệu tập Đại hội thành viên của Ban kiểm soát là sai quy định.
* Điều kiện tiến hành
Đại hội thành viên diễn ra với sự tham gia của 5 HTX thành viên B, D, C, E, F.
Đại hội thành viên thông qua quyết định chấm dứt HTX A với biểu quyết tán thành của
hợp tác C D. Căn cứ vào khoản 6 Điều 31 Luật Hợp tác 2012:Đại hội thành
viên được tiến hành khi ít nhất 75% tổng số thành viên, hợp tác thành viên hoặc
đại biểu thành viên tham dự; trường hợp không đủ số lượng thành viên thì phải hoãn
đại hội thành viên.”
Vì vậy số lượng thành viên tham gia dự họp là hợp lệ.
* Biểu quyết
Căn cứ vào khoản 1,2 Điều 34 Luật Hợp tác xã 2012:
“1. Các nội dung sau đây được đại hội thành viên thông qua khi ít nhất 75%
tổng số đại biểu có mặt biểu quyết tán thành:
a) Sửa đổi, bổ sung điều lệ;
b) Chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, giải thể, phá sản hợp tác xã, liên hiệp hợp tác
xã;
c) Đầu hoặc bán tài sản giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản
được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã.
2. Các nội dung không thuộc quy định tại khoản 1 Điều này được thông qua khi có
trên 50% tổng số đại biểu biểu quyết tán thành.”
13
vậy, việc Đại hội thành viên đã thông qua quyết định chấm dứt cách HTX
thành viên của HTX A với sự biểu quyết tán thành của HTX C, D là sai quy định bởi chỉ
có 40% tổng số đại biểu tán thành (bao gồm HTX C và HTX D)
II. CHIA TRẢ NỢ CHO CÁC CHỦ NỢ THEO THỦ TỤC PHÁP LUẬT
HIỆN HÀNH
Liên hiệp Hợp tác ABCDEF sau đó liên tiếp gặp khó khăn trong kinh doanh.
Ngày 1/1/2018, sau 4 tháng từ ngày đến hạn trả nợ nhưng Liên hiệp HTX không trả
được các khoản nợ như sau:
- Nợ ngân hàng X (tỉnh Hòa Bình) 1 tỷ (thế chấp ô tô 500 triệu)
- Nợ cá nhân C (cư trú tại Hòa Bình) 2 tỷ
- Nợ lương người lao động chi nhánh Hòa Bình 200 triệu
Ngoài ra, liên hiệp hợp tác còn nợ 3,3 tỷ của các nhân, tổ chức khác nhưng
chưa đến hạn trả nợ. Phí phá sản 100 triệu. Thêm vào đó, 1 tháng sau khi mở thủ tục phá
sản Liên hiệp tặng bạn hàng công ty H 100 triệu để mừng khai trương chi nhánh mới.
Tài sản còn của liên hiệp HTX thời điểm này là 500 triệu (chưa gồm tài sản thế chấp).
Căn cứ khoản 1, 2 Điều 4 Luật phá sản số 51/2014/QH13:
“1. Doanh nghiệp, hợp tác mất khả năng thanh toán doanh nghiệp, hợp tác
không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày
đến hạn thanh toán.
2. Phá sản tình trạng doanh nghiệp, hợp tác mất khả năng thanh toán bị
Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản.”
Liên hiệp HTX đã không trả được các khoản nợ trong 4 tháng, quá thời hạn 3 tháng
theo quy định. vậy, phải tiến hành chia trả nợ cho các chủ nợ theo thủ tục pháp
luật hiện hành.
1. Xác định tài sản của Liên hiệp hợp tác xã
- Căn cứ vào điểm a khoản 1 khoản 2 Điều 48 Luật phá sản 2014 quy định về
Hoạt động của doanh nghiệp, hợp tác bị cấm sau khi quyết định mở thủ tục phá
sản:
“1. Sau khi quyết định mở thủ tục phá sản, cấm doanh nghiệp, hợp tác thực
hiện các hoạt động sau:
14
a) Cất giấu, tẩu tán, tặng cho tài sản
2. Giao dịch quy định tại khoản 1 Điều này hiệu xử theo quy định tại
Điều 60 của Luật này.”
Qua đây, nhận thấy việc Liên hiệp HTX tặng bạn hàng công ty H 100 triệu để
mừng khai trương chi nhánh mới sau khi mở thủ tục phá sản 1 tháng sẽ bị hiệu theo
như quy định của pháp luật.
- Căn cứ vào điểm a và điểm e khoản 1 Điều 64 Luật phá sản 2014 quy định về Tài
sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán:
“1. Tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán gồm:
a) Tài sản quyền tài sản doanh nghiệp, hợp tác tại thời điểm Tòa án
nhân dân quyết định mở thủ tục phá sản;
e) Tài sản và quyền tài sản có được do thu hồi từ giao dịch vô hiệu.”
Do đó, tổng tài sản = 500 triệu (tài sản hiện có chưa tính tài sản thế chấp) + 100
triệu (có được do giao dịch vô hiệu) = 600 triệu.
vậy, tài sản còn lại của Liên hiệp 500 triệu tài sản được do thu hồi từ
giao dịch hiệu bên trên 100 triệu. Tổng tài sản của Liên hiệp tính đến thời điểm
này là 600 triệu.
2. Xác định số nợ
Căn cứ khoản 6 Điều 4: “Chủ nợ bảo đảm một phần nhân, quan, tổ
chức quyền yêu cầu doanh nghiệp, hợp tác phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán
khoản nợ được bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp, hợp táchoặc của người thứ
ba mà giá trị tài sản bảo đảm thấp hơn khoản nợ đó.”
Và căn cứ vào Điều 53 Luật phá sản 2014 quy định về Xử lý khoản nợ có đảm bảo:
“1. Sau khi mở thủ tục phá sản, Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh tài
sản đề xuất Thẩm phán về việc xử khoản nợ bảo đảm đã được tạm đình chỉ theo
quy định tại khoản 3 Điều 41 của Luật này, Thẩm phán xem xét và xử lý cụ thể như sau:
a) Trường hợp tài sản bảo đảm được sử dụng để thực hiện thủ tục phục hồi kinh
doanh thì việc xử lý đối với tài sản bảo đảm theo Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ;
b) Trường hợp không thực hiện thủ tục phục hồi kinh doanh hoặc tài sản bảo đảm
không cần thiết cho việc thực hiện thủ tục phục hồi kinh doanh thì xử theo thời hạn
15
quy định trong hợp đồng đối với hợp đồng có bảo đảm đã đến hạn. Đối với hợp đồng có
bảo đảm chưa đến hạn thì trước khi tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản, Tòa án
nhân dân đình chỉ hợp đồng xử các khoản nợ bảo đảm. Việc xử khoản nợ
bảo đảm theo quy định tại khoản 3 Điều này.
2. Trường hợp tài sản bảo đảm nguy bị phá hủy hoặc bị giảm đáng kể về giá
trị thì Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh tài sản đề nghị Thẩm phán cho xử
lý ngay tài sản bảo đảm đó theo quy định tại khoản 3 Điều này.
3. Việc xử tài sản bảo đảm theo quy định tại điểm b khoản 1 khoản 2 Điều
này được thực hiện như sau:
a) Đối với khoản nợ bảo đảm được xác lập trước khi Tòa án nhân dân thụ
đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản được thanh toán bằng tài sản bảo đảm đó;
b) Trường hợp giá trị tài sản bảo đảm không đủ thanh toán số nợ thì phần nợ còn
lại sẽ được thanh toán trong quá trình thanh tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã;
nếu giá trị tài sản bảo đảm lớn hơn số nợ thì phần chênh lệch được nhập vào giá trị tài
sản của doanh nghiệp, hợp tác xã.”
Trong bài trên, ngân hàng X thuộc trường hợp chủ nợ đảm bảo một phần do
Liên hiệp HTX đã thế chấp tài sản là 500 triệu nhỏ hơn khoản nợ ngân hàng X, nói cách
khác trong trường hợp này giá trị tài sản đảm bảo không đủ để thanh toán hết nợ nên
khoản nợ còn lại sẽ được thanh toán trong quá trình thanh tài sản của HTX theo điểm
b khoản 3 Điều 53 Luật phá sản 2014.
Cụ thể: Liên hiệp HTX nợ ngân hàng X 1 tỷ (thế chấp ô 500 triệu) vậy nên sẽ
được thanh toán 500 triệu bằng tài sản đã thế chấp trước đó, còn lại 500 triệu sau sẽ
được thanh toán trong quá trình thanh lý tài sản của Liên hiệp HTX.
Vậy Liên hiệp còn nợ các khoản như sau:
- Nợ ngân hàng X 500 triệu
- Nợ cá nhân C 2 tỷ
- Nợ lương người lao động chi nhánh Hòa Bình 200 triệu
- Nợ các cá nhân, tổ chức khác nhưng chưa đến hạn trả nợ là 3,3 tỷ.
Tổng số tiền HTX còn nợ = 500 triệu + 2 tỷ + 200 triệu + 3,3 tỷ = 6 tỷ
16
3. Thanh lý tài sản
Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 54 Luật Phá sản 2014 về Thứ tự phân chia tài sản:
“1. Trường hợp Thẩm phán ra quyết định tuyên bố phá sản thì tài sản của doanh
nghiệp, hợp tác xã được phân chia theo thứ tự sau:
a) Chi phí phá sản;
b) Khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với người
lao động, quyền lợi khác theo hợp đồng lao động thỏa ước lao động tập thể đã
kết;
c) Khoản nợ phát sinh sau khi mở thủ tục phá sản nhằm mục đích phục hồi hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã;
d) Nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước; khoản nợ không bảo đảm phải trả cho
chủ nợ trong danh sách chủ nợ; khoản nợ bảo đảm chưa được thanh toán do giá trị
tài sản bảo đảm không đủ thanh toán nợ…
3. Nếu giá trị tài sản không đủ để thanh toán theo quy định tại khoản 1 Điều này
thì từng đối tượng cùng một thứ tự ưu tiên được thanh toán theo tỷ lệ phần trăm tương
ứng với số nợ.”
Căn cứ vào khoản 1 Điều 54 Luật phá sản trên, thì Liên hiệp phải chia số tài sản
còn lại của mình cho chi phí phá sản là 100 triệu đồng được đề cập đến trong tình huống
trên. Sau đó khoản nợ lương người lao động, Liên hiệp HTX phải chia tài sản cho nợ
lương người lao động chi nhánh Hòa Bình là 200 triệu.
vậy, tài sản còn lại của Liên hiệp hợp tác là 600 triệu 100 triệu 200 triệu
= 300 triệu.
Cuối cùng thanh toán cho chủ nợ khoản nợ không bảo đảm khoản nợ
bảo đảm nhưng chưa được thanh toán hết (ngân hàng X).
Căn cứ vào khoản 4 Điều 4 Luật Phá sản 2014 giải thích về Chủ nợ không bảo
đảm: “Chủ nợ không bảo đảm nhân, quan, tổ chức quyền yêu cầu doanh
nghiệp, hợp tác phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ không được bảo đảm
bằng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc của người thứ ba.”
Do đó, khoản nợ nhân C khoản nợ của các nhân, tổ chức khác Liên
hiệp HTX nợ là khoản nợ không bảo đảm.
17
Do giá trị tài sản không đủ thanh toán các khoản nợ còn lại nên căn cứ vào khoản 3
Điều 54 Luật phá sản 2014 thì từng đối tượng cùng một thứ tự ưu tiên được thanh toán
theo tỷ lệ phần trăm tương ứng với số nợ.
Ta có:
Ngân hàng X Cá nhân C Cá nhân, tổ chức khác
Số nợ 500 triệu 2 tỷ 3,3 tỷ
Tổng số nợ 5,8 tỷ
Phần trăm tương ứng 8,6% 34,5% 56,9%
Số tiền phải trả 8,6% x 300 triệu 34,5% x 300 triệu 56,9% x 300 triệu
25,8 triệu 103,5 triệu 170,7 triệu
Như vậy, sau khi xử lý thanh lý tài sản:
- Ngân hàng X sẽ đòi lại được 25,8 triệu, cùng chiếc ô tô có giá trị 500 triệu
- Cá nhân C đòi lại được 103,5 triệu
- Cá nhân, tổ chức khác đòi lại được 170,7 triệu
- Người lao động ở chi nhánh Hòa Bình nhận lại 200 triệu
III. KẾT LUẬN
Trong bài tập trên, chúng ta đã xem xét hai phần chính:
Quy trình chấm dứt tư cách hợp tác xã (HTX) thành viên của HTX A:
- Trong trường hợp HTX A chưa hết thời hạn góp vốn theo quy định, việc chấm
dứt cách HTX thành viên của HTX A không hợp lệ. Nếu HTX A đã hết thời hạn
góp vốn như cam kết, quyết định chấm dứt cách thành viên cần thông qua đúng thủ
tục quy định, bao gồm triệu tập Đại hội thành viên và biểu quyết đúng cách.
- Trong trường hợp quyết định chấm dứt cách HTX thành viên của HTX A đã
được thông qua, nhưng việc triệu tập Đại hội thành viên không tuân thủ quy định, thì
quyết định đó cũng là không hợp lệ.
18
Quy trình phá sản và thanh toán nợ của Liên hiệp HTX ABCDEF:
- Liên hiệp HTX đã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ trong thời
hạn, do đó, quá trình phá sản là bước tiếp theo.
- Đối với tình hình phá sản, Liên hiệp HTX cần tuân thủ quy trình pháp lý. Việc
xác định tài sản, xử lý nợ phải được thực hiện theo quy định của Luật Phá sản 2014.
- Sau khi xác định tài sản các khoản nợ, quy trình thanh toán nợ phải tuân thủ
các quy định pháp luật, bao gồm ưu tiên thanh toán theo thứ tự quy định xử các
khoản nợ có bảo đảm.
- Trong trường hợp giá trị tài sản không đủ để thanh toán các khoản nợ, quy trình
phá sản phải tiếp tục theo quy định, bảo đảm quyền lợi của tất cả các bên liên quan.
Tổng kết lại, việc tuân thủ quy trình quy định pháp luật rất quan trọng
trong cả hai tình huống, giúp bảo vệ quyền lợi ích của các bên liên quan duy trì
tính công bằng và minh bạch trong quản lý và giải quyết tranh chấp của các tổ chức hợp
tác xã.
19
PHẦN KẾT LUẬN
Sau một thời gian học và tìm hiểu về bộ môn Luật Kinh Tế, dựa vào những điều đã
học Nhóm 8 chúng em đã áp dụng để đi so sánh hộ kinh doanh thể với tổ hợp tác
giải quyết bài tập tình huống. Từ đó hoàn thành bài thảo luận một cách tốt nhất thể.
kiến thức còn hạn chế nên trong lúc làm bài bài thảo luận không tránh khỏi những
thiếu sót nên Nhóm 8 chúng em mong nhận được sự góp ý từvà các nhóm còn lại để
có thể hoàn thiện một cách tốt hơn.
20

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
----------------
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN LUẬT KINH TẾ 1 Đề tài:
SO SÁNH HỘ KINH DOANH CÁ THỂ VÀ TỔ
HỢP TÁC. GIẢI QUYẾT BÀI TẬP TÌNH HUỐNG Nhóm: 8
Lớp học phần: 232_PLAW0321_06
Người hướng dẫn: Tạ Thị Thùy Trang

Hà Nội, tháng 4 năm 2024 MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU................................................................................................................3
PHẦN NỘI DUNG............................................................................................................4
CHƯƠNG 1: SO SÁNH HỘ KINH DOANH CÁ THỂ VÀ TỔ HỢP TÁC.................4
I. ĐIỂM GIỐNG NHAU.............................................................................................4
II. ĐIỂM KHÁC NHAU.............................................................................................5
CHƯƠNG 2: PHẦN BÀI TẬP TÌNH HUỐNG...........................................................10
I. QUYẾT ĐỊNH CHẤM DỨT TƯ CÁCH HTX THÀNH VIÊN CỦA HTX A
ĐÚNG HAY SAI? VÌ SAO?.....................................................................................11
II. CHIA VÀ TRẢ NỢ CHO CÁC CHỦ NỢ THEO THỦ TỤC PHÁP LUẬT HIỆN
HÀNH.......................................................................................................................14
III. KẾT LUẬN.........................................................................................................18
PHẦN KẾT LUẬN..........................................................................................................20
TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................................21 2 PHẦN MỞ ĐẦU
Luật kinh tế đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vực kinh tế và đời sống hàng ngày
của con người. Nhờ các quy định được ban hành trong lĩnh vực kinh tế, các doanh
nghiệp hoạt động theo đúng quy định của pháp luật, nhà nước phát huy được vai trò chủ
sở hữu của mình. Xác định các tiêu chuẩn, làm tiền đề để doanh nghiệp thực hiện, xác
định các loại hình kinh doanh hợp lý.
Trong thời kỳ đầu của quá trình đổi mới cơ chế kinh tế, pháp luật kinh tế nói chung
và pháp luật về các hình thức tổ chức kinh doanh nói riêng, được xây dựng trên nền tảng
những đặc thù về chính trị, kinh tế – xã hội, có tính chất giải pháp tình thế, nhằm giải
quyết những vấn đề bức xúc do thực tiễn kinh doanh đặt ra. Các văn bản pháp luật về
doanh nghiệp ngày càng được gia tăng nhanh chóng cả về số lượng và hình thức văn bản.
Tuy nhiên, các doanh nghiệp và tổ chức kinh tế không thể tránh khỏi xảy ra mâu
thuẫn, đa số thường không biết cách giải quyết và ngày càng để mâu thuẫn, tranh chấp
nội bộ doanh nghiệp, tranh chấp giữa các thành viên trong công ty ngày càng gay gắt,
ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của công ty, thậm chí là phá sản.
Đề tài của chúng em hôm nay sẽ cho chúng ta thấy rõ sự giống và khác nhau của hộ
kinh doanh cá thể với tổ hợp tác, đồng thời giải quyết bài tập tình huống dưới đây để có
thể hiểu hơn quy định về quản lý, điều hành và tổ chức nội bộ. 3 PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: SO SÁNH HỘ KINH DOANH CÁ THỂ VÀ TỔ HỢP TÁC Căn cứ pháp lý:
- Tổ hợp tác được quy định tại Nghị định số 77/2019/NĐ-CP về tổ hợp tác, Bộ luật Dân sự 2015;
- Hộ kinh doanh cá thể được quy định tại các Nghị định số 01/2021/NĐ-CP về
đăng ký doanh nghiệp; Bộ luật dân sự 2015. I. ĐIỂM GIỐNG NHAU
1. Tư cách pháp nhân
 Căn cứ vào Điều 74 Bộ luật dân sự 2015
1. Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Được thành lập theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan;
b) Có cơ cấu tổ chức theo quy định tại Điều 83 của Bộ luật này;
c) Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình;
d) Nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập.
2. Mọi cá nhân, pháp nhân đều có quyền thành lập pháp nhân, trừ trường hợp luật có quy định khác."
Vì vậy hộ kinh doanh cá thể không đáp ứng được các yêu cầu trên nên hộ kinh
doanh cá thể không có tư cách pháp nhân
 Căn cứ vào khoản 1 Điều 3 Nghị định số 77/2019/NĐ-CP
“Tổ hợp tác là tổ chức không có tư cách pháp nhân, được hình thành trên cơ sở
hợp đồng hợp tác, gồm từ 02 cá nhân, pháp nhân trở lên tự nguyện thành lập, cùng
đóng góp tài sản, công sức để thực hiện những công việc nhất định, cùng hưởng lợi và
cùng chịu trách nhiệm.”

Vì vậy tổ hợp tác không có tư cách pháp nhân
2. Góp vốn điều lệ
 Luật không có quy định cụ thể về phần vốn phải góp trong hộ kinh doanh cá thể.
Tức các thành viên trong hộ kinh doanh cá thể tự thỏa thuận với nhau về phần vốn góp. 4
 Căn cứ vào khoản 1 Điều 24 Nghị định 77/2019/NĐ-CP
“Các thành viên tổ hợp tác có thể đóng góp bằng tài sản, công sức vào tổ hợp tác
tùy theo thỏa thuận tại hợp đồng hợp tác. Việc xác định giá trị tài sản và công sức của
thành viên tổ hợp tác góp vào tổ hợp tác do các viên tổ hợp tác tự thỏa thuận hoặc do
bên thứ ba tự xác định theo sự ủy quyền của một trăm phần trăm (100%) tổng số thành viên tổ hợp tác.”

Vì vậy tương tự như ở hộ kinh doanh cá thể thì ở tổ hợp tác phần vốn góp cũng
được tự thỏa thuận giữa các thành viên
3. Đăng ký kinh doanh
 Căn cứ vào khoản 1 Điều 87 Nghị định 01/2021/NĐ-CP
“Đăng ký hộ kinh doanh được thực hiện tại Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp
huyện nơi đặt trụ sở kinh doanh.”
Vì vậy hộ kinh doanh cá thể phải thực hiện thủ tục đăng ký kinh doanh với Cơ
quan nhà nước có thẩm quyền
 Căn cứ vào khoản 5 Điều 12 Nghị định 77/2019/NĐ-CP
“ Ủy ban nhân dân cấp xã lập sổ theo dõi về việc thành lập và hoạt động của tổ
hợp tác trên địa bàn của mình (Mẫu II.01); cập nhật các thay đổi và biến động của tổ
hợp tác theo quy định của pháp luật.”

Vì vậy tương tự như hộ kinh doanh cá thể thì tổ hợp tác cũng cần phải thực hiện thủ
tục đăng ký kinh doanh với Cơ quan nhà nước có thẩm quyền tại địa phương II. ĐIỂM KHÁC NHAU
1. Số lượng thành viên
 Căn cứ vào khoản 1 Điều 79 Nghị định số 01/2021/NĐ-CP
“Hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc các thành viên hộ gia đình đăng ký thành lập
và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh của
hộ. Trường hợp các thành viên hộ gia đình đăng ký kinh doanh thì ủy quyền cho một
thành viên làm đại diện hộ kinh doanh. Cá nhân đăng ký hộ kinh doanh, người được các
thành viên hộ gia đình ủy quyền làm đại diện hộ kinh doanh là chủ hộ kinh doanh.”

Vì vậy hộ kinh doanh cá thể: Từ 1 cá nhân hoặc các thành viên hộ gia đình
 Căn cứ vào khoản 1 Điều 3 Nghị định số 77/2019/NĐ-CP 5
“Tổ hợp tác là tổ chức không có tư cách pháp nhân, được hình thành trên cơ sở
hợp đồng hợp tác, gồm từ 02 cá nhân, pháp nhân trở lên tự nguyện thành lập, cùng
đóng góp tài sản, công sức để thực hiện những công việc nhất định, cùng hưởng lợi và
cùng chịu trách nhiệm.”

Vì vậy tổ hợp tác có từ 2 cá nhân, pháp nhân trở lên
2. Đối tượng được đăng ký tham gia
 Căn cứ vào khoản 1 Điều 80 Nghị định 01/2021/NĐ-CP
“Cá nhân, thành viên hộ gia đình là công dân Việt Nam có năng lực hành vi dân
sự đầy đủ theo quy định của Bộ luật Dân sự có quyền thành lập hộ kinh doanh, trừ các trường hợp sau đây:
- Người chưa thành niên, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; người bị mất
năng lực hành vi dân sự; người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi;
- Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị tạm giam, đang chấp hành hình
phạt tù, đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở
giáo dục bắt buộc hoặc đang bị Tòa án cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc
làm công việc nhất định;

- Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật có liên quan.”
Vì vậy đối tượng là: Các cá nhân, thành viên hộ gia đình là công dân Việt Nam
 Căn cứ vào khoản 1, 2 Điều 7 Nghị định 77/2019/NĐ-CP
“1. Cá nhân là công dân Việt Nam, có năng lực hành vi dân sự phù hợp theo quy
định từ Điều 16 đến Điều 24 Bộ luật Dân sự, quy định của Bộ luật Lao động và pháp
luật khác có liên quan.
2. Tổ chức là pháp nhân Việt Nam, thành lập và hoạt động theo quy định của pháp
luật Việt Nam, có năng lực pháp luật phù hợp với lĩnh vực kinh doanh của tổ hợp tác.”
Vì vậy đối tượng là: Cá nhân là công dân Việt Nam và Tổ chức là pháp nhân Việt Nam
3. Người đại diện theo pháp luật
 Căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Nghị định số 01/2021/NĐ-CP 6
“Chủ hộ kinh doanh đại diện cho hộ kinh doanh với tư cách người yêu cầu giải
quyết việc dân sự, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước
Trọng tài, Tòa án và các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.”

Vì vậy người đại diện là: Chủ hộ kinh doanh
 Căn cứ vào khoản 4 Điều 18 Nghị định 77/2019/NĐ-CP
“Tổ trưởng tổ hợp tác là người đại diện xác lập, thực hiện giao dịch khi được các
thành viên tổ hợp tác ủy quyền theo quy định tại Điều 16 Nghị định này.”
Vì vậy người đại diện là: Tổ trưởng tổ hợp tác
4. Thời gian đăng ký thành lập
 Căn cứ vào khoản 3 Điều 87 Nghị định số 01/2021/NĐ-CP
“Khi tiếp nhận hồ sơ, Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện trao Giấy biên nhận
và cấp Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh cho hộ kinh doanh trong thời hạn 03
ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ hợp lệ.”

Vì vậy được cấp giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh sau 3 ngày kể từ ngày nhận hồ sơ hợp lệ
 Căn cứ vào khoản 3 Điều 12 Nghị định 77/2019/NĐ-CP
“Sau khi các thành viên tổ hợp tác ký tên vào hợp đồng hợp tác, tổ trưởng tổ hợp
tác gửi thông báo về việc thành lập tổ hợp tác (Mẫu I.01) kèm theo hợp đồng hợp tác
(Mẫu I.02) đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi tổ hợp tác dự định thành lập và hoạt động
trong thời hạn 05 ngày làm việc.”

Vì vậy thời gian được cấp giấy chứng nhận lâu hơn so với đăng ký hộ kinh doanh cá thể
5. Trách nhiệm tài sản
 Căn cứ vào khoản 1 Điều 79 Nghị định 01/2021/NĐ-CP
“Hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc các thành viên hộ gia đình đăng ký thành lập
và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh của
hộ. Trường hợp các thành viên hộ gia đình đăng ký kinh doanh thì ủy quyền cho một
thành viên làm đại diện hộ kinh doanh. Cá nhân đăng ký hộ kinh doanh, người được các
thành viên hộ gia đình ủy quyền làm đại diện hộ kinh doanh là chủ hộ kinh doanh.”
7
Vì vậy hộ kinh doanh cá thể phải chịu trách nhiệm vô hạn (bằng toàn bộ tài sản của mình)
 Căn cứ vào Điều 509 Bộ Luật Dân sự 2015
“Các thành viên hợp tác chịu trách nhiệm dân sự chung bằng tài sản chung; nếu
tài sản chung không đủ để thực hiện nghĩa vụ chung thì thành viên hợp tác phải chịu
trách nhiệm bằng tài sản riêng theo phần tương ứng với phần đóng góp của mình, trừ
trường hợp hợp đồng hợp tác hoặc luật có quy định khác.”

Vì vậy thành viên tổ hợp tác sẽ chịu trách nhiệm dân sự chung bằng tài sản chung.
Tuy nhiên, nếu tài sản chung không đủ để thực hiện nghĩa vụ chung thì thành viên hợp
tác phải chịu trách nhiệm bằng tài sản riêng theo phần tương ứng với phần đóng góp của
mình, trừ trường hợp hợp đồng hợp tác hoặc luật có quy định khác.
6. Quyền hạn quyết định của các thành viên
 Đối với hộ kinh doanh cá thể thì Luật không có quy định cụ thể. Mà dựa theo chủ
kinh doanh hoặc dựa theo thỏa thuận giữa các thành viên trong hộ gia đình
 Căn cứ vào khoản 2 Điều 8 Nghị định 77/2019/NĐ-CP
“Tham gia quyết định các vấn đề liên quan đến việc thực hiện hợp đồng hợp tác,
quản lý, giám sát hoạt động của tổ hợp tác.”
Vì vậy có quyền quyết định các vấn đề lớn 8
TỔNG KẾT ĐIỂM GIỐNG VÀ KHÁC NHAU CỦA HỘ KINH DOANH CÁ THỂ VÀ TỔ HỢP TÁC
Hộ kinh doanh cá thể Tổ hợp tác
- Tư cách pháp nhân: Đều không có tư cách pháp nhân
- Góp vốn điều lệ: Phần vốn góp được tự thỏa thuận Điểm giống nhau giữa các thành viên
- Đăng ký kinh doanh: Phải thực hiện thủ tục đăng ký
kinh doanh với Cơ quan nhà nước có thẩm quyền - Số lượng thành Từ 1 cá nhân hoặc các Từ 2 cá nhân, pháp nhân viên thành viên hộ gia đình trở lên - Đối tượng được
Các cá nhân, thành viên Cá nhân là công dân Việt đăng ký tham gia
hộ gia đình là công dân Nam và Tổ chức là pháp Việt Nam nhân Việt Nam - Người đại diện Chủ hộ kinh doanh Tổ trưởng tổ hợp tác Điểm theo pháp luật khác nhau - Thời gian đăng
Sau 3 ngày kể từ ngày Trong thời hạn 05 ngày ký thành lập nhận hồ sơ hợp lệ làm việc - Trách nhiệm tài
Chịu trách nhiệm vô hạn Chịu trách nhiệm dân sự sản chung bằng tài sản chung
- Quyền hạn quyết Luật không có quy định Có quyền quyết định các
định của các thành cụ thể vấn đề lớn viên 9
CHƯƠNG 2: PHẦN BÀI TẬP TÌNH HUỐNG
Liên hiệp Hợp tác xã ABCDEF được thành lập vào tháng 8 năm 2017 với ngành
nghề sản xuất, kinh doanh đồ thủ công mỹ nghệ; bao gồm 06 Hợp tác xã thành viên là: A, B, C, D, E, F.
Ngày 06/12/2017, do nhận thấy Hợp tác xã A không thực hiện nghĩa vụ góp vốn
như đã cam kết nên HTX B và HTX C đã yêu cầu Hội đồng quản trị Liên hiệp HTX
triệu tập đại hội thành viên bất thường để quyết định việc chấm dứt tư cách HTX thành
viên của HTX A. Tuy nhiên, cho rằng vấn đề này không thuộc thẩm quyền của Đại hội
thành viên Liên hiệp HTX nên Hội đồng quản trị liên hiệp HTX đã không triệu tập theo yêu cầu.
Ngày 15/12/2017; Ban kiểm soát Liên hiệp HTX đã đứng ra triệu tập Đại hội thành
viên. Đại hội thành viên diễn ra với sự tham gia của 5 HTX thành viên là: B, D, C, E, F.
Đại hội thành viên đã thông qua quyết định chấm dứt tư cách HTX thành viên của HTX
A với sự biểu quyết tán thành của HTX C và D.
Liên hiệp Hợp tác xã ABCDEF sau đó liên tiếp gặp khó khăn trong kinh doanh.
Ngày 1/1/2018, sau 4 tháng từ ngày đến hạn trả nợ nhưng Liên hiệp HTX không trả
được các khoản nợ như sau:
- Nợ ngân hàng X (tỉnh Hòa Bình) 1 tỷ (thế chấp ô tô 500 triệu)
- Nợ cá nhân C (cư trú tại Hòa Bình) 2 tỷ
- Nợ lương người lao động chi nhánh Hòa Bình 200 triệu
Ngoài ra, liên hiệp hợp tác xã còn nợ 3,3 tỷ của các cá nhân, tổ chức khác nhưng
chưa đến hạn trả nợ. Phí phá sản 100 triệu. Thêm vào đó, 1 tháng sau khi mở thủ tục phá
sản Liên hiệp tặng bạn hàng là công ty H 100 triệu để mừng khai trương chi nhánh mới.
Tài sản còn của liên hiệp HTX thời điểm này là 500 triệu (chưa gồm TS thế chấp).
1, Quyết định chấm dứt tư cách HTX thành viên của HTX A đúng hay sai ? Vì sao ?
2, Chia và trả nợ cho các chủ nợ theo thủ tục pháp luật hiện hành 10
I. QUYẾT ĐỊNH CHẤM DỨT TƯ CÁCH HTX THÀNH VIÊN CỦA HTX A
ĐÚNG HAY SAI? VÌ SAO?
Quyết định chấm dứt tư cách HTX thành viên của HTX A là sai. Vì:
1. TH1: HTX A chưa hết thời hạn góp v
ốn theo quy định
Căn cứ khoản 3 Điều 17 Luật hợp tác xã 2012: “Thời hạn, hình thức và mức góp
vốn điều lệ theo quy định của điều lệ, nhưng thời hạn góp đủ vốn không vượt quá 06
tháng, kể từ ngày hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã được cấp giấy chứng nhận đăng ký
hoặc kể từ ngày được kết nạp.”

Vì vậy, kể từ thời điểm Liên hiệp HTX được thành lập là tháng 8/2017 đến thời
điểm ngày 6/12/2017, HTX A vẫn còn thời hạn góp vốn, HTX B và C không có căn cứ
để yêu cầu triệu tập Đại hội thành viên để chấm dứt tư cách HTX thành viên của A.
2. TH2: HTX A đã hết thời hạn góp vốn the
o như cam kết góp đủ vốn
Căn cứ vào khoản 3 Điều 17 Luật hợp tác xã 2012 về việc Góp vốn điều lệ và giấy
chứng nhận vốn góp: “Thời hạn, hình thức và mức góp vốn điều lệ theo quy định của
điều lệ, nhưng thời hạn góp đủ vốn không vượt quá 06 tháng, kể từ ngày hợp tác xã, liên
hiệp hợp tác xã được cấp giấy chứng nhận đăng ký hoặc kể từ ngày được kết nạp
.”
Căn cứ vào điểm g khoản 1 Điều 16 về việc Chấm dứt tư cách thành viên, hợp tác xã thành viên:
“1. Tư cách thành viên, hợp tác xã thành viên bị chấm dứt khi xảy ra một trong các
trường hợp sau đây:
g) Tại thời điểm cam kết góp đủ vốn, thành viên, hợp tác xã thành viên không góp
vốn hoặc góp vốn thấp hơn vốn góp tối thiểu quy định trong điều lệ”
Vì vậy, có thể trong trường hợp này HTX B và C có đủ căn cứ để yêu cầu Hội đồng
quản trị Liên hiệp HTX triệu tập đại hội thành viên bất thường để quyết định việc chấm
dứt tư cách HTX thành viên của HTX A.
a) Căn cứ để yêu cầu chấm dứt tư cách HTX của A
Căn cứ vào khoản 16 Điều 32 Luật hợp tác xã 2012 quy định về Quyền hạn và
nghĩa vụ của Đại hội thành viên:“Chấm dứt tư cách thành viên, hợp tác xã thành viên
theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 16 của Luật này
” và điểm b khoản 2 Điều 16 quy
định về Thẩm quyền quyết định chấm dứt tư cách thành viên, hợp tác xã thành viên:
Đối với trường hợp quy định tại điểm đ, g và h khoản 1 Điều này thì hội đồng quản trị 11
trình đại hội thành viên quyết định sau khi có ý kiến của ban kiểm soát hoặc kiểm soát
viên
.” và đối với trường hợp trong bài thì hợp tác xã A không thực hiện nghĩa vụ góp
vốn như đã cam kết vì vậy HTX A sẽ bị chấm dứt tư cách thành viên căn cứ vào điểm g
khoản 1 Điều 16: “Tại thời điểm cam kết góp đủ vốn, thành viên, hợp tác xã thành viên
không góp vốn hoặc góp vốn thấp hơn vốn góp tối thiểu quy định trong điều lệ”

Vì vậy Đại hội thành viên có quyền chấm dứt tư cách HTX thành viên của HTX A
b) Tổ chức cuộc họp
* Thời gian tổ chức cuộc họp
Ngày 15/12/2017, Ban kiểm soát Liên hiệp HTX đã đứng ra triệu tập Đại hội thành
viên. Căn cứ vào khoản 3 Điều 31 Luật Hợp tác xã 2012: “Trường hợp quá thời hạn 15
ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị của ban kiểm soát, kiểm soát viên hoặc đề nghị của
ít nhất một phần ba tổng số thành viên, hợp tác xã thành viên mà hội đồng quản trị
không triệu tập đại hội thành viên bất thường hoặc quá 03 tháng, kể từ ngày kết thúc
năm tài chính mà hội đồng quản trị không triệu tập đại hội thường niên thì ban kiểm
soát hoặc kiểm soát viên có quyền triệu tập đại hội thành viên.

Tuy nhiên, ngày 15/12/2017, Ban kiểm soát Liên hiệp HTX đã đứng ra triệu tập
Đại hội thành viên, thời hạn cách 9 ngày (theo quy định là phải quá 15 ngày) kể từ ngày
06/12/2017 nhận được đề nghị của ít nhất một phần ba tổng số thành viên, hợp tác xã
thành viên mà hội đồng quản trị không triệu tập đại hội thành viên bất thường.
Vì vậy thời gian diễn ra cuộc họp là sai quy định. * Quyền triệu tập
Quyền triệu tập của Ban kiểm soát Liên hiệp HTX:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 31 Luật Hợp tác xã 2012: “Trường hợp quá thời hạn 15
ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị của ban kiểm soát, kiểm soát viên hoặc đề nghị của
ít nhất một phần ba tổng số thành viên, hợp tác xã thành viên mà hội đồng quản trị
không triệu tập đại hội thành viên bất thường hoặc quá 03 tháng, kể từ ngày kết thúc
năm tài chính mà hội đồng quản trị không triệu tập đại hội thường niên thì ban kiểm
soát hoặc kiểm soát viên có quyền triệu tập đại hội thành viên
.”
Tuy nhiên, ngày 15/12/2017 Ban kiểm soát Liên hiệp HTX đã đứng ra triệu tập Đại
hội thành viên, thời hạn cách 9 ngày (chưa quá 15 ngày như trong quy định) kể từ ngày
06/12/2017 nhận được đề nghị của ít nhất một phần ba tổng số thành viên, hợp tác xã 12
thành viên mà hội đồng quản trị không triệu tập đại hội thành viên bất thường (ở đây
chính là HTX B và HTX C - chiếm 1/3 tổng số hợp tác xã thành viên, có quyền yêu cầu
Hội đồng quản trị Liên hiệp HTX triệu tập đại hội thành viên bất thường để quyết định
việc chấm dứt tư cách HTX thành viên của HTX A được quy định tại Khoản 7 Điều 14
về Quyền của hợp tác xã thành viên: “Kiến nghị, yêu cầu hội đồng quản trị, giám đốc
(tổng giám đốc), ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên giải trình về hoạt động của hợp tác
xã, liên hiệp hợp tác xã; yêu cầu hội đồng quản trị, ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên
triệu tập đại hội thành viên bất thường theo quy định của Luật này và điều lệ
.” Trong
khi đó Hội đồng quản trị liên hiệp HTX cho rằng vấn đề này không thuộc thẩm quyền
của Đại hội thành viên Liên hiệp HTX nên họ đã không triệu tập theo yêu cầu.
Vì vậy việc triệu tập Đại hội thành viên của Ban kiểm soát là sai quy định.
* Điều kiện tiến hành
Đại hội thành viên diễn ra với sự tham gia của 5 HTX thành viên là B, D, C, E, F.
Đại hội thành viên thông qua quyết định chấm dứt HTX A với biểu quyết tán thành của
hợp tác xã C và D. Căn cứ vào khoản 6 Điều 31 Luật Hợp tác xã 2012: “Đại hội thành
viên được tiến hành khi có ít nhất 75% tổng số thành viên, hợp tác xã thành viên hoặc
đại biểu thành viên tham dự; trường hợp không đủ số lượng thành viên thì phải hoãn
đại hội thành viên.”

Vì vậy số lượng thành viên tham gia dự họp là hợp lệ. * Biểu quyết
Căn cứ vào khoản 1,2 Điều 34 Luật Hợp tác xã 2012:
“1. Các nội dung sau đây được đại hội thành viên thông qua khi có ít nhất 75%
tổng số đại biểu có mặt biểu quyết tán thành:
a) Sửa đổi, bổ sung điều lệ;
b) Chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, giải thể, phá sản hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã;
c) Đầu tư hoặc bán tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản
được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã.
2. Các nội dung không thuộc quy định tại khoản 1 Điều này được thông qua khi có
trên 50% tổng số đại biểu biểu quyết tán thành.” 13
Vì vậy, việc Đại hội thành viên đã thông qua quyết định chấm dứt tư cách HTX
thành viên của HTX A với sự biểu quyết tán thành của HTX C, D là sai quy định bởi chỉ
có 40% tổng số đại biểu tán thành (bao gồm HTX C và HTX D)
II. CHIA VÀ TRẢ NỢ CHO CÁC CHỦ NỢ THEO THỦ TỤC PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH
Liên hiệp Hợp tác xã ABCDEF sau đó liên tiếp gặp khó khăn trong kinh doanh.
Ngày 1/1/2018, sau 4 tháng từ ngày đến hạn trả nợ nhưng Liên hiệp HTX không trả
được các khoản nợ như sau:
- Nợ ngân hàng X (tỉnh Hòa Bình) 1 tỷ (thế chấp ô tô 500 triệu)
- Nợ cá nhân C (cư trú tại Hòa Bình) 2 tỷ
- Nợ lương người lao động chi nhánh Hòa Bình 200 triệu
Ngoài ra, liên hiệp hợp tác xã còn nợ 3,3 tỷ của các cá nhân, tổ chức khác nhưng
chưa đến hạn trả nợ. Phí phá sản 100 triệu. Thêm vào đó, 1 tháng sau khi mở thủ tục phá
sản Liên hiệp tặng bạn hàng là công ty H 100 triệu để mừng khai trương chi nhánh mới.
Tài sản còn của liên hiệp HTX thời điểm này là 500 triệu (chưa gồm tài sản thế chấp).
Căn cứ khoản 1, 2 Điều 4 Luật phá sản số 51/2014/QH13:
“1. Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp, hợp tác
xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán.
2. Phá sản là tình trạng doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán và bị
Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản.”
Liên hiệp HTX đã không trả được các khoản nợ trong 4 tháng, quá thời hạn 3 tháng
theo quy định. Vì vậy, phải tiến hành chia và trả nợ cho các chủ nợ theo thủ tục pháp luật hiện hành.
1. Xác định tài sản của Liên hiệp hợp tác xã
- Căn cứ vào điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 48 Luật phá sản 2014 quy định về
Hoạt động của doanh nghiệp, hợp tác xã bị cấm sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản:
“1. Sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản, cấm doanh nghiệp, hợp tác xã thực
hiện các hoạt động sau: 14
a) Cất giấu, tẩu tán, tặng cho tài sản
2. Giao dịch quy định tại khoản 1 Điều này là vô hiệu và xử lý theo quy định tại
Điều 60 của Luật này.”
Qua đây, nhận thấy việc Liên hiệp HTX tặng bạn hàng là công ty H 100 triệu để
mừng khai trương chi nhánh mới sau khi mở thủ tục phá sản 1 tháng sẽ bị vô hiệu theo
như quy định của pháp luật.
- Căn cứ vào điểm a và điểm e khoản 1 Điều 64 Luật phá sản 2014 quy định về Tài
sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán:
“1. Tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán gồm:
a) Tài sản và quyền tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã có tại thời điểm Tòa án
nhân dân quyết định mở thủ tục phá sản;
e) Tài sản và quyền tài sản có được do thu hồi từ giao dịch vô hiệu.”
Do đó, tổng tài sản = 500 triệu (tài sản hiện có chưa tính tài sản thế chấp) + 100
triệu (có được do giao dịch vô hiệu) = 600 triệu.
Vì vậy, tài sản còn lại của Liên hiệp là 500 triệu và tài sản có được do thu hồi từ
giao dịch vô hiệu bên trên là 100 triệu. Tổng tài sản của Liên hiệp tính đến thời điểm này là 600 triệu.
2. Xác định số nợ Căn cứ khoản
6 Điều 4: “Chủ nợ có bảo đảm một phần là cá nhân, cơ quan, tổ
chức có quyền yêu cầu doanh nghiệp, hợp tác xã phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán
khoản nợ được bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc của người thứ
ba mà giá trị tài sản bảo đảm thấp hơn khoản nợ đó.”

Và căn cứ vào Điều 53 Luật phá sản 2014 quy định về Xử lý khoản nợ có đảm bảo:
“1. Sau khi mở thủ tục phá sản, Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài
sản đề xuất Thẩm phán về việc xử lý khoản nợ có bảo đảm đã được tạm đình chỉ theo
quy định tại khoản 3 Điều 41 của Luật này, Thẩm phán xem xét và xử lý cụ thể như sau:

a) Trường hợp tài sản bảo đảm được sử dụng để thực hiện thủ tục phục hồi kinh
doanh thì việc xử lý đối với tài sản bảo đảm theo Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ;
b) Trường hợp không thực hiện thủ tục phục hồi kinh doanh hoặc tài sản bảo đảm
không cần thiết cho việc thực hiện thủ tục phục hồi kinh doanh thì xử lý theo thời hạn 15
quy định trong hợp đồng đối với hợp đồng có bảo đảm đã đến hạn. Đối với hợp đồng có
bảo đảm chưa đến hạn thì trước khi tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản, Tòa án
nhân dân đình chỉ hợp đồng và xử lý các khoản nợ có bảo đảm. Việc xử lý khoản nợ có
bảo đảm theo quy định tại khoản 3 Điều này.

2. Trường hợp tài sản bảo đảm có nguy cơ bị phá hủy hoặc bị giảm đáng kể về giá
trị thì Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản đề nghị Thẩm phán cho xử
lý ngay tài sản bảo đảm đó theo quy định tại khoản 3 Điều này.

3. Việc xử lý tài sản bảo đảm theo quy định tại điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều
này được thực hiện như sau:
a) Đối với khoản nợ có bảo đảm được xác lập trước khi Tòa án nhân dân thụ lý
đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản được thanh toán bằng tài sản bảo đảm đó;
b) Trường hợp giá trị tài sản bảo đảm không đủ thanh toán số nợ thì phần nợ còn
lại sẽ được thanh toán trong quá trình thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã;
nếu giá trị tài sản bảo đảm lớn hơn số nợ thì phần chênh lệch được nhập vào giá trị tài
sản của doanh nghiệp, hợp tác xã.”

Trong bài trên, ngân hàng X thuộc trường hợp chủ nợ có đảm bảo một phần do
Liên hiệp HTX đã thế chấp tài sản là 500 triệu nhỏ hơn khoản nợ ngân hàng X, nói cách
khác trong trường hợp này giá trị tài sản đảm bảo không đủ để thanh toán hết nợ nên
khoản nợ còn lại sẽ được thanh toán trong quá trình thanh lý tài sản của HTX theo điểm
b khoản 3 Điều 53 Luật phá sản 2014.
Cụ thể: Liên hiệp HTX nợ ngân hàng X 1 tỷ (thế chấp ô tô 500 triệu) vậy nên sẽ
được thanh toán 500 triệu bằng tài sản mà đã thế chấp trước đó, còn lại 500 triệu sau sẽ
được thanh toán trong quá trình thanh lý tài sản của Liên hiệp HTX.
Vậy Liên hiệp còn nợ các khoản như sau:
- Nợ ngân hàng X 500 triệu - Nợ cá nhân C 2 tỷ
- Nợ lương người lao động chi nhánh Hòa Bình 200 triệu
- Nợ các cá nhân, tổ chức khác nhưng chưa đến hạn trả nợ là 3,3 tỷ.
 Tổng số tiền HTX còn nợ = 500 triệu + 2 tỷ + 200 triệu + 3,3 tỷ = 6 tỷ 16 3. Thanh lý tài sản
Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 54 Luật Phá sản 2014 về Thứ tự phân chia tài sản:
“1. Trường hợp Thẩm phán ra quyết định tuyên bố phá sản thì tài sản của doanh
nghiệp, hợp tác xã được phân chia theo thứ tự sau: a) Chi phí phá sản;
b) Khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với người
lao động, quyền lợi khác theo hợp đồng lao động và thỏa ước lao động tập thể đã ký kết;
c) Khoản nợ phát sinh sau khi mở thủ tục phá sản nhằm mục đích phục hồi hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã;
d) Nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước; khoản nợ không có bảo đảm phải trả cho
chủ nợ trong danh sách chủ nợ; khoản nợ có bảo đảm chưa được thanh toán do giá trị
tài sản bảo đảm không đủ thanh toán nợ…

3. Nếu giá trị tài sản không đủ để thanh toán theo quy định tại khoản 1 Điều này
thì từng đối tượng cùng một thứ tự ưu tiên được thanh toán theo tỷ lệ phần trăm tương ứng với số nợ.”
Căn cứ vào khoản 1 Điều 54 Luật phá sản trên, thì Liên hiệp phải chia số tài sản
còn lại của mình cho chi phí phá sản là 100 triệu đồng được đề cập đến trong tình huống
trên. Sau đó là khoản nợ lương người lao động, Liên hiệp HTX phải chia tài sản cho nợ
lương người lao động chi nhánh Hòa Bình là 200 triệu.
Vì vậy, tài sản còn lại của Liên hiệp hợp tác xã là 600 triệu – 100 triệu – 200 triệu = 300 triệu.
Cuối cùng thanh toán cho chủ nợ có khoản nợ không có bảo đảm và khoản nợ có
bảo đảm nhưng chưa được thanh toán hết (ngân hàng X).
Căn cứ vào khoản 4 Điều 4 Luật Phá sản 2014 giải thích về Chủ nợ không bảo
đảm: “Chủ nợ không có bảo đảm là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu doanh
nghiệp, hợp tác xã phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ không được bảo đảm
bằng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc của người thứ ba.”

Do đó, khoản nợ cá nhân C và khoản nợ của các cá nhân, tổ chức khác mà Liên
hiệp HTX nợ là khoản nợ không bảo đảm. 17
Do giá trị tài sản không đủ thanh toán các khoản nợ còn lại nên căn cứ vào khoản 3
Điều 54 Luật phá sản 2014 thì từng đối tượng cùng một thứ tự ưu tiên được thanh toán
theo tỷ lệ phần trăm tương ứng với số nợ. Ta có: Ngân hàng X Cá nhân C
Cá nhân, tổ chức khác Số nợ 500 triệu 2 tỷ 3,3 tỷ Tổng số nợ 5,8 tỷ Phần trăm tương ứng 8,6% 34,5% 56,9% Số tiền phải trả
8,6% x 300 triệu 34,5% x 300 triệu 56,9% x 300 triệu 25,8 triệu 103,5 triệu 170,7 triệu
Như vậy, sau khi xử lý thanh lý tài sản:
- Ngân hàng X sẽ đòi lại được 25,8 triệu, cùng chiếc ô tô có giá trị 500 triệu
- Cá nhân C đòi lại được 103,5 triệu
- Cá nhân, tổ chức khác đòi lại được 170,7 triệu
- Người lao động ở chi nhánh Hòa Bình nhận lại 200 triệu III. KẾT LUẬN
Trong bài tập trên, chúng ta đã xem xét hai phần chính:
 Quy trình chấm dứt tư cách hợp tác xã (HTX) thành viên của HTX A:
- Trong trường hợp HTX A chưa hết thời hạn góp vốn theo quy định, việc chấm
dứt tư cách HTX thành viên của HTX A là không hợp lệ. Nếu HTX A đã hết thời hạn
góp vốn như cam kết, quyết định chấm dứt tư cách thành viên cần thông qua đúng thủ
tục quy định, bao gồm triệu tập Đại hội thành viên và biểu quyết đúng cách.
- Trong trường hợp quyết định chấm dứt tư cách HTX thành viên của HTX A đã
được thông qua, nhưng việc triệu tập Đại hội thành viên không tuân thủ quy định, thì
quyết định đó cũng là không hợp lệ. 18
 Quy trình phá sản và thanh toán nợ của Liên hiệp HTX ABCDEF:
- Liên hiệp HTX đã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ trong thời
hạn, do đó, quá trình phá sản là bước tiếp theo.
- Đối với tình hình phá sản, Liên hiệp HTX cần tuân thủ quy trình pháp lý. Việc
xác định tài sản, xử lý nợ phải được thực hiện theo quy định của Luật Phá sản 2014.
- Sau khi xác định tài sản và các khoản nợ, quy trình thanh toán nợ phải tuân thủ
các quy định pháp luật, bao gồm ưu tiên thanh toán theo thứ tự quy định và xử lý các khoản nợ có bảo đảm.
- Trong trường hợp giá trị tài sản không đủ để thanh toán các khoản nợ, quy trình
phá sản phải tiếp tục theo quy định, bảo đảm quyền lợi của tất cả các bên liên quan.
 Tổng kết lại, việc tuân thủ quy trình và quy định pháp luật là rất quan trọng
trong cả hai tình huống, giúp bảo vệ quyền và lợi ích của các bên liên quan và duy trì
tính công bằng và minh bạch trong quản lý và giải quyết tranh chấp của các tổ chức hợp tác xã. 19 PHẦN KẾT LUẬN
Sau một thời gian học và tìm hiểu về bộ môn Luật Kinh Tế, dựa vào những điều đã
học Nhóm 8 chúng em đã áp dụng để đi so sánh hộ kinh doanh cá thể với tổ hợp tác và
giải quyết bài tập tình huống. Từ đó hoàn thành bài thảo luận một cách tốt nhất có thể.
Vì kiến thức còn hạn chế nên trong lúc làm bài bài thảo luận không tránh khỏi những
thiếu sót nên Nhóm 8 chúng em mong nhận được sự góp ý từ cô và các nhóm còn lại để
có thể hoàn thiện một cách tốt hơn. 20