



















Preview text:
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA KINH TẾ
Học phần: KINH TẾ VĨ MÔ ĐỀ TÀI:
CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA VIỆT NAM TRONG ĐẠI DỊCH COVID-19
Giảng viên hướng dẫn : Nguyễn Đức Hải Lớp : 211ECO02A10
Nhóm thực hiện : Nhóm 7
Hà Nội, ngày 1 tháng 12 năm 2021 1 GVHD NGUYỄN ĐỨC HẢI NHÓM 7
DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 7 Họ và tên Mã sinh viên Lớp niên chế Nguyễn Lê Dung Nhi 24A4010415 K24TCE Trần Đức Anh 24A4012684 K24TCE Nguyễn Thị Huyền Anh 24A4012506 K24TCE Đặng Thị Tuyết Trinh 24A4012116 K24TCE Tạ Thị Thu Trang 24A4012109 K24TCE Lê Thị Ánh Trúc 24A4012121 K24TCE Quách Yến Thủy 23A4020494 K23KTDNA Trần Phương Uyên 22A4010435 K22NHB KINH TẾ VĨ MÔ 2 GVHD NGUYỄN ĐỨC HẢI NHÓM 7 MỤC LỤC
A. KHÁI QUÁT VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU...................................................................4
I) Lý do chọn đề tài..........................................................................................................4
II) Mục đích nghiên cứu..................................................................................................5
III) Đối tượng, phạm vi nghiên cứu...............................................................................5
IV) Phương pháp nghiên cứu..........................................................................................5
B. NỘI DUNG CHI TIẾT....................................................................................................6
PHẦN I: Khái quát về chính sách tiền tệ.......................................................................6
1_Khái niệm..................................................................................................................6
2_Vị trí của các chính sách tiền tệ.................................................................................7
3_Các mục tiêu của chính sách tiền tệ...........................................................................7
4_Các công cụ của chính sách tiền tệ............................................................................9
a) Công cụ trực tiếp...................................................................................................9
b) Công cụ gián tiếp................................................................................................10
PHẦN II: Chính sách tiền tệ trong đại dịch Covid-19...............................................11
1_Tác động của đại dịch Covid-19 đến nền kinh tế Việt Nam....................................11
a) Tác động đến cầu................................................................................................11
b) Tác động đến cung..............................................................................................14
2_ Một số chính sách tiền tệ được áp dụng.................................................................15
3_ Những thành tựu đạt được từ sự thay đổi chính sách tiền tệ, tình hình kinh tế nước
ta và một số nước trên thế giới trong thời điểm hiện tại..............................................16
PHẦN III: Đánh giá chung về sự thay đổi chính sách tiền tệ ở Việt Nam...............18
1_ Nhiều khu vực lấy lại đà tăng trưởng.....................................................................18
2_ Nhiều cơ hội để nền kinh tế tăng tốc......................................................................20
C. TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................................22
I) Tài liệu tiếng việt........................................................................................................22
II) Tài liệu trực tuyến....................................................................................................22 KINH TẾ VĨ MÔ 3 GVHD NGUYỄN ĐỨC HẢI NHÓM 7
A. KHÁI QUÁT VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
I) Lý do chọn đề tài
- Chính sách tiền tệ (CSTT) là một trong những yếu tố quan trọng trong điều hành kinh
tế vĩ mô của các nền kinh tế mở. Thông qua việc tác động đến các biến số vĩ mô, chính
sách tiền tệ giúp duy trì sự ổn định và kích thích tăng trưởng kinh tế. Đã có nhiều nghiên
cứu về đề tài này đã khẳng định chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương có tác động
trực tiếp đến các biến số tại các nước phát triển như: Tỉ lệ thất nghiệp, giá cả, tốc độ tăng
trưởng kinh tế (GDP), cán cân thanh toán,… Vai trò của chính sách tiền tệ đối với tăng
trưởng kinh tế phụ thuộc vào việc xây dựng và điều hành các công cụ chính sách tiền tệ
của ngân hàng trung ương.
- Trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 kéo dài và ngày càng diễn biến phức tạp trên thế
giới và trong nước khiến cho triển vọng phục hồi kinh tế còn nhiều bất trắc. Việc điều hành
chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNNVN) vẫn ổn định duy trì
thực hiện theo mục tiêu kép của Chính phủ: “vừa chống dịch, vừa đảm bảo kinh tế phát
triển”, vừa hỗ trợ đà phục hồi kinh tế, tạo điều kiện chi phí vay vốn cho người dân, doanh
nghiệp, vừa kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô. Thực tiễn đòi hỏi cần nắm bắt
những hiểu biết về chính sách tiền tệ tới tăng trưởng kinh tế. Chính vì vậy, chúng em đã
chọn đề tài “Chính sách tiền tệ của Việt Nam trong đại dịch covid 19” để nghiên cứu
đồng thời phân tích những hiệu quả cũng như ảnh hưởng của CSTT nước nhà mang lại cho chính quốc gia mình.
II) Mục đích nghiên cứu
- Mục đích tổng quát: Nắm được lý thuyết về CSTT, công cụ, mục tiêu, vai trò của
CSTT trong nền kinh tế Việt Nam
- Mục đích cụ thể: Hệ thống hóa lý thuyết về CSTT của Việt Nam cũng như công cụ,
thực trạng, nguyên nhân, các biện pháp mới được đưa ra, triển khai dưới tác động của dịch KINH TẾ VĨ MÔ 4 GVHD NGUYỄN ĐỨC HẢI NHÓM 7
Covid-19 và một số nhận định, ý kiến đánh giá khách quan của CSTT Việt Nam sau đại dịch.
III) Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: CSTT của Việt Nam, các công cụ của CSTT, những thay đổi trong CSTT
ứng phó với tác động của dịch Covid-19
- Phạm vi nghiên cứu: Thời gian sau đại dịch Covid-19
IV) Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp
- Thu thập, xử lý số liệu KINH TẾ VĨ MÔ 5 GVHD NGUYỄN ĐỨC HẢI NHÓM 7
B. NỘI DUNG CHI TIẾT
PHẦN I: Khái quát về chính sách tiền tệ 1_Khái niệm
- Chính sách tiền tệ là một chính sách kinh tế vĩ mô do Ngân hàng trung ương (NHTW)
khởi thảo và thực thi. NHTW thông qua các biện pháp và công cụ của mình nhằm đạt được
các mục tiêu: ổn định giá trị đồng tiền và tăng trưởng kinh tế - như kiềm chế lạm phát, duy
trì ổn định tỷ giá hối đoái, đạt được toàn dụng lao động…
- Dựa vào tình hình kinh tế của từng quốc gia mà chính sách tiền tệ có thể được xác lập theo hai hướng:
+Chính sách tiền tệ mở rộng: Tăng cung tiền, giảm lãi suất để thúc đẩy sản xuất kinh doanh
→ Giảm thất nghiệp nhưng lạm phát tăng
→ Chính sách tiền tệ: chống thất nghiệp
+Chính sách tiền tệ thắt chặt: Giảm cung tiền, tăng lãi suất để hạn chế đầu tư, sản xuất, kinh doanh
→ Giảm lạm phát, nhưng tỷ lệ thất nghiệp tăng KINH TẾ VĨ MÔ 6 GVHD NGUYỄN ĐỨC HẢI NHÓM 7
→ Chính sách tiền tệ: ổn định giá trị đồng tiền
2_Vị trí của các chính sách tiền tệ
- Trong hê ƒ thống các công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước thì chính sách tiền tê ƒ là mô ƒt
trong những chính sách quan trọng nhất vì nó tác đô ƒng trực tiếp vào lĩnh vực lưu thông tiền
tê ƒ. Xong nó cũng có quan hê ƒ chă ƒt ch… với các chính sách kinh tế vĩ mô khác: chính sách tài
khóa, chính sách thu nhâ ƒp, chính sách kinh tế đối ngoại…
- Đối với NHTW, viê ƒc hoạch định và thực thi chính sách tiền tê ƒ là hoạt đô ƒng cơ bản nhất,
mọi hoạt đô ƒng của nó đều làm cho chính sách tiền tê ƒ quốc gia được thực hiê ƒn có hiê ƒu quả hơn.
3_Các mục tiêu của chính sách tiền tệ
Chính sách tiền tệ thường tập chung vào các mục tiêu sau:
- Mục tiêu kiểm soát lạm phát và ổn định giá trị đồng tiền:
Ổn định giá cả hay kiểm soát lạm phát là mục tiêu hàng đầu và mục tiêu dài hạn của
chính sách tiền tệ. NHTW thông qua CSTT có thể tác động đến sự tăng hay giảm giá trị
đồng tiền của nước mình. Giá trị đồng tiền ổn định được xem xét trên 2 mặt:
+Sức mua đối nội của đồng tiền (chỉ số giá cả hàng hóa và dịch vụ trong nước)
+Sức mua đối ngoại (tỷ giá đồng tiền nước mình so với ngoại tệ)
Tuy vậy, CSTT hướng tới ổn định giá trị đồng tiền không có nghĩa là tỷ lệ lạm phát
bằng không, vì như vậy nền kinh tế không thể phát triển được. Trong điều kiện nền kinh tế
trì trệ thì kiểm soát lạm phát ở một tỉ lệ hợp lý (thường ở mức một con số) s… kích thích
tăng trưởng kinh tế trở lại.
- Mục tiêu tạo công ăn việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp:
CSTT mở rộng hay thắt chặt có ảnh hưởng trực tiếp tới việc sử dụng có hiệu quả
các nguồn lực xã hội, quy mô sản xuất kinh doanh và từ đó ảnh hưởng tới tỷ lệ thất nghiệp
của nền kinh tế. Để có một tỷ lệ thất nghiệp giảm thì phải chấp nhận một tỷ lệ lạm phát gia KINH TẾ VĨ MÔ 7 GVHD NGUYỄN ĐỨC HẢI NHÓM 7
tăng. Tình hình đó đặt ra cho NHTW trách nhiệm là phải vận dụng các công cụ của mình
góp phần tăng cường mở rộng đầu tư sản xuất kinh doanh đồng thời phải tham gia tích cực
vào sự tăng trưởng liên tục và ổn định khống chế tỷ lệ thất nghiệp không vượt quá mức
tăng thất nghiệp tự nhiên.
- Mục tiêu tăng trưởng kinh tế:
Khối tiền tệ tăng hay giảm đều có tác động mạnh đến lãi suất và số cầu tổng quát,
từ đó tác động đến sự gia tăng đầu tư sản xuất và cuối cùng là tác động lên tổng sản lượng
quốc gia, tức là tác động lên sự tăng trưởng của nền kinh tế.
- Mục tiêu ổn định tỷ giá hối đoái:
Trong điều kiện mở cửa kinh tế, các luồng hàng hóa và tiền vốn vào ra một quốc gia
gắn liền với việc chuyển đổi qua lại giữa đồng nội tệ và đồng ngoại tệ. Việc ngăn ngừa
những biến động mạnh, bất thường trong tỷ giá hối đoái s… giúp cho các hoạt động kinh tế
đối ngoại được hiệu quả hơn nhờ dự đoán được chính xác về mặt khối lượng giá trị. Thêm
vào đó, tỷ giá hối đoái còn ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh của hàng hóa trong nước với
nước ngoài về mặt giá cả.
- Mục tiêu ổn định lãi suất:
Lãi suất là một biến số kinh tế vĩ mô hết sức quan trọng trong nền kinh tế do nó ảnh
hưởng tới quyết định chi tiêu của các doanh nghiệp và hộ gia đình. Những biến động bất
thường trong lãi suất s… gây khó khăn cho các doanh nghiệp và cá nhân trong việc dự tính
chi tiêu hay lập kế hoạch kinh doanh. Do đó ổn định lãi suất cũng là một mục tiêu quan
trọng mà các NHTW hướng tới nhằm góp phần ổn định môi trường kinh tế vĩ mô.
- Mục tiêu ổn định thị trường tài chính:
Thị trường tài chính được xem là nơi tạo ra nguồn vốn cho phát triển kinh tế. Nó góp
phần quan trọng trong việc điều hòa vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu vốn, giúp nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn trong nền kinh tế. Với vai trò như vậy, sự ổn định của thị trường tài chính
có ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế các quốc gia. NHTW với khả năng tác động tới
khối lượng tín dụng và lãi suất có nhiệm vụ đem lại sự ổn định cho thị trường tài chính.
- Mối quan hệ giữa các mục tiêu của chính sách tiền tệ: KINH TẾ VĨ MÔ 8 GVHD NGUYỄN ĐỨC HẢI NHÓM 7
Giữa các mục tiêu trên có mối quan hệ chặt ch…, hỗ trợ nhau, không tách rời. Tuy
nhiên, các mục tiêu của chính sách tiền tệ không phải lúc nào cũng nhất trí và hỗ trợ cho
nhau. Trong một số trường hợp, vẫn có những mục tiêu mâu thuẫn với nhau khiến cho việc
theo đuổi mục tiêu này đòi hỏi phải có những hi sinh nhất định về mục tiêu kia. Mối quan
hệ giữa mục tiêu giảm tỉ lệ thất nghiệp với mục tiêu ổn định giá cả là một minh chứng rõ
rệt. Vậy để đạt được các mục tiêu trên một cách hài hoà thì NHTW trong khi thực hiện
CSTT cần phải có sự phối hợp với các chính sách kinh tế vĩ mô khác.
4_Các công cụ của chính sách tiền tệ
Để thực thi chính sách tiền tệ, thực hiện chức năng và vai trò của mình, NHTW đã
sử dụng hàng loạt các công cụ như: tỉ số đối hoái, dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường
mở... Mỗi loại công cụ đều có cơ chế vận hành cũng như ưu nhược điểm khác nhau. Tùy
thuộc vào nền kinh tế thực tế mà sử dụng các công cụ này một cách phù hợp, hiệu quả.
a) Công cụ trực tiếp
Là các công cụ mà thông qua chúng Ngân hàng Nhà nước (NHNN) có thể tác động trực
tiếp đến cung cầu tiền tệ, mà không cần thông qua một công cụ khác. Nó bao gồm:
- Công cụ hạn mức tín dụng
Hạn mức tín dụng là một trong những công cụ can thiệp trực tiếp của NHTW để
khống chế mức tăng khối lượng tín dụng của hệ thống tổ chức tín dụng cung ứng cho nền
kinh tế đảm bảo mức tăng trưởng của tổng phương tiện thanh toán theo mục tiêu đề ra. Hạn
mức tín dụng là mức dư nợ tối đa mà NHTW buộc các ngân hàng phải tôn trọng khi cấp tín dụng cho nền kinh tế.
- Quản lý lãi suất của Ngân hàng Thương Mại (NHTM)
NHTW đưa ra một khoảng lãi suất hay ấn định một trần lãi suất cho vay để hướng
các NHTM điều chỉnh lãi suất theo giới hạn đó, từ đó ảnh hưởng tới quy mô tín dụng của
nền kinh tế và NHTW có thể đạt được quản lý cung tiền của mình
- Công cụ tỷ giá đối hoái
Khái niệm: Tỷ giá hối đoái là tương quan giữa sức mua của đồng nội tệ và
đồng ngoại tệ, hay có thể nói là giá cả của đồng tiền này đo bằng một đồng tiền khác. Nó KINH TẾ VĨ MÔ 9 GVHD NGUYỄN ĐỨC HẢI NHÓM 7
vừa phản ánh sức mua của đồng nội tệ vừa là biểu hiện quan hệ cung cầu ngoại hối. Công
cụ này là đòn bẩy điều tiết cung cầu ngoại tệ, tác động mạnh đến xuất nhập khẩu, các hoạt
động kinh doanh trong nước. Chính sách tỷ giá đối hoái tác động một cách nhạy bén đến
tình hình sản xuất, xuất nhập khẩu hàng hóa, tình trạng tài chính; tiền tệ, cán cân thanh toán quốc tế....
(Về thực chất tỷ giá không phải là công cụ của chính sách tiền tệ vì nó không làm thay đổi
lượng tiền tệ trong lưu thông. Tuy nhiên ở một số nước đặc biệt là các nước đang có nền
kinh tế chuyển đổi, có mức đô la hóa cao thì tỷ giá được coi là một công cụ quan trọng cho chính sách tiền tệ)
b) Công cụ gián tiếp
Là công cụ mà tác dụng của nó có được là nhờ cơ chế thị trường. Nó bao gồm:
- Công cụ dự trữ bắt buộc
Đây là tỷ lệ giữa số lượng phương tiện cần vô hiệu hóa trên tổng số tiền gửi huy
động ảnh nhằm điều chỉnh khả năng thanh toán (cho vay) của các NHTM. Phần dự trữ này
được gửi vào tài khoản chuyên dùng ở NHTW và để tại quỹ của mình với mục đích góp
phần bảo đảm khả năng thanh toán của NHTM và dùng làm phương tiện kiểm soát khối
lượng tín dụng của ngân hàng này.
Khi tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc s… có tác dụng làm giảm khả năng cho vay và đầu tư
của ngân hàng thương mại từ đó giảm lượng tiền trong lưu thông góp phần làm giảm cầu
tiền để cân bằng với sự giảm cung xã hội và ngược lại.
- Công cụ tái cấp vốn
Tái cấp vốn là hình thức cấp tín dụng có bảo đảm của NHTW nhằm cung ứng vốn
ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho các NHTM và các tổ chức tín dụng. Một mặt,
ngân hàng trung ương đã tăng lượng tiền cung ứng mặt khác tạo cơ sở cho các tổ chức tín
dụng tạo bút tệ cũng như khai thông được năng lực thanh toán cho họ.
- Công cụ nghiệp vụ thị trường mở
Là hoạt động NHTW mua bán giấy tờ có giá ngắn hạn trên thị trường tiền tệ, điều
hòa cung cầu về giấy tờ có giá, gây ảnh hưởng đến khối lượng dự trữ của các ngân hàng KINH TẾ VĨ MÔ 10 GVHD NGUYỄN ĐỨC HẢI NHÓM 7
thương mại, từ đó tác động đến khả năng cung ứng tín dụng của các NHTM dẫn đến làm
tăng hay giảm khối lượng tiền tệ.
- Công cụ lãi suất tín dụng:
Đây được xem là công cụ gián tiếp trong thực hiện chính sách tiền tệ vì sự thay đổi
lãi suất không trực tiếp làm tăng thêm hay giảm bớt lượng tiền trong lưu thông mà có thể
làm kích thích hay kìm hãm sản xuất. Nó là một công cụ rất lợi hại. Cơ chế điều hành lãi
suất được hiểu là tổng thể những chủ trương chính sách và giải pháp cụ thể của NHTW
nhằm điều tiết lãi suất trên thị trường tiền tệ tín dụng trong từng thời kỳ nhất định
PHẦN II: Chính sách tiền tệ trong đại dịch Covid-19
1_Tác động của đại dịch Covid-19 đến nền kinh tế Việt Nam
Qua 35 năm đổi mới (1986 – 2020) từ một nền kinh tế lạc hậu, bao cấp sang nền
kinh tế thị trường hiện đại định hướng xã hội chủ nghĩa, Việt Nam đã vươn lên thành một
điểm sáng tăng trưởng trong khu vực và trên thế giới với nhiều thành tựu đáng ghi nhận.
Nền kinh tế không chỉ tăng trưởng về quy mô mà chất lượng tăng trưởng cũng được cải
thiện, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện đáng kể. Tuy nhiên, trong
hơn 3 thập niên đổi mới, nền kinh tế Việt Nam nhiều lần chịu tác động của các cú sốc bên
ngoài như cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997, cuộc khủng hoảng tài chính thế
giới năm 2008 và cú sốc dịch tễ năm 2020. Khác với 2 cú sốc trước, cú sốc Covid-19 lần
này chưa từng có tiền lệ, tác động đến nhiều lĩnh vực của nền kinh tế nước ta, thể hiện tập
trung ở 2 yếu tố là cung và cầu.
a) Tác động đến cầu
- Dịch Covid-19 dần được kiểm soát, tiến độ tiêm vắc xin phòng dịch Covid-19 đạt kết
quả khả quan và Nghị quyết số 128/NQ-CP ngày 11/10/2021 của Chính phủ được ban
hành kịp thời đã đảm bảo việc tiếp tục thực hiện mục tiêu kép “vừa phòng chống dịch
bệnh, vừa phát triển kinh tế – xã hội” nên tổng mức bán lŽ hàng hóa và doanh thu dịch vụ
tiêu dùng có nhiều khởi sắc.
- Dịch vụ hàng hóa nhu yếu phẩm: Theo số liệu của tổng cục thống kê tổng mức bán lŽ
hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 9 tháng năm 2021 giảm 7,1% so với cùng kỳ năm
trước, nếu loại trừ yếu tố giá giảm 8,7% (cùng kỳ năm 2020 giảm 5,1%). KINH TẾ VĨ MÔ 11 GVHD NGUYỄN ĐỨC HẢI NHÓM 7
+ Nhóm hàng lương thực, thực phẩm ước tính đạt 977,7 nghìn tỷ đồng, chiếm tỷ
trọng lớn nhất trong các nhóm ngành hàng với 35,2%, tăng 5% so cùng kỳ năm trước do
đây là nhóm hàng thiết yếu phục vụ nhu cầu ăn uống sinh hoạt hàng ngày của người dân
nên vẫn duy trì ổn định và một phần nguyên nhân do giá nhóm hàng lương thực tăng so với cùng kỳ 2020.
+ Nhóm hàng may mặc ước tính đạt 142,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 5,1%, giảm 9,6% so
với cùng kỳ năm trước.
+ Nhóm đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình đạt 337,3 nghìn tỷ đồng, chiếm
12,1%, giảm 10% so với cùng kỳ năm trước.
+ Nhóm vật phẩm văn hóa, giáo dục ước tính đạt 32,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 1,2%,
giảm 10,5% so với cùng kỳ năm trước, đây là một trong những nhóm hàng chịu ảnh hưởng
nặng nhất bởi dịch Covid-19.
+ Nhóm phương tiện đi lại đạt 148,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 5,3%, giảm 6,4% so với cùng kỳ năm trước.
+ Nhóm xăng dầu các loại đạt 313,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,3%, tăng 3,5% so với
cùng kỳ năm trước nguyên nhân chủ yếu do giá xăng dầu tăng cao.
- Dịch vụ lưu trú, ăn uống: Tăng trưởng
khá hơn do các địa phương bắt đầu thực hiện nới
lỏng dần các biện pháp giãn cách nhằm thực hiện mục tiêu kép vừa đảm bảo chống dịch
vừa phát triển kinh tế xã hội nhưng 9 tháng đầu năm 2021 vẫn giảm so với cùng kỳ năm
trước. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống 9 tháng 2021 ước tính đạt 279,4 nghìn tỷ đồng,
giảm 22,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó, doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 19,5 nghìn
tỷ đồng, giảm 37,1%; doanh thu dịch vụ ăn uống đạt 259,9 nghìn tỷ đồng, giảm 20,7%.
- Ngành dịch vụ du lịch lữ hành: tiếp tục chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch Covid-19,
nhiều tỉnh/thành phố hoạt động du lịch lữ hành trong tháng 9 vẫn đóng băng. Tính chung 9
tháng năm 2021, khách quốc tế đến Việt Nam ước tính đạt 114,5 nghìn lượt người, giảm
97% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân là do Việt Nam tiếp tục thực hiện các biện
pháp biện pháp phòng tránh chống dịch covid-19 chưa mở cửa du lịch quốc tế thế nên KINH TẾ VĨ MÔ 12 GVHD NGUYỄN ĐỨC HẢI NHÓM 7
lượng khách đến trong tháng chủ yếu là chuyên gia lao động kỹ thuật nước ngoài làm việc
tại các dự án ở Việt Nam.
Về tình hình du lịch trong nước, theo báo cáo, nhu cầu đi lại, du lịch của người dân
giảm do ảnh hưởng của dịch Covid-19 làm giá vé máy bay giảm 20,91% so với cùng
kỳ năm trước; giá du lịch trọn gói giảm 2,69%. Trong 9 tháng năm 2021, doanh thu
dịch vụ du lịch lữ hành ước tính đạt 4,6 nghìn tỷ đồng, giảm 64% so với cùng kỳ năm
2020. Doanh thu du lịch lữ hành của một số địa phương lớn biến động như sau: Quảng
Ninh giảm 31,5%; Đà Nẵng giảm 42%; Cần Thơ giảm 45,3%; Hà Nội giảm 55,4%;
Hải Phòng giảm 55,7%; Thành phố Hồ Chí Minh giảm 56,2%; Thừa Thiên – Huế giảm
63,1%; Bình Dương giảm 67,8%; Quảng Nam giảm 82,4%; Khánh Hòa giảm 89,5%.
- Đối với lĩnh vực vốn đầu tư: Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội theo giá hiện hành 9
tháng năm 2021 chỉ tăng 0,4% so với cùng kỳ năm trước do nhiều địa phương áp dụng các
biện pháp giãn cách xã hội làm đứt gãy chuỗi sản xuất và cung ứng của hoạt động sản xuất
kinh doanh và đầu tư. Tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam tính đến
20/9/2021 đạt 22,15 tỷ USD, tăng 4,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn đăng ký
cấp mới có 1.212 dự án được cấp phép với số vốn đăng ký đạt 12,5 tỷ USD, giảm 37,8%
về số dự án và tăng 20,6% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước; vốn đăng ký điều
chỉnh có 678 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư tăng
thêm 6,43 tỷ USD, tăng 25,6%; vốn đăng ký góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước
ngoài có 2.830 lượt với tổng giá trị góp vốn 3,22 tỷ USD, giảm 43,8%. Vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam ước tính đạt 13,28 tỷ USD, giảm 3,5%.
Trong 9 tháng năm 2021, có 94 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam.
Xin-ga-po là quốc gia dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đạt 6,28 tỷ USD, chiếm 28,4%
tổng vốn đầu tư vào Việt Nam; Hàn Quốc đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư 3,91 tỷ
USD chiếm 17,7% tổng vốn đầu tư .Nhật Bản đứng thứ 3 đạt 3,27 tỷ USD, chiếm
14,7% tổng vốn đầu tư. Tiếp theo là Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, Hà Lan, Hoa Kỳ,...
- Đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài trong 9 tháng năm 2021 có 41 dự án được cấp mới
giấy chứng nhận đầu tư với tổng số vốn của phía Việt Nam là 150,1 triệu USD, giảm
44,1% so với cùng kỳ năm trước; có 15 lượt dự án điều chỉnh vốn với số vốn tăng thêm
422,1 triệu USD, gấp gần 2,6 lần so với cùng kỳ năm trước. Tính chung tổng vốn đầu tư KINH TẾ VĨ MÔ 13 GVHD NGUYỄN ĐỨC HẢI NHÓM 7
của Việt Nam ra nước ngoài (vốn cấp mới và tăng thêm) đạt 572,3 triệu USD, tăng 32,4%
so với cùng kỳ năm trước.
- Đối với lĩnh vực xuất nhập khẩu: Kim ngạch xuất nhập khẩu nhiều mặt hàng bị ảnh
hưởng không nhỏ bởi dịch Covid-19 tiếp tục diễn biến phức tạp trên thế giới đặc biệt tại
các nước đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam. Tính chung 9 tháng năm nay, tổng
kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa vẫn duy trì tốc độ tăng cao, đạt 483,17 tỷ USD, tăng
24,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu tăng 18,8%; nhập khẩu tăng 30,5%.
Trong 9 tháng năm 2021 có 31 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm
92,5% tổng kim ngạch xuất khẩu (6 mặt hàng xuất khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 63,2%).
Trong 9 tháng năm 2021 có 36 mặt hàng nhập khẩu đạt trị giá trên 1 tỷ USD, chiếm tỷ
trọng 90,4% tổng kim ngạch nhập khẩu.
- Tính chung 9 tháng năm 2021, cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 2,13 tỷ USD
(cùng kỳ năm trước xuất siêu 16,66 tỷ USD), trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập
siêu 21 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 18,87 tỷ USD.
* Hoạt động ngân hàng, bảo hiểm, thị trường chứng khoán:
+ Tính đến thời điểm 20/9/2021, tổng phương tiện thanh toán tăng 4,95% so với cuối
năm 2020 (cùng thời điểm năm 2020 tăng 7,58%); huy động vốn của các tổ chức tín dụng
tăng 4,28% (cùng thời điểm năm 2020 tăng 7,48%); tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế
đạt 7,17% (cùng thời điểm năm 2020 tăng 4,99%).
+ Doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường 9 tháng năm 2021 ước tính tăng 13% so
với cùng kỳ năm trước (quý III/2021 tăng 7%), trong đó doanh thu phí bảo hiểm lĩnh vực
nhân thọ tăng 17%; lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ tăng 5%. Dịch Covid-19 đã tác động
tiêu cực đến hoạt động kinh doanh bảo hiểm đặc biệt là lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ với đặc
thù cần có sự gặp mặt trực tiếp để tư vấn cho khách hàng do lĩnh vực bảo hiểm không
thuộc nhóm hàng hóa thiết yếu nên các điểm kinh doanh giao dịch bảo hiểm với khách
hàng phải đóng cửa và tạm dừng hoạt động trong thời gian giãn cách xã hội, do thu nhập
của người dân trong giai đoạn phòng chống dịch giảm gây ảnh hưởng đến việc đóng phí
các hợp đồng bảo hiểm đang còn hiệu lực và hạn chế tham gia các gói bảo hiểm mới.
+ Tổng mức huy động vốn cho nền kinh tế của thị trường chứng khoán 9 tháng năm
nay ước tính đạt 292,1 nghìn tỷ đồng, tăng 12% so với cùng kỳ năm trước; giá trị giao dịch KINH TẾ VĨ MÔ 14 GVHD NGUYỄN ĐỨC HẢI NHÓM 7
bình quân trên thị trường cổ phiếu đạt 24.042 tỷ đồng/phiên, tăng 224% so với bình quân
năm 2020; giá trị giao dịch bình quân trên thị trường trái phiếu đạt đạt 10.948 tỷ
đồng/phiên, tăng 5,3%; khối lượng giao dịch bình quân trên thị trường chứng khoán phái
sinh, đối với sản phẩm hợp đồng tương lai trên chỉ số VN30 đạt 207.171 hợp đồng/phiên,
tăng 32%; đối với sản phẩm chứng quyền có bảo đảm, khối lượng đạt 18,78 triệu chứng quyền/phiên, tăng 59%.
b) Tác động đến cung
- Nguồn cung nguyên liệu sản xuất: Trong những tháng đầu 2021 nước ta gặp khó khăn
về nguồn cung nguyên phụ liệu, linh phụ kiện đầu vào cho sản xuất. Các ngành công
nghiệp chế biến, chế tạo phụ thuộc Rất nhiều và nguồn gốc nhập khẩu từ Trung Quốc Hàn
Quốc Nhật Bản các quốc gia đang bùng phát dịch. Các biện pháp kiểm soát biên giới để
phòng ngừa dịch bệnh tại các quốc gia này s… gây ảnh hưởng đến nguồn sản phẩm đầu vào
phục vụ sản xuất, cũng như thị trường tiêu thụ, nhất là đối với các ngành hàng ô tô dệt may
và da giày, ngành điện tử. Ở Việt Nam nguồn cung nguyên liệu sản xuất hầu hết đều đến từ
Trung Quốc. Vì vậy khi đại dịch covid-19 bùng nổ Trung Quốc đóng cửa nhà máy kéo dài
khiến các nguồn nguyên liệu từ Trung Quốc gặp khó khăn thậm chí bị gián đoạn các
phương thức vận chuyển khác ngân hàng không đường biển hay được bộ cũng không thuận
lợi do các vấn đề kiểm tra dịch tễ hay chi phí vận chuyển cao.
- Tính đến tháng 9 năm 2021 cả nước có 9,1 triệu người từ 15 tuổi trở lên bị ảnh hưởng
tiêu cực bởi vì covid-19 bao gồm người bị mất việc làm phải nghỉ việc nghỉ luân phiên
giảm giờ làm giảm thu nhập. Trong đó có 540 nghìn người bị mất việc, 2,8 triệu người
phải tạm nghỉ/tạm ngừng sản xuất kinh doanh; 3,1 triệu người cho biết họ bị cắt giảm giờ
làm hoặc buộc phải nghỉ giãn việc, nghỉ luân phiên và 6,5 triệu lao động báo cáo họ bị giảm thu nhập.
- Nhiều doanh nghiệp nhất là các doanh nghiệp có chuyên gia người nước ngoài và người
lao động nước ngoài chịu tác động nặng nề từ covid-19 khi nguồn cung lao động bị thiếu
thu chi phí sử dụng lao động trong thời kỳ này cũng cao hơn khi các doanh nghiệp phải
đầu tư thêm khẩu trang nước sát khuẩn thực hiện các biện pháp an toàn trong lao động để tránh lây nhiễm. KINH TẾ VĨ MÔ 15 GVHD NGUYỄN ĐỨC HẢI NHÓM 7
2_ Một số chính sách tiền tệ được áp dụng
- NHNN đã liên tiếp 03 lần điều chỉnh giảm các mức lãi suất với tổng mức giảm 1,5-
2,0%/năm đối với lãi suất điều hành, giảm 0,6-1,0%/năm trần lãi suất tiền gửi các kỳ hạn
dưới 6 tháng; giảm 1,5%/năm trần lãi suất cho vay ngắn hạn đối với các lĩnh vực ưu tiên
(hiện ở mức 4,5%/năm), sẵn sàng hỗ trợ thanh khoản cho tài chính tín dụng (TCTD), tạo
điều kiện cho TCTD tiếp cận nguồn vốn từ NHNN với chi phí thấp hơn, qua đó có điều
kiện giảm lãi suất cho vay để hỗ trợ khách hàng phục hồi sản xuất - kinh doanh. Mặt bằng
lãi suất cho vay đã giảm khoảng 1%/năm trong năm 2020 và xu hướng giảm lãi suất này
vẫn tiếp tục trong hơn nửa năm 2021 với mức giảm khoảng 0,55%/năm (tổng cộng giảm
1,55%/năm so với trước dịch).
- NHNN đã xây dựng và triển khai chính sách cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi,
phí, giữ nguyên nhóm nợ như ban hành Thông tư 01/2020/TT-NHNN ngày 13/3/2020,
Thông tư 03/2021/TT-NHNN ngày 2/4/2021 tạo khuôn khổ pháp lý để các TCTD cơ cấu
lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi phí, giữ nguyên nhóm nợ, tháo gỡ khó khăn cho các
khách hàng vay vốn bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 ở tất cả các lĩnh vực, ngành nghề.
Tuy nhiên đây là áp lực rất lớn cho tài chính ngân hàng trước mắt cũng như trong tương
lai. Vì các khoản giãn nợ, khoanh nợ, biến tài sản có sinh lời thành không sinh lời, làm
tăng tài sản không sinh lời, đồng nghĩa với việc tăng khả năng lỗ của các Ngân hàng
thương mại đồng thời tạo áp lực rất lớn cho các NHTM tăng dự phòng rủi ro, các khoản tài
chính đệm dự phòng đảm bảo tài chính vững chắc.
- Ngân hàng nhà nước tiếp tục duy trì CSTT nới lỏng có kiểm soát nhằm ổn định giá trị
đồng tiền, ổn định giá cả và duy trì dự trữ ngoại tệ không bị giảm mạnh. Đây là CSTT khá
đặc biệt trong bối cảnh nhiều NHTW nới lỏng tiền tệ vô tiền khoáng hậu.
- Cụ thể hơn NHNN đã yêu cầu các tổ chức tín dụng phải công khai, minh bạch các thủ
tục, điều kiện đối với khách hàng. NHNN, chi nhánh các tỉnh, thành phố thiết lập ngay
đường dây nóng để tiếp nhân, xử lý kịp thời, triệt để từng trường hợp doanh nghiệp vướng
mắc và xử lý nghiêm các trường hợp thiếu trách nhiệm, gây khó khăn, chậm trễ hỗ trợ cho
doanh nghiệp, người dân: điều chỉnh kế hoạch kinh doanh, chỉ tiêu lợi nhuận phù hợp, để
dành nguồn lực chia sŽ khó khăn, hỗ trợ khách hàng thông qua giảm mạnh lãi suất cho vay khách hàng. KINH TẾ VĨ MÔ 16 GVHD NGUYỄN ĐỨC HẢI NHÓM 7
- Bộ Tài chính đã soạn thảo và trình Chính phủ ban hành Nghị định về gia hạn nộp thuế
và tiền thuê đất cho đối tượng chịu ảnh hưởng bởi dịch Covid 19 để góp phần tháo gỡ khó
khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thuế thu nhập doanh nghiệp vừa và nhỏ, miễn, giảm
thuế, phí, lệ phí, không tính lãi phạt chậm nộp
- Kiểm soát chặt ch… tín dụng đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, đặc biệt là tín dụng đầu tư,
kinh doanh bất động sản, chứng khoán. Tổ chức tín dụng cấp tín dụng để góp vốn, mua cổ
phần và đầu tư trái phiếu doanh nghiệp. Bố trí nguồn vốn cần thiết để phát triển các sản
phẩm cho vay phục vụ đời sống, đáp ứng nhu cầu chính đáng của người dân, góp phần hạn chế tín dụng đen.
3_ Những thành tựu đạt được từ sự thay đổi chính sách tiền tệ, tình hình kinh tế nước
ta và một số nước trên thế giới trong thời điểm hiện tại
- Năm 2021, chính sách tiền tệ để phục vụ cho tăng trưởng kinh tế, khôi phục lại sản xuất
kinh doanh, hỗ trợ người dân bị ảnh hưởng bởi tác động của đại dịch Covid - 19. Nền kinh
tế nước ta tiếp tục đạt tăng trưởng dương khi GDP 9 tháng năm 2021 tăng 1,42%. Tuy là
mức tăng thấp của 9 tháng các năm 2011-2021 nhưng Việt Nam là quốc gia duy nhất trong
ASEAN và thuộc số ít quốc gia trên thế giới đạt mức tăng trưởng dương.
- Với các giải pháp điều hành quyết liệt, linh hoạt, ngành Ngân hàng đã đảm bảo cung
ứng thanh khoản đầy đủ, kịp thời, đáp ứng các nhu cầu của nền kinh tế, kiểm soát lạm
phát, ổn định vĩ mô và cải thiện môi trường kinh doanh, giảm thiểu tác động tiêu cực của dịch bệnh Covid-19.
- Đối với điều hành tỷ giá, trong 6 tháng đầu năm 2021, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
(NHNN) đã liên tục đưa ra các thay đổi liên quan đến giá mua, bán USD. Từ việc không
niêm yết tỷ giá mua bán giao ngay, ngừng giao dịch ngoại tệ giao ngay, cho đến việc giảm
sâu tới 150 đồng đối với giá mua USD kỳ hạn 6 tháng. Những hành động của NHNN thể
hiện ý định duy trì chính sách tỷ giá USD/VND ổn định. Điều này cho thấy trong tương
lai, đồng VND s… không bị định giá thấp, mà ngược lại, còn có khả năng tăng giá.
- Những điều chỉnh tỷ giá của NHNN là phù hợp với diễn biến thị trường, có thể giải tỏa
được nghi ngờ của Mỹ đối với việc Việt Nam thao túng tiền tệ nhằm chiếm ưu thế trong
thương mại. Bên cạnh đó, việc ổn định tỷ giá cũng được coi như là công cụ hữu hiệu trong
việc kiểm soát lạm phát của Việt Nam. KINH TẾ VĨ MÔ 17 GVHD NGUYỄN ĐỨC HẢI NHÓM 7
- Đến tháng 8 năm 2021, NHNN chuyển sang mua USD giao ngay thay vì kỳ hạn 6 tháng
cũng là tín hiệu cho thấy thị trường đã đang dần trở lại trạng thái bình thường.
- Tiếp tục duy trì được nền tảng kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát, chỉ số
giá tiêu dùng có xu hướng giảm dần, mặt bằng lãi suất giảm, tỷ giá, thị trường ngoại hối ổn
định. Tính chung 9 tháng năm 2021, CPI tăng 1,82% so với cùng kỳ năm trước, mức tăng
thấp nhất kể từ năm 2016. Bình quân 9 tháng năm 2021 lạm phát cơ bản chỉ tăng 0,88% so
với cùng kỳ năm 2020, đây là mức thấp nhất kể từ năm 2011.
Có thể thấy trong thời gian qua dưới tác động tiêu cực của dịch bệnh Covid-19, nhờ
việc bám sát các chỉ đạo của Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam (NHNN) và hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) đã chủ động, tích cực
triển khai hiệu quả nhiều giải pháp hỗ trợ về tín dụng, giảm lãi suất cho vay bằng chính
nguồn lực của ngành ngân hàng nhờ đó mà tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh,
góp phần kiểm soát lạm phát, duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Có
thể thấy những việc làm này có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với các doanh nghiệp và toàn bộ
nền kinh tế. Việc giảm lãi suất cho vay, giảm phí dịch vụ thanh toán và gia tăng các gói ưu
đãi tín dụng… tạo nên một tương lai hứa hẹn cho quá trình phục hồi và phát triển kinh tế của đất nước.
PHẦN III: Đánh giá chung về sự thay đổi chính sách tiền tệ ở Việt Nam
1_ Nhiều khu vực lấy lại đà tăng trưởng
- Quý I/2021: Ngân Hàng Nhà Nước quyết định giữ bộ khung lãi suất điều hành không
đổi so với cuối năm 2020, tiếp tục duy trì các chính sách trợ giúp doanh nghiệp chịu ảnh
hưởng của dịch Covid-19 đây là những điểm nhấn quan trọng của chính sách tiền tệ. Tổng
phương tiện thanh toán M2 tăng 2,90% so với cuối năm 2020 và tăng 15,66% so với cùng
kỳ 2020. Tạo điều kiện giảm chi phí đầu vào cho tổ chức tín dụng qua đó giảm áp lực lên
lãi suất huy động và cho vay.
- Quý II/2021: Tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng 6,61% so với cùng kỳ năm trước,
cao hơn tốc độ tăng 0,39% của cùng kỳ năm ngoái, nhưng thấp hơn cùng kỳ của hai năm
trước đại dịch (2019 là 6,73% và 2018 là 6,73%). Đáng chú ý, quý II/2021 tăng trưởng trên
nền thấp của năm 2020, cho thấy tăng trưởng kinh tế yếu đi khá nhiều nhưng vẫn khá ấn
tượng xét trong bối cảnh đại dịch. Một số NHTW trên thế giới đã bắt đầu có những động KINH TẾ VĨ MÔ 18 GVHD NGUYỄN ĐỨC HẢI NHÓM 7
thái thu hẹp chính sách tiền tệ, thu hẹp các chương trình bơm tiền thông qua mua tài sản.
Ví dụ là Ngân hàng Canada đã đi được một nửa lộ trình cắt giảm chương trình mua trái
phiếu chính phủ từ mức 5 tỷ đô CAD/tuần năm ngoái xuống mức 3 tỷ đô CAD/tuần như
hiện tại và đang dần tiến tới mức 1 tỷ đô CAD/tuần đầu năm tới.
- Quý III/2021: Sau khi trải qua nhiều đợi giãn cách, thực hiện mục tiêu kép của Chính
phủ “vừa chống dịch, vừa đảm bảo phát triển kinh tế”. Đến ngày 07/10/2021, tổng phương
tiện thanh toán M2 tăng 5,65% so với cuối năm 2020 và tăng 11,56% so với cùng kỳ 2020;
tín dụng toàn hệ thống tăng 7,42% so với cuối năm 2020, cao hơn đáng kể so với cùng
2020 (cùng kỳ năm 2020 tăng 5,48%). NHNN tiếp tục điều hành CSTT chủ động, linh hoạt
phối hợp chặt ch… với chính sách tài khóa (CSTK) và các chính sách kinh tế vĩ mô khác,
nhằm kiểm soát lạm phát, duy trì ổn định vĩ mô, thị trường, hỗ trợ phục hồi nhanh kinh tế.
- Quý IV/2021: CSTT nới lỏng thận trọng của NHNN xuyên suốt từ thời điểm dịch mới
bùng phát cho đến nay, nhiều khả năng s… tiếp tục được duy trì tới quý 4 với cung tiền và
tín dụng lần lượt là 11% và 9%. Tỷ giá USD/VND được kỳ vọng s… duy trì ổn định ở mức
23,200 đồng vào cuối năm, dự kiến hầu như không thay đổi so với đầu năm. Với bối cảnh
áp lực lạm phát trong năm 2022 đang hiện hữu.
Nhìn chung, NHNN đã đưa ra những giải pháp kết hợp giữa CSTK, CSTT và các
chính sách hỗ trợ ngành hoặc an sinh xã hội khác. Về cơ bản là phù hợp diễn biến và tác
động của dịch bệnh, tương đồng với cách tiếp cận mới của nhiều quốc gia trên thế giới.
Các chính sách được thực hiện với chi phí thấp, do vậy không gây ảnh hưởng đến các cân
đối lớn của nền kinh tế, thực hiện các giải pháp trong giai đoạn tiếp theo. Góp phần giúp
ổn định kinh tế vĩ mô, giúp Việt Nam đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế dương trong năm 2021.
ADB đánh giá, nhờ sự mở rộng thương mại mà Việt Nam có nửa đầu năm 2021 với
tăng trưởng GDP hồi phục. Tuy nhiên, tác động của đợt dịch COVID-19 lần thứ 4 là quá
quá mạnh, nó đã gây ảnh hưởng tiêu cực nguồn cung lao động, làm giảm sản lượng công
nghiệp và phá vỡ chuỗi giá trị nông nghiệp.
Sang tháng 10.2021, với việc Chính phủ đã thực hiện chính sách “sống chung với
COVID-19”, đẩy nhanh và mạnh tốc độ tiêm chủng vaccine COVID-19 cho người dân ở KINH TẾ VĨ MÔ 19 GVHD NGUYỄN ĐỨC HẢI NHÓM 7
các địa phương, việc quay trở lại sản xuất của các doanh nghiệp đã làm cho hoạt động sản
xuất kinh doanh có những thay đổi rõ nét và có chiều hướng tốt lên
Theo đó, dự báo mới nhất của tổ chức ADB (Ngân hàng Phát triển châu Á-Asian
Development Bank) thì nước ta s… xếp vị trí thứ 5 về tăng trưởng với 3,8%. Dự báo của
ADB cho Việt Nam được đưa ra từ tầm nhìn tình hình dịch bệnh tại Việt Nam giả sử s…
được kiểm soát vào cuối năm 2021, đồng thời tổ chức tiêm chủng đầy đủ cho 70% dân số
vào quý 2 năm 2022. Theo ông Jacques Morisset, kinh tế trưởng Ngân hàng Thế Giới tại
Hà Nội: "Các dự báo cho năm 2022 có khuynh hướng khả quan hơn trước viễn cảnh phần
nào kiểm soát được virus corona. Ngân Hàng Thế Giới chờ đợi tăng trưởng của Việt Nam
bật dậy, ở mức tối thiểu là 6 % cho năm 2022".
ThốngkêvềcácdựđoánkhácnhauvềtăngtrưởngkinhtếViệtNamcủacáctổchức
quốctế.Nguồn:CafeF/Nhịpsốngkinhtế
Trong khi đó, theo Triển vọng Kinh tế Thế giới (World Economic Outlook) mới cập
nhật ngày đầu tháng 10 của IMF (Quỹ Tiền tệ Quốc tế) lại cho thấy nhiều khả năng trong
năm 2021, Việt Nam s… đứng thứ 6 Đông Nam Á về quy mô kinh tế, với mức tăng trưởng
3,8%, đạt 353,77 tỷ USD, giống với báo cáo của ADB
2_ Nhiều cơ hội để nền kinh tế tăng tốc
Dịch bệnh cũng đã thúc đẩy hình thành một số cơ hội để từ đó có thể điều chỉnh
nhiều hoạt động của đời sống xã hội, kể cả hoạt động của bộ máy chính trị, góp phần khắc
phục những hạn chế, trì trệ, thay đổi những thói quen chưa tốt, gợi mở những hành vi và KINH TẾ VĨ MÔ 20