ĐẠI HỌC UEH
TRƯỜNG KINH DOANH UEH
KHOA TÀI CHÍNH
BÀI DỊCH & ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT
MÔN HỌC: HỢP NHẤT, SÁP NHẬP VÀ CẤU TRÚC DOANH NGHIỆP
TP Hồ Chí Minh, ngày 27 tháng 1 năm 2022
ĐẠI HỌC UEH
TRƯỜNG KINH DOANH UEH
KHOA TÀI CHÍNH
BÀI DỊCH & ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT
MÔN HỌC: HỢP NHẤT, SÁP NHẬP CẤU TRÚC DOANH
NGHIỆP
CHƯƠNG 2: LỊCH SỬ HÌNH THÀNH SÁP NHẬP
GV hướng dẫn: TS. Nguyễn Thị Uyên Uyên
Nhóm sinh viên thực hiện: Nhóm 2
Họ và tên MSSV SĐT Email
1. Đỗ Thành Đạt (Nhóm
trưởng)
31191026382 0934797773 datdo.31191026382@st.ueh.edu.vn
2. Lê Trung Hiếu 31191025248 0949995407 hieule.31191025248@st.ueh.edu.vn
3. Hồ Sỹ Nhật 31191027218 0819997567 nhatho.31191027218@st.ueh.edu.vn
4. Nguyễn Lương Thái Sơn 31191020911 0343306839 sonnguyen.31191020911@st.ueh.edu.vn
5. Chu Anh Tuấn 31191024184 0903070130 tuanchu.31191024184@st.ueh.edu.vn
TP Hồ Chí Minh, ngày 27 tháng 1 năm 2022
I
CHƯƠNG 2: LỊCH SỬ HÌNH THÀNH SÁP NHẬP
TÓM TẮT CHƯƠNG
Rất ít người chú ý đến lịch sử của sáp nhập. Thay vào đó, trọng tâm thường những
phát triển và đổi mới gần đây nhất. Điều này dường như đặc biệt xảy ra ở Hoa Kỳ, nơi
người ta ít dành sự tôn trọng đến những điều không phải mới mẻ. Do đó, không
đáng ngạc nhiên khi chúng ta thấy rằng nhiều sai lầm kiểu giao dịch thất bại
xảy ra trong những năm trước đó có xu hướng lặp lại. Thị trường dường như có một ký
ức ngắn chúng ta thấy rằng một hình mua bán sáp nhập (M&As) thất bại
xu hướng tái xuất hiện. Đó do chúng ta cần phải biết về lịch sử của lĩnh vực
này. Nhận thức như vậy sẽ giúp chúng ta xác định các loại giao dịch gặp vấn đề trong
quá khứ.
Đã nhiều xu hướng thú vị trong lịch s M&A gần đây: Xu hướng đầu tiên kể về
việc M&A đã trở thành một hiện tượng trên toàn thế giới thay tập trung chủ yếu
Hoa Kỳ. Các xu hướng khác có thể kể đến bao gồm sự gia tăng của những kẻ thâu tóm
thị trường sát nhập, điều này dẫn đến việc hình thành nên một hình thức đấu thầu mới
vượt trội hơn hẳn.
II
ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT
TÓM TẮT CHƯƠNG...............................................................................................................I
ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT...........................................................................................................II
PHẦN BÀI DỊCH......................................................................................................................1
1. NHỮNG LÀN SÓNG SÁP NHẬP.......................................................................................1
2. ĐIỀU GÌ DẪN ĐẾN CÁC LÀN SÓNG SÁP NHẬP?.......................................................1
3. LÀN SÓNG ĐẦU TIÊN, 1897 – 1904.................................................................................2
4. LÀN SÓNG THỨ HAI, 1916–1929.....................................................................................9
5. NHỮNG NĂM 1940............................................................................................................10
6. LÀN SÓNG THỨ BA, 1965–1969.....................................................................................11
6.1. Khoa học quản lý và Tập đoàn.......................................................................................14
6.2. Sự tập trung ngành và Làn sóng tập đoàn......................................................................14
6.3. Ảnh hưởng của việc đa dạng hóa đến tài sản cổ đông trong làn sóng tập đoàn.............15
6.4. Trò chơi từ tỷ số giá trên thu nhập và động lực để hợp nhất ....................................16
6.5. Thao túng kế toán và động lực hợp nhất........................................................................18
6.6. Sự suy giảm của làn sóng sáp nhập thứ ba.....................................................................19
6.7. Hiệu quả của các tập đoàn..............................................................................................19
7. XU HƯỚNG SÁT NHẬP VÀO NHỮNG NĂM 1970......................................................20
7.1. INCO đối đầu với ESB...................................................................................................20
7.2. United Technologies đối đầu với Otis Elevator.............................................................23
7.3. Colt Industries đối đầu với Garlock Industries..............................................................24
7.4. LING-TEMCO-VOUGHT: SỰ PHÁT TRIỂN CỦA MỘT TẬP ĐOÀN.....................25
8. LÀN SÓNG THỨ TƯ.........................................................................................................27
8.1. Vai trò của nhà thâu tóm doanh nghiệp..........................................................................31
8.2. Những đặc điểm khác của làn sóng thứ tư.....................................................................32
8.2.1. Vai trò quyết đoán của những ngân hàng đầu tư.....................................................32
8.2.2. Sự phức tạp gia tăng trong những chiến lược thâu tóm...........................................33
8.2.3. Sử dụng nhiều nợ hơn..............................................................................................33
8.2.4. Những chiến lược về luật định và chính trị.............................................................33
8.2.5. Thâu tóm quốc tế.....................................................................................................34
8.2.6. Vai trò của giảm điều tiết........................................................................................35
8.2.7. Tại sao làn sóng thứ tư kết thúc?.............................................................................35
9. LÀN SÓNG LẦN THỨ NĂM............................................................................................35
III
9.1. Sự tập trung của ngành trong làn sóng sáp nhập lần thứ Năm.......................................37
9.2. Xu hướng của làn sóng sáp nhập lần thứ Năm: Sự cuốn vào và hợp nhất của các nền
công nghiệp...........................................................................................................................38
9.3. Làn sóng sáp nhập lần thứ Năm ở Châu Âu, Châu Á, Trung và Nam Mỹ....................39
9.4. Hiệu suất của những thương vụ mua lại trong làn sóng sáp nhập thứ Năm...................39
9.5. Những nhà thầu trong thị trường mới nổi......................................................................41
9.6. Chủ nghĩa Bảo hộ Châu Âu trong những năm 2000......................................................42
10. LÀN SÓNG LẦN THỨ SÁU...........................................................................................43
1
PHẦN BÀI DỊCH
1. NHỮNG LÀN SÓNG SÁP NHẬP
Sáu giai đoạn hoạt động sáp nhập cao, thường được gọi làn sóng sáp nhập, đã diễn
ra trong lịch sử Hoa Kỳ. Các giai đoạn này được đặc trưng bởi hoạt động theo chu kỳ
nghĩa là, mức độ sáp nhập cao, sau đó các giai đoạn tương đối ít giao dịch hơn.
Bốn làn sóng đầu tiên xảy ra giữa các năm 1897 và 1904, 1916 và 1929, 1965 và 1969,
1984 1989. Hoạt độngp nhập suy giảm vào cuối những năm 1980 nhưng tiếp
tục trở lại vào đầu những năm 1990 để bắt đầu làn sóng sáp nhập thứ năm. Chúng tôi
cũng đã một khoảng thời gian sáp nhập tương đối ngắn nhưng căng thẳng từ năm
2003 đến năm 2007.
2. ĐIỀU GÌ DẪN ĐẾN CÁC LÀN SÓNG SÁP NHẬP?
Nghiên cứu đã chỉ ra rằng các làn sóng sáp nhập xu hướng được gây ra bởi sự kết
hợp của các sốc về kinh tế, quy định công nghệ.sốc kinh tế xảy ra dưới hình
thức mở rộng kinh tế thúc đẩy các công ty mở rộng để đáp ứng tổng cầu đang tăng
nhanh trong nền kinh tế. M&A một hình thức mở rộng nhanh hơn so với tăng
trưởng nội bộ tăng trưởng tự thân. Các sốc về pháp thể xảy ra thông qua
việc loại bỏ các rào cản quy định có thể đã ngăn cản sự kết hợp của các công ty. Ví dụ
bao gồm những thay đổi trong luật ngân hàng của Hoa Kỳ đã ngăn các ngân hàng vượt
qua ranh giới tiểu bang hoặc tham gia vào các ngành công nghiệp khác. Các sốc
công nghệ thể xảy ra dưới nhiều hình thức thay đổi công nghệ thể mang lại
những thay đổi mạnh mẽ trong các ngành hiện thậm chí thể tạo ra những
ngành mới.
Harford cho thấy rằng bản thân những sốc khác nhau này nhìn chung không đủ để
tạo ra một làn sóng sáp nhập. Ông đã xem xét các làn sóng của ngành, thay mức độ
tổng thể của hoạt động M&A trong giai đoạn 1981–2000. Nghiên cứu của ông về 35
làn sóng ngành xảy ra trong giai đoạn này cho thấy thanh khoản vốn cũng điều kiện
cần thiết để một làn sóng nắm giữ. Phát hiện của ông cũng chỉ ra rằng các nỗ lực định
giá sai hoặc định thời điểm thị trường của các nhà quản không phải nguyên nhân
gây ra làn sóng, mặc chúng thể nguyên nhân trong các giao dịch cụ thể. Tuy
nhiên, những phát hiện về định giá sai trái ngược với Rhodes-Kropf, Robinson
Viswanathan, những người phát hiện ra rằng định giá sai định giá sai thúc đẩy hoạt
2
động sáp nhập. Họ đo lường những điều này bằng cách so sánh chỉ số P/B với định giá
thực. Các tác giả này không nói rằng sai sót trong định giá yếu tố duy nhất trong
việc giải thích các làn sóng sáp nhập, nhưng họ nói rằng chúng có thể đóng một vai trò
quan trọng khiến mức độ định giá sai càng tăng càng nổi bật.
Rau Stouraitis đã phân tích một mẫu gồm 151.000 giao dịch của các công ty trong
giai đoạn 1980–2004, chúng không chỉ xoay quanh hoạt động mua bán sáp nhập
của công ty mà còn bao gồm nhiều sự kiện doanh nghiệp khác. Họ nhận thấy rằng “làn
sóng doanh nghiệp” dường như bắt đầu bằng những làn “sóng phát hành” mới: Khởi
đầu với những đợt phát hành cổ phiếu bổ sung (SEO), sau đó những đợt phát hành
công khai lần đầu (IPO), tiếp theo hoạt động M&A bằng cổ phiếu cuối cùng
những làn sóng mua lại. Phát hiện này ủng hộ giả thuyết “hiệu quả tân cổ điển”, ngụ ý
rằng các nhà quản sẽ cố gắng theo đuổi các giao dịch khi họ nhìn thấy hội tăng
trưởng và khi những cơ hội này mất dần, họ sẽ tham gia vào việc mua lại.
3. LÀN SÓNG ĐẦU TIÊN, 1897 – 1904
Làn sóng sáp nhập đầu tiên xảy ra sau cuộc khủng hoảng vào năm 1883, làn sóng này
đạt đến đỉnh điểm trong giai đoạn từ năm 1898 đến năm 1902 kết thúc vào năm
1904 (Bảng 2.1)
BẢNG 2.1 Làn sóng đầu tiên, 1897 – 1904
Năm Số lượng các vụ sáp nhập
1897
1898
1899
1900
1901
1902
1903
1904
69
303
1,208
340
423
379
142
79
Nguồn: Merrill Lynch Business Brokerage and Valuation, , 1989Mergerstat Review
Mặc những thương vụ sáp nhập này ảnh hưởng đến ngành khai thác sản xuất,
tuy nhiên, một vài ngành khác đã cho thấy tỷ lệ sáp nhập cao hơn. Theo một nghiên
cứu của Cục Nghiên cứu Kinh tế Quốc gia của Giáo Ralph Nelson, tám ngành
3
công nghiệp chủ yếu kim loại, thực phẩm, dầu mỏ, hóa chất, thiết bị giao thông
vận tải, chế tạo kim loại, công nghiệp máy móc khai thác than bitum chứng kiến
các hoạt động sáp nhập với tần suất lớn. Những ngành công nghiệp này chiếm khoảng
2/3 tổng số vụ sáp nhập trong thời kỳ này. Những thương vụ sáp nhập trong làn sóng
đầu tiên chủ yếu là các sáp nhập theo chiều ngang (Bảng 2.2).
BẢNG 2.2 Phân loại sáp nhập, 1895-1904
Phân loại sáp nhập Phần trăm (%)
Ngang
Dọc
Cả ngang và dọc
Tổng cộng
78.3
12
9.7
100
Nguồn: Neil Fligstein, (Cambridge, MA:The Transformation of Corporate Control
Harvard University Press, 1990), 72.
Với nhiều thương vụ sáp nhập theo chiều ngang kết hợp sự hợp nhất ngành đã dẫn đến
việc cấu trúc thị trường gần như độc quyền. Với lẽ đó, thời kỳ sáp nhập này còn
được biết đến với vai trò tạo ra các công ty độc quyền lớn. Giai đoạn này cũng gắn liền
với thương vụ sáp nhập trị giá hàng tỷ đô la đầu tiênUS Steel được thành lập bởi J.
P. Morgan - người đã kết hợp công ty Carnegie Steel, do Andrew Carnegie thành lập,
được điều hành bởi Carnegie Henry Clay Frick, với công ty Federal Steel, do
Morgan kiểm soát. Tuy nhiên, Morgan cũng đã thâu tóm thêm các công ty thép khác,
kể đến American Tin Plate, American Steel Hoop, American Steel Sheet, American
Bridge, American Steel and Wire, International Mercantile Marine National Steel,
National Tube Shelby Steel Tube. Các công tay này được sáp nhập dưới sự bảo trợ
của tập đoàn U.S. Steel, tập đoàn hùng mạnh đã kiểm soát một nửa ngành công nghiệp
thép của Hoa Kỳ. Kết quả khổng lồ thép (U.S. Steel) đã hợp nhất 785 cơ sở sản
xuất thép riêng biệt. Từng có thời điểm, U.S Steel đã chiếm tới 75% công suất sản xuất
thép của toàn bộ nước Mỹ.
Bên cạnh US Steel, một số khổng lồ công nghiệp khác hiện tại cũng được hình
thành từ làn sóng sáp nhập đầu tiên, bao gồm: DuPont, Standard Oil, General Electric,
Eastman Kodak, American Tobacco (sáp nhập với Brown Williamson vào năm
1994, sau đó hợp nhất với RJ Reynolds vào năm 2004), Navistar International
(trước đây International Harvester nhưng đã trở thành Navistar vào năm 1986 khi
4
công ty bán đi phần kinh doanh nông sản). Trong khi các công ty này đã trở thành
những tập đoàn hùng mạnh với thị phần lớn, một vài trong số đó đã trở thành doanh
nghiệp chiếm lĩnh thị trường từ làn sóng sáp nhập đầu tiên. dụ, U.S. Steel không
phải tập đoàn duy nhất thống lĩnh thị trường của mình. American Tobacco chiếm
90% thị phần, Standard Oil do J. D. Rockefeller sở hữu chiếm 85% thị phần. Trong
phong trào sáp nhập đầu tiên, 300 tổ hợp chính bao gồm nhiều lĩnh vực công
nghiệp đã kiểm soát 40% vốn sản xuất của cả quốc gia. Nelson ước tính rằng hơn 3000
công ty đã biến mất trong thời kỳ này do kết quả của các vụ sáp nhập.
Đến năm 1909, 100 tập đoàn công nghiệp lớn nhất đã kiểm soát gần 18% tài sản của
tất cả các tập đoàn công nghiệp còn lại. Ngay cả khi Đạo luật chống độc quyền
Sherman (1890) được ban hành cũng không thể ngăn cản được hoạt động độc quyền
gay gắt này. Bộ pháp bên chịu trách nhiệm chính về tác động hạn chế của Đạo
luật Sherman. Trong giai đoạn sáp nhập cao trào nhất vào những năm 1900, Bộ
pháp người chịu trách nhiệm thực thi Đạo luật Sherman, đang thiếu nhân lực
không thể thực thi việc chống độc quyền một cách quyết liệt. Các hoạt động đương
thời của Bộ Pháp hướng đến các liên đoàn lao động nhiều hơn. vậy, tốc độ sáp
nhập theo chiều ngang hợp nhất ngành tiếp tục tăng cao không bất kỳ hạn
chế nào từ Đạo luật chống độc quyền.
Vào cuối làn sóng sáp nhập lớn đầu tiên, ngành công nghiệp Hoa Kỳ chứng kiến sự gia
tăng đáng kể mức độ tập trung công nghiệp: Số lượng các công ty trong một số ngành,
chẳng hạn như ngành thép, giảm đáng kể trong một số lĩnh vực chỉ một công ty
tồn tại. Các ngành công nghiệp độc quyền vẫn được hình thành sau khi Đạo luật
Sherman được thông qua một điều đáng lên án. Tuy nhiên, bên cạnh việc Bộ
pháp thiếu nguồn lực thì các tòa án cũng không sẵn lòng thông qua các điều khoản
chống độc quyền của Đạo luật. dụ, vào năm 1895, Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đã ra
phán quyết rằng Công ty American Sugar Refining không phải công ty độc quyền
không bị hạn chế thương mại. Tòa án Tối cao Hoa Kỳ không quan tâm đến việc
Sugar Trust đã kiểm soát 98% công suất tinh chế đường tại Hoa Kỳ. Phán quyết này
đã tạo điều kiện thuận lợi cho các công ty như DuPont, Eastman Kodak, General
Electric, International Harvester, Standard Oil US Steel tham gia vào hoạt động
M&A không cần quan tấm đến sự can thiệp của pháp luật. Thoạt đầu, tòa án nhận
thấy tiêu điểm trọng tâm của Đạo luật Sherman chỉnh đốn niềm tin của c đông,
5
trong đó các nhà đầu sẽ đầu vốn vào một công ty ủy thác chứng chỉ cổ phiếu
của họ cho các giám đốc - người sẽ đảm bảo rằng cổ đông sẽ nhận được cổ tức cho
“chứng chỉ tín thác” (trust certificates) của họ.
Với sự tập trung sai lầm vào quỹ tín thác, luật lệ đã không được thi hành để cản trở
việc hình thành các công ty độc quyền trong một số ngành vào làn sóng sáp nhập đầu
tiên. Các quỹ tín thác đã được hình thành bởi nhà lãnh đạo của các doanh nghiệp độc
quyền, chẳng hạn như J. P. Morgan của Hạ viện John D. Rockefeller của Standard
Oil và National City bank như một sự phản ứng đối với những hoạt động kém hiệu quả
của nhiều doanh nghiệp quốc gia khi họ phải cố gắng sống sót trong bối cảnh tình hình
kinh tế yếu kém. Họ nhận thấy rằng cấu trúc của nhiều ngành công nghiệp, bao gồm
các công ty nhỏ kém hiệu quả, một phần nguyên nhân dẫn đến tình trạng doanh
nghiệp hoạt động yếu kém. thế, họ đã quyết định tổ chức lại các công ty yếu kém
thuộc này bằng cách buộc các cổ đông trao đổi vốn chủ sở hữu trong các công ty yếu
kém đó để lấy chứng chỉ ủy thác vào một công ty mẹ sẽ thống trị doanh nghiệp cũng
như nhiều đối thủ cạnh tranh khác. Với sự kiểm soát này, J. P. Morgan đã thể kiềm
chế được cuộc cạnh tranh khốc liệt điều ông cho rằng đang khiến các doanh nghiệp
suy yếu. Với kết quả đó, nhà đầu dần tin tưởng hơn vào sự lành mạnh của các công
ty mà Morgan và đồng nghiệp đang tìm cách tiếp thị chứng khoán. Trọng tâm ban đầu
của ông chính ngành đường sắt, vào thời điểm đó, ngành đường sắt chiếm phần lớn
cổ phiếu được giao dịch trên Thị trường Chứng khoán New York. Do một ngành có
nhu cầu về vốn lớn, các công ty đường sắt thường xuyên tiếp thị cổ phiếu và trái phiếu
của mình thông qua các chủ ngân hàng đầu trên khắp Hoa Kỳ Châu Âu. Tuy
nhiên, các công ty đường sắt thường cạnh tranh gay gắt về giá cước tìm cách đẩy
nhau đến bờ vực phá sản. Morgan ghét sự cạnh tranh tiếp diễn như vậy nên ông đã tìm
cách tổ chức lại ngành này. Cuối cùng, nhờ vào việc sử dụng các quỹ tín thác, ông đã
đẩy các nhà quản xu hướng cạnh tranh khóc liệt sang một bên thay thế họ
bằng những người quản thể quản trị thị trường một cách trật tự hơn. mối
quan tâm của Morgan tập trung vào các nhà đầu muốn tìm kiếm lợi nhuận nên ông
không xem xét đến việc người tiêu dùng thể bị ảnh hưởng bởi những vụ hợp nhất
này.
Các quỹ tín thác ngày càng phát triển trở nên thống lĩnh một vài ngành công
nghiệp, trong số đó phải kể đến American Cottonseed Oil Trust the National Lead
6
Trust, lần lượt chiếm lĩnh ngành công nghiệp dầu mỏ. Kết quả Morgan Bank đã
kiểm soát First National Bank, the National Bank of Commerce, the First National
Bank of Chicago, Liberty National Bank, Chase National Bank, Hanover National
Bank và the Astor National Bank.
Ngoài việc thực thi lỏng lẻo luật chống độc quyền liên bang, một vài do pháp
khác có thể giải thích tại sao làn sóng sáp nhập đầu tiên lại phát triển mạnh đến vậy. Ví
dụ, một số bang, luật doanh nghiệp dần dần được nới lỏng. Cụ thể, các tập đoàn dần
khả năng đảm bảo vốn, nắm giữ cổ phần tại các tập đoàn khác mở rộng ngành
nghề kinh doanh tốt hơn, từ đó tạo ra môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp để
thực hiện sáp nhập. Khả ng tiếp cận vốn đa dạng sẽ giúp các công ty dễ dàng huy
động nguồn tài chính cần thiết để thực hiện một thương vụ mua lại; Những lỏng lẻo
trong quy tắc kiểm soát việc s hữu cổ phần của các tập đoàn đã cho phép các doanh
nghiệp mua lại cổ phần của các công ty khác nhằm mục đích thâu tóm công ty.
Tuy nhiên, không phải tất cả các bang đều tự do hóa luật doanh nghiệp. Do đó, một vài
bang tốc độ M&A nhanh hơn so với các bang còn lại. New Jersey, nơi việc
thông qua Đạo luật New Jersey Holding Company năm 1888 đã giúp tự do hóa luật
doanh nghiệp của tiểu bang, đã trở thành bang dẫn đầu về M&A theo sau bang New
York Delaware. Đạo luật đã tạo điều kiện cho các quỹ tín thác được hình thành
bang New Jersey đã trở thành thánh địa cho hình thức công ty này. Đạo luật này đã
gây áp lực buộc các bang khác phải ban hành luật tương tự thay chứng kiến các
công ty của mình chuyển sang tái hợp nhất New Jersey. Tuy nhiên, vẫn nhiều
công ty chọn hợp nhất tại New Jersey, điều này giải thích cho sự đa dạng của các công
ty New Jersey khi tham gia vào làn sóng sáp nhập đầu tiên. Xu hướng này giảm
đáng kể vào năm 1915 khi sự khác biệt trong luật doanh nghiệp nhà nước đã trở nên
kém quan trọng hơn.
Ngoài ra, sự phát triển về hệ thống giao thông Hoa Kỳ cũng là một trong những yếu tố
chính khởi đầu làn sóng sáp nhập đầu tiên. Sau cuộc nội chiến, việc hình thành một hệ
thống đường sắt lớn đã tạo ra các thị trường quốc gia thay vì những thị trường khu vực
cho các công ty thể phục vụ. Các tuyến đường sắt xuyên lục địa, chẳng hạn như
Union Pacific – Trung Thái Bình Dương, được hoàn thành vào năm 1869, kết nối miền
Tây Hoa Kỳ với phần còn lại của đất nước. Tiềm năng của công ty không còn bị giới
hạn bởi các ranh giới thị trường mà đã mở rộng hơn để tận dụng lợi thế của thị trường.
7
Các doanh nghiệp bây giờ cần phải đối mặt với sự cạnh tranh từ các đối thủ xa được
chọn để sáp nhập với các đối thủ cạnh tranh khác trong địa phương để duy trì thị phần
của mình. Những thay đổi trong hệ thống giao thông quốc gia khiến việc cung cấp cho
các thị trường xa đã trở nên dễ dàng ít tốn kém hơn. Chi phí vận tải hàng hóa
bằng đường sắt giảm với tốc độ trung bình 3,7%/năm từ năm 1882 đến năm 1900. Vào
đầu những năm 1900, chi phí vận tải tăng rất ít mặc dù nhu cầu về dịch vụ vận tải tăng
cao. Điều thú vị là với khả năng tiếp tục vận chuyển hàng hoá toàn cầu với chi phí hiệu
quả của mình, các tuyến đường sắt Hoa Kỳ đã gây ấn tượng mạnh với Warren Buffett
nhiều đến mức o năm 2009, ông đã đấu thầu 26,3 tỷ đô la tiền mặt cổ phiếu cho
phần còn lại của tuyến đường sắt Burlington Northern ông chưa thực sự sở hữu.
Burlington Northern thực chất kết quả của 390 thương vụ M&A đường sắt khác
nhau trong giai đoạn 1850–2000.
Một vài thay đổi trong cấu khác đã giúp các doanh nghiệp phục vụ thị trường quốc
gia tốt hơn. dụ, việc phát minh ra máy hút thuốc theo quy trình sản xuất liên tục
Bonsack đã cho phép Công ty Thuốc Mỹ cung cấp cho thị trường thuốc quốc gia
một số lượng máy móc sản xuất thuốc tương đối nhỏ. Khi các công ty mở rộng, họ
chú trọng tận dụng lợi thế kinh tế theo quy trong sản xuất phân phối. dụ, chỉ
với ba nhà máy lọc dầu, Standard Oil Trust đã thể nắm giữ 40% sản lượng dầu của
thế giới. Máy lọc dầu của Standard Oil Trust đã loại bỏ những thực vật không cần
thiết, do đó đạt được hiệu quả cao hơn. Nhiều ngành sản xuất khác của nền kinh tế
Hoa Kỳ cũng theo đuổi lợi thế kinh tế theo quy trong thời điểm đó. Các công ty
các nhà quản trị bắt đầu nghiên cứu quy trình sản xuất với nỗ lực nâng cao khả năng
tham gia vào quy trình sản xuất hàng loạt. Việc mở rộng quy kinh doanh cũng đòi
hỏi kỹ năng quản cao hơn dẫn đến việc chuyên môn hóa trong các công tác quản
lý.
Như đã đề cập trước đó, làn sóng sáp nhập đầu tiên diễn ra vào năm 1897, tuy nhiên,
cuộc chiến tiếp quản đầu tiên đã bắt đầu vào năm 1868. Mặc thuật ngữ cuộc chiến
tiếp quản được sử dụng ngày nay nhằm mô tả những xung đột đôi khi gay gắt giữa các
công ty trong việc tiếp quản, nhưng vào giai đoạn của làm sóng sáp nhập đầu tiên,
thể được áp dụng một cách tự do hơn cho những vụ xung đột. Một cuộc chiến tiếp
quản thể kể đến nỗ lực giành quyền kiểm soát Đường sắt Erie vào năm 1868.
Đây cuộc cạnh tranh giữa Cornelius Vanderbilt với Daniel Drew, Jim Fisk Jay
8
Gould. Đường sát Erie lúc đó đã tự bảo vệ mình, chống lại việc tiếp quản bằng cách
phát hành một lượng lớn hàng tồn kho trong chiến dịch được gọi chiến dịch tiếp
quản cổ phiếu mặc họ không được phép làm như vậy. Vào thời điểm đó, do việc
hối lộ các thẩm phán quan chức khá phổ biến nên mức xử phạt dành cho việc vi
phạm luật doanh nghiệp không quá gay gắt. Cuộc chiến giành quyền kiểm soát đường
sắt Eire diễn ra ngày càng gay gắt khi công ty mục tiêu thuê vệ được trang bị súng
đại bác để bảo vệ trụ sở của mình. Cuộc chiến tiếp quản kết thúc khi Vanderbilt từ
bỏ các cuộc tấn công vào Đường sắt Erie chuyển sự chú ý sang các mục tiêu yếu
hơn.
Vào cuối thế kỷ 19, với tính chất ác liệt của các cuộc chiến tiếp quản, công chúng ngày
càng lo ngại về các hoạt động kinh doanh phi đạo đức. Luật doanh nghiệp thực sự
không có hiệu lực trong nhữngm 1890. Để đối phó với nhiều cuộc biểu tình chống
đường sắt (anti-railroad protests), Quốc hội đã thành lập Ủy ban Thương mại Liên tiểu
bang vào năm 1897. Chính quyền Harrison, Cleveland McKinley (1889–1901) đều
rất ủng hộ ý tưởng này c gắng lấp đầy ủy ban với những người ủng đường sắt
được bầu chọn để điều tiết quản lý. Mãi cho đến khi Luật chống độc quyền được thông
qua vào cuối những năm 1800 đầu những năm 1900 Luật chứng khoán cũng trở
nên khắt khe hơn sau cuộc Đại suy thoái thì hệ thống pháp luật mới đạt được sức mạnh
cần thiết để ngăn cản các chiến thuật tiếp quản phi đạo đức.
thiếu sự ràng buộc cần thiết về mặt pháp lý, cộng đồng ngân hàng doanh nghiệp
đã áp dụng quy tắc hành vi đạo đức tự nguyện của riêng mình. Quy tắc này được thực
thi bởi một thỏa thuận bất thành văn giữa các chủ ngân hàng đầu tư, những người này
đồng ý chỉ kinh doanh với các công ty tuân thủ các tiêu chuẩn đạo đức cao hơn của họ.
Ngày nay, Vương quốc Anh dựa trên một quy tắc tự nguyện như vậy. Mặc các tiêu
chuẩn không chính thức này không loại trừ tất cả các hoạt động không chính đáng
trong việc theo đuổi việc tiếp quản nhưng chúng đã tạo tiền đề cho các hành vi hợp
trong làn sóng tiếp quản đầu tiên
Các yếu tố tài chính hơn các hạn chế pháp đã buộc làn sóng sáp nhập đầu tiên
phải kết thúc. Thứ nhất, sự sụp đổ của quỹ tín thác đóng tàu vào đầu những năm 1900
đã dẫn đến nguygian lận tài chính. Thứ hai, điều quan trọng nhất, sự sụp đổ của thị
trường chứng khoán năm 1904, sau đó Cuộc khủng hoảng ngân hàng năm 1907 đã
làm nhiều ngân hàng của nhiều quốc gia đóng cửa và cuối cùng mở đường cho sự hình
9
thành của H thống Dự trữ Liên bang. Do thị trường chứng khoán suy giảm hệ
thống ngân hàng yếu kém, các yếu tố tài chính bản để thúc đẩy hoạt động tiếp quản
đã dần biến mất. Nếu không những điều này, thời kỳ tiếp quản đại đầu tiên đã
dừng lại. Một số nhà sử học kinh tế đã giải thích nhiều sự kết hợp theo chiều ngang
diễn ra trong làn sóng đầu tiên là một nỗ lực để đạt được lợi thế kinh tế theo quy mô.
Thông qua M&As, các công ty đang mở rộng đã tìm cách tăng hiệu quả bằng cách
giảm chi phí trên mỗi đơn vị. Thực tế phần lớn các vụ sáp nhập này không thành
công nghĩa các công ty này đã không thành công trong việc theo đuổi nâng cao
hiệu suất. Dưới thời Tổng thống Theodore Roosevelt, người nắm quyền điều hành từ
năm 1901 đến năm 1909, môi trường chống độc quyền ngày càng nghiêm ngặt n.
Mặc ông không đóng vai trò quan trọng trong việc kết thúc làn sóng đầu tiên,
Roosevelt, người được biết đến với biệt danh kẻ đáng tin cậy, vẫn tiếp tục cố gắng gây
áp lực lên các hoạt động chống cạnh tranh.
Thoạt đầu chính phủ không thành công trong các vụ kiện chống độc quyền, nhưng đến
cuối nhiệm kỳ của Roosevelt, chính phủ bắt đầu nhận ra được nhiều thành công hơn
trong các phòng xử án. Quyết định mang tính bước ngoặt của Tòa án Tối cao trong vụ
việc Chứng khoán miền Bắc năm 1904 một dụ về thành công lớn của chính phủ
trong việc thực hiện các hành động chống độc quyền. Mặc Tổng thống Roosevelt
nổi tiếng người được ủy thác, nhưng chính người kế nhiệm của ông, William
Howard Taft, người đã thành công trong việc phá bỏ một số ủy thác lớn. Thật trớ
trêu khi nhiều công ty thành lập trong sự tan vỡ của các quỹ tín thác lớn đã trở thành
những doanh nghiệp rất lớn. dụ, Standard Oil được chia thành các công ty như
Standard Oil of New Jersey, sau này trở thành Exxon; Standard Oil của New York, trở
thành Mobil sáp nhập với Exxon vào năm 1998; Standard Oil of California, đã đổi
tên thành Chevron mua lại Gulf Oil vào năm 1985, Texaco vào năm 2001
Unocal vào năm 2005; Standard Oil of Indiana trở thành Amoco được BP mua
lại vào năm 1998. Sự hợp nhất giữa một số thành phần của Standard Oil phản ánh
sự hoàn tác một phần của quá trình tan này thị trường xăng dầu đã trở nên toàn
cầu những hậu duệ này của J.D. Công ty của Rockefeller hiện phải đối mặt với
nhiều cạnh tranh quốc tế.
10
4. LÀN SÓNG THỨ HAI, 1916–1929
George Stigler, nhà kinh tế học từng đoạt giải Nobel cựu giáo tại Đại học
Chicago, đã so sánh làn sóng sáp nhập đầu tiên thứ hai "hợp nhất để độc quyền"
so với "sáp nhập để độc quyền nhóm". Trong làn sóng sáp nhập thứ hai, một số ngành
công nghiệp đã được hợp nhất. Thay độc quyền, các ngành công nghiệp thường
cấu trúc độc quyền nhóm. hình hợp nhất được thiết lập trong giai đoạn sáp nhập
đầu tiên tiếp tục vào giai đoạn thứ hai. Trong giai đoạn thứ hai này, nền kinh tế Hoa
Kỳ tiếp phát triển, chủ yếu do sự bùng nổ kinh tế sau chiến tranh thế giới lần thứ
nhất, cung cấp nhiều vốn đầu cho thị trường chứng khoán đang hưng phấn. Sự sẵn
của vốn, được thúc đẩy bởi các điều kiện kinh tế thuận lợi yêu cầu quỹ lỏng
lẻo, tạo tiền đề cho sự sụp đổ của thị trường chứng khoán năm 1929.
Môi trường chống độc quyền của những năm 1920 trở nên nghiêm ngặt hơn so với
môi trường thịnh vượng trước làn sóng sáp nhập đầu tiên. Đến năm 1910, Quốc hội
cảm thấy lo ngại về sự lạm dụng của thị trường quyền lực được nắm giữ bởi các
công ty độc quyền. Điều này cho thấy Đạo luật Sherman không phải một biện pháp
hiệu quả để ngăn chặn độc quyền. Kết quả là, Quốc hội đã thông qua Đạo luật Clayton
vào năm 1914, một đạo luật củng cố các điều khoản chống lại Đạo luật Sherman. (Để
thảo luận về Đạo luật Sherman Clayton, xem Chương 3.) Khi nền kinh tế hệ
thống ngân hàng phục hồi vào cuối nhữngm 1900, luật chống độc quyền này đã trở
thành một biện pháp ngăn chặn độc quyền phần quan trọng hơn. Với một môi
trường chống độc quyền nghiêm ngặt hơn, làn sóng sáp nhập thứ hai tạo ra ít công ty
độc quyền hơn nhưng nhiều nhóm độc quyền hơn nhiều vụ sáp nhập theo chiều
dọc. Thêm vào đó, nhiều công ty trong các ngành công nghiệp khác nhau đã sáp nhập
với nhau. Đây shình thành quy lớn đầu tiên của các tập đoàn. Tuy nhiên, mặc
dù các kết hợp kinh doanh này liên quan đến các công ty không trực tiếp sản xuất cùng
một sản phẩm, họ thường có các dòng sản phẩm tương tự.
Với việc ban hành Đạo luật Clayton Sherman, chính phủ Hoa Kỳ đã hội tốt
để tham gia vào công tác thực thi chống độc quyền hiệu quả hơn so với những đã
xảy ra trong làn sóng sáp nhập đầu tiên. Tuy nhiên, trọng tâm chính vẫn trấn áp các
hoạt động kinh doanh không công bằng ngăn chặn các thoả thuận kiểm soát về giá
hoặc tổ hợp tài sản, trái ngược với việc ngăn chặn các vụ sáp nhập chống cạnh tranh.
Tại thời điểm đó, việc ấn định giá rộng rãi đã xảy ra trong nhiều ngành công nghiệp,
11
được cho mối nguy hại đối với cạnh tranh hơn đối với sáp nhập, hiện chủ yếu
các giao dịch theo chiều dọc hoặc tập đoàn. Cũng giống như trong làn sóng sáp nhập
đầu tiên, giai đoạn sáp nhập thứ hai chứng kiến sự hình thành của nhiều tập đoàn nổi
tiếng vẫn hoạt động cho đến ngày nay. Chúng bao gồm General Motors, IBM, John
Deere và Union Carbide.
5. NHỮNG NĂM 1940
Trước khi chúng ta tiến tới một cuộc thảo luận về giai đoạn sáp nhập thứ ba, chúng ta
sẽ xem xét một cách ngắn gọn các vụ sáp nhập vào những năm 1940. Trong thập kỷ
này, các công ty lớn hơn đã mua lại các công ty nhân nhỏ hơn với động để giảm
thuế. Trong thời kỳ này với thuế bất động sản cao, việc chuyển nhượng doanh nghiệp
trong gia đình rất tốn kém; do đó, động lực để bán ra cho các công ty khác cũng nảy
sinh. Những sự hợp nhất này không làm tăng mức độ tập trung hầu hết trong các sự
hợp nhất này không đại diện cho một tỷ lệ đáng kể trong tổng tài sản của ngành. Hầu
hết các sự kết hợp của các hoạt động kinh doanh gia đình liên quan đến các công ty
nhỏ hơn.
Những năm 1940 không xảy ra bất kỳ thay đổi lớn nào về công nghệ hay sự phát triển
mạnh mẽ trong sở hạ tầng của quốc gia. Do đó, sự gia tăng về số lượng các vụ sáp
nhập là tương đối nhỏ. Tuy nhiên, số lượng của họ vẫn gây mối quan ngại từ Quốc hội
Quốc hội đã phản ứng bằng cách thông qua Đạo luật Celler-Kefauver vào năm
1950. Luật này củng cố Mục 7 của Đạo luật Clayton. Để biết thêm thông tin chi tiết về
Đạo luật Clayton, hãy xem phần sau và Chương 3.)
6. LÀN SÓNG THỨ BA, 1965–1969
Làn sóng sáp nhập thứ ba mức độ hoạt động sáp nhập cao trong lịch sử. Điều này
diễn ra một phần do nền kinh tế đang bùng nổ. Những năm này, thường được gọi
giai đoạn sáp nhập tập đoàn và không có gì lạ khi các công ty tương đối nhỏ hơn nhắm
đến các công ty lớn hơn để mua lại. Ngược lại, trong hai làn sóng trước đó, phần lớn
các công ty mục tiêu nhỏ hơn đáng kể so với các công ty mua lại. Peter Steiner báo cáo
rằng "việc mua lại các công ty tài sản trên 100 triệu đô la, trung bình chỉ đạt 1,3
công ty mỗi năm từ năm 1948 đến năm 1960 5 công ty mỗi năm từ 1961 đến
1966, , đã tăng lên 24 vào năm 1967, 31 vào năm 1968, 20 vào năm 1969, 12 vào năm
12
1970 trước khi giảm xuống còn 5 mỗi năm vào năm 1971 và 1972."15
Số lượng các thương vụ M&As trong những năm 1960 được thể hiện trong Biểu đồ
2.1. Những dữ liệu này được biên soạn bởi W. T. Grimm and Company (nay được
cung cấp bởi Houlihan Lokey Howard & Zukin), bắt đầu ghi nhận các thông báo
M&A vào ngày 1 tháng 1 năm 1963.
BIỂU ĐỒ 2.1 Làn sóng sáp nhập thứ ba, các thông báo sáp nhập mua lại, 1963-
1970. Làn sóng sáp nhập thứ ba đạt đỉnh điểm vào năm 1969. Sự suy giảm của thị
trường chứng khoán, cùng với cải cách thuế, đã làm giảm động lực sáp nhập. Nguồn:
Mergerstat Review,2014.
Như đã nêu, một tỷ lệ lớn hơn của thương vụ sáp nhập mua lại diễn ra trong giai
đoạn này giao dịch tập đoàn. Uỷ ban Thương mại Liên bang (The Federal Trade
Commission, FTC) đã báo cáo rằng 80% các vụ sáp nhập diễn ra trong giai đoạn 10
năm từ 1965 đến 1975 là sáp nhập tập đoàn.16
Các tập đoàn được thành lập trong giai đoạn này không chỉ đơn thuần đa dạng hóa
trong các dòng sản phẩm của mình. Thuật ngữ “Công ty đa ngành” (diversified firms)
thường được áp dụng cho các công ty một số công ty con trong các ngành công
nghiệp khác nhưng phần lớn sản xuất của họ vẫn nằm trong một loại ngành. Không
giống như các công ty đa ngành, các tập đoàn một tỷ lệ lớn các hoạt động kinh
doanh của họ trong các ngành công nghiệp khác nhau. Một dụ điển hình Ling-
Temco-Vought (LTV), Litton Industries ITT. Trong những năm 1960, ITT đã mua
lại các một loạt doanh nghiệp đa dạng như Avis Rent A Car, Sheraton Hotels,
Continental Baking và các doanh nghiệp ở rất xa khác, chẳng hạn như chuỗi nhà hàng,
đại tín dụng tiêu dùng, công ty xây dựng các công ty kinh doanh bãi đáp máy
bay. Mặc làn sóng sáp nhập thứ ba liên quan đến các công ty tập đoàn nổi tiếng
13
như ITT LTV, nhiều tập đoàn quy khác nhau cũng tham gia vào chiến lược
đa dạng hóa. Nhiều công ty vừa và nhỏ cũng chạy theo phong trào này và chuyển sang
kinh doanh các lĩnh vực nằm bên ngoài hoạt động kinh doanh cốt lõi của họ.
Khi các công ty nguồn lực tài chính tìm cách mở rộng, họ sẽ phải đối mặt với việc
thực thi chống độc quyền cứng rắn hơn. Trong giai đoạn chống độc quyền tăng cao
của những năm 1960 là sự phát triển của Đạo luật Celler-Kefauver năm 1950, đạo luật
này đã tăng cường các điều khoản chống lại của Đạo luật Claytonm 1914. Đạo luật
Clayton đã làm cho việc mua lại cổ phiếu của các công ty khác bất hợp pháp khi
việc mua lại dẫn đến việc những sự sáp nhập sẽ làm giảm đáng kể mức độ cạnh
tranh trong một ngành. Tuy nhiên, vẫnmột lỗ hổng quan trọng: luật này không loại
trừ việc mua lại tài sản của một công ty. Đạo luật Celler-Kefauver đã lấp lỗ hổng này.
Được trang bị những chế Luật mạnh hơn, chính phủ liên bang đã áp dụng một lập
trường chống độc quyền mạnh mẽ hơn, cứng rắn hơn với cả hình thức sáp nhập theo
chiều ngang chiều dọc. Các công ty mang ý định mở rộng nhận thấy rằng lựa chọn
thay thế duy nhất có sẵn của họ là thành lập các tập đoàn.
Việc thực thi chống độc quyền mạnh mẽ hơn đối với các vụ sáp nhập theo chiều ngang
được thúc đẩy một phần bởi môi trường chính trị của những năm 1960. Vào thập kỷ
này, các nhà hoạch định chính sách Washington, nhấn mạnh khả năng lạm dụng
quyền lực từ độc quyền, các nhà hoạch định này đã làm việc thông qua FTC Bộ
pháp để hạn chế những sự mở rộng của các công ty khả năng tạo ra tình trạng lạm
dụng độc quyền. Những người ủng hộ chính của việc thực thi chống độc quyền cứng
rắn hơn Bộ trưởng Bộ Tư pháp John Mitchell TrợBộ trưởng pháp Richard
McLaren, kiến trúc chính của các nỗ lực chống độc quyền của chính phủ liên bang
trong những năm 1960. Trong cuốn sách “Managing” của mình, Harold Geneen, khi
đó giám đốc điều hành của ITT, đã tả sự khó khăn công ty của ông trong
việc mua lại các công ty khi McLaren còn đương nhiệm. McLaren phản đối việc mua17
lại tập đoàn vì lo ngại về "tiềm năng trong sự tương hỗ". Điều này sẽ xảy ra, ví dụ, nếu
tiềm năng ITT các công ty con khác của mang lại Hartford Insurance, một
công ty ITT mua lại, một lợi thế cạnh tranh so với các công ty bảo hiểm khác. ITT đã
buộc phải thỏa hiệp lại kế hoạch bổ sung Hartford vào đế chế tập đoàn của mình. ITT
chỉ thể tiến hành mua lại sau khi đồng ý thoái vốn khỏi các bộ phận khác cùng
tổng quy của Bảo hiểm Hartford không mua lại một công ty bảo hiểm lớn khác
14
trong 10 năm không sự chấp thuận trước của Bộ pháp. Nhiều năm sau, Ủy
ban Châu Âu cũng lên tiếng về những lập luận tương tự để phản đối việc tiếp quản
trong những năm 2000.
Với việc đắc cử của Richard M. Nixon vào cuối thập kỷ, các nhà hoạch định chính
sách của Washington ủng hộ một định hướng thị trường tự do hơn. Nixon ủng hộ
chính sách này thông qua việc bốn người được bổ nhiệm vào Tòa án Tối cao Hoa Kỳ,
cả bốn đều những người tán thành một cách giải thích rộng hơn về các khái niệm
như thị phần. Việc thực thi chống độc quyền cứng rắn của Bộ Tư pháp đã kết thúc vào
năm 1972, khi Tòa án Tối cao không chấp nhận giải thích của Bộ pháp về luật
chống độc quyền. dụ, trong một số trường hợp, Tòa án Tối cao bắt đầu sử dụng
quan điểm thị trường quốc tế rộng lớn trái ngược với định nghĩa thị trường trong nước
hoặc thậm chí khu vực hẹp hơn. Do đó, nếu kết quả của việc sáp nhập, một công ty
thị phần lớn tại thị trường Hoa Kỳ hoặc một khu vực của quốc gia nhưng một thị phần
nhỏ tại thị trường quốc tế,thể được đánh giá thiếu các đặc điểm độc quyền
ý nghĩa. Tuy nhiên, đến thời điểm này, làn sóng sáp nhập thứ ba đã đến hồi kết.
6.1. Khoa học quản lý và Tập đoàn
Sự phát triển nhanh chóng của khoa học quản đã thúc đẩy các phong trào tập đoàn.
Các trường quản lý bắt đầu đạt được sự chấp nhận rộng rãi trong số các trường đào tạo
đại học nổi tiếng, bằng thạc sĩ quản trị kinh doanh đã trở thành một bằng cấp có giá
trị cho giám đốc điều hành công ty. Ngành khoa học quản đã phát triển phương
pháp luận tạo điều kiện cho quản tổ chức thuyết thể được áp dụng cho
nhiều tổ chức, bao gồm các tập đoàn, chính phủ, tổ chức giáo dục và thậm chí cả quân
đội. Khi các nguyên tắc quảnnày được chấp nhận rộng rãi hơn, sinh viên tốt nghiệp
trong giai đoạn của phong trào này tin rằng họ các kỹ năng trên diện rộng cần thiết
để quản nhiều loại cấu trúc tổ chức khác nhau. Các nhà quản này tin rằng họ
thể quản một tổ chức công ty trải dài trên các loại ngành khác nhau. Niềm tin
rằng các tập đoàn thể trở thành một doanh nghiệp thành công thể quản
được đang dần trở thành hiện thực.
6.2. Sự tập trung ngành và Làn sóng tập đoàn
Bởi vì hầu hết các vụ sáp nhập trong làn sóng thứ ba liên quan đến việc hình thành các

Preview text:

ĐẠI HỌC UEH TRƯỜNG KINH DOANH UEH KHOA TÀI CHÍNH
BÀI DỊCH & ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT
MÔN HỌC: HỢP NHẤT, SÁP NHẬP VÀ CẤU TRÚC DOANH NGHIỆP
TP Hồ Chí Minh, ngày 27 tháng 1 năm 2022 ĐẠI HỌC UEH TRƯỜNG KINH DOANH UEH KHOA TÀI CHÍNH
BÀI DỊCH & ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT
MÔN HỌC: HỢP NHẤT, SÁP NHẬP VÀ CẤU TRÚC DOANH NGHIỆP
CHƯƠNG 2: LỊCH SỬ HÌNH THÀNH SÁP NHẬP
GV hướng dẫn: TS. Nguyễn Thị Uyên Uyên
Nhóm sinh viên thực hiện: Nhóm 2 Họ và tên MSSV SĐT Email 1. Đỗ Thành Đạt (Nhóm 31191026382 0934797773
datdo.31191026382@st.ueh.edu.vn trưởng) 2. Lê Trung Hiếu 31191025248 0949995407
hieule.31191025248@st.ueh.edu.vn 3. Hồ Sỹ Nhật 31191027218 0819997567
nhatho.31191027218@st.ueh.edu.vn 4. Nguyễn Lương Thái Sơn
31191020911 0343306839 sonnguyen.31191020911@st.ueh.edu.vn 5. Chu Anh Tuấn 31191024184 0903070130
tuanchu.31191024184@st.ueh.edu.vn
TP Hồ Chí Minh, ngày 27 tháng 1 năm 2022 I
CHƯƠNG 2: LỊCH SỬ HÌNH THÀNH SÁP NHẬP TÓM TẮT CHƯƠNG
Rất ít người chú ý đến lịch sử của sáp nhập. Thay vào đó, trọng tâm thường là những
phát triển và đổi mới gần đây nhất. Điều này dường như đặc biệt xảy ra ở Hoa Kỳ, nơi
mà người ta ít dành sự tôn trọng đến những điều không phải là mới mẻ. Do đó, không
có gì đáng ngạc nhiên khi chúng ta thấy rằng nhiều sai lầm và kiểu giao dịch thất bại
xảy ra trong những năm trước đó có xu hướng lặp lại. Thị trường dường như có một ký
ức ngắn và chúng ta thấy rằng một mô hình mua bán và sáp nhập (M&As) thất bại có
xu hướng tái xuất hiện. Đó là lý do mà chúng ta cần phải biết về lịch sử của lĩnh vực
này. Nhận thức như vậy sẽ giúp chúng ta xác định các loại giao dịch gặp vấn đề trong quá khứ.
Đã có nhiều xu hướng thú vị trong lịch sử M&A gần đây: Xu hướng đầu tiên kể về
việc M&A đã trở thành một hiện tượng trên toàn thế giới thay vì tập trung chủ yếu ở
Hoa Kỳ. Các xu hướng khác có thể kể đến bao gồm sự gia tăng của những kẻ thâu tóm
thị trường sát nhập, điều này dẫn đến việc hình thành nên một hình thức đấu thầu mới vượt trội hơn hẳn. II ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT
TÓM TẮT CHƯƠNG...............................................................................................................I
ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT...........................................................................................................II
PHẦN BÀI DỊCH......................................................................................................................1
1. NHỮNG LÀN SÓNG SÁP NHẬP.......................................................................................1
2. ĐIỀU GÌ DẪN ĐẾN CÁC LÀN SÓNG SÁP NHẬP?.......................................................1
3. LÀN SÓNG ĐẦU TIÊN, 1897 – 1904.................................................................................2
4. LÀN SÓNG THỨ HAI, 1916–1929.....................................................................................9
5. NHỮNG NĂM 1940............................................................................................................10
6. LÀN SÓNG THỨ BA, 1965–1969.....................................................................................11
6.1. Khoa học quản lý và Tập đoàn.......................................................................................14
6.2. Sự tập trung ngành và Làn sóng tập đoàn......................................................................14
6.3. Ảnh hưởng của việc đa dạng hóa đến tài sản cổ đông trong làn sóng tập đoàn.............15
6.4. Trò chơi từ tỷ số giá trên thu nhập và động lực để hợp nhất
....................................16
6.5. Thao túng kế toán và động lực hợp nhất........................................................................18
6.6. Sự suy giảm của làn sóng sáp nhập thứ ba.....................................................................19
6.7. Hiệu quả của các tập đoàn..............................................................................................19
7. XU HƯỚNG SÁT NHẬP VÀO NHỮNG NĂM 1970......................................................20
7.1. INCO đối đầu với ESB...................................................................................................20
7.2. United Technologies đối đầu với Otis Elevator.............................................................23
7.3. Colt Industries đối đầu với Garlock Industries..............................................................24
7.4. LING-TEMCO-VOUGHT: SỰ PHÁT TRIỂN CỦA MỘT TẬP ĐOÀN.....................25
8. LÀN SÓNG THỨ TƯ.........................................................................................................27
8.1. Vai trò của nhà thâu tóm doanh nghiệp..........................................................................31
8.2. Những đặc điểm khác của làn sóng thứ tư.....................................................................32
8.2.1. Vai trò quyết đoán của những ngân hàng đầu tư.....................................................32
8.2.2. Sự phức tạp gia tăng trong những chiến lược thâu tóm...........................................33
8.2.3. Sử dụng nhiều nợ hơn..............................................................................................33
8.2.4. Những chiến lược về luật định và chính trị.............................................................33
8.2.5. Thâu tóm quốc tế.....................................................................................................34
8.2.6. Vai trò của giảm điều tiết........................................................................................35
8.2.7. Tại sao làn sóng thứ tư kết thúc?.............................................................................35
9. LÀN SÓNG LẦN THỨ NĂM............................................................................................35 III
9.1. Sự tập trung của ngành trong làn sóng sáp nhập lần thứ Năm.......................................37
9.2. Xu hướng của làn sóng sáp nhập lần thứ Năm: Sự cuốn vào và hợp nhất của các nền
công nghiệp...........................................................................................................................38
9.3. Làn sóng sáp nhập lần thứ Năm ở Châu Âu, Châu Á, Trung và Nam Mỹ....................39
9.4. Hiệu suất của những thương vụ mua lại trong làn sóng sáp nhập thứ Năm...................39
9.5. Những nhà thầu trong thị trường mới nổi......................................................................41
9.6. Chủ nghĩa Bảo hộ Châu Âu trong những năm 2000......................................................42
10. LÀN SÓNG LẦN THỨ SÁU...........................................................................................43 1 PHẦN BÀI DỊCH
1. NHỮNG LÀN SÓNG SÁP NHẬP
Sáu giai đoạn hoạt động sáp nhập cao, thường được gọi là làn sóng sáp nhập, đã diễn
ra trong lịch sử Hoa Kỳ. Các giai đoạn này được đặc trưng bởi hoạt động theo chu kỳ
— nghĩa là, mức độ sáp nhập cao, sau đó là các giai đoạn tương đối ít giao dịch hơn.
Bốn làn sóng đầu tiên xảy ra giữa các năm 1897 và 1904, 1916 và 1929, 1965 và 1969,
và 1984 và 1989. Hoạt động sáp nhập suy giảm vào cuối những năm 1980 nhưng tiếp
tục trở lại vào đầu những năm 1990 để bắt đầu làn sóng sáp nhập thứ năm. Chúng tôi
cũng đã có một khoảng thời gian sáp nhập tương đối ngắn nhưng căng thẳng từ năm 2003 đến năm 2007.
2. ĐIỀU GÌ DẪN ĐẾN CÁC LÀN SÓNG SÁP NHẬP?
Nghiên cứu đã chỉ ra rằng các làn sóng sáp nhập có xu hướng được gây ra bởi sự kết
hợp của các cú sốc về kinh tế, quy định và công nghệ. Cú sốc kinh tế xảy ra dưới hình
thức mở rộng kinh tế thúc đẩy các công ty mở rộng để đáp ứng tổng cầu đang tăng
nhanh trong nền kinh tế. M&A là một hình thức mở rộng nhanh hơn so với tăng
trưởng nội bộ và tăng trưởng tự thân. Các cú sốc về pháp lý có thể xảy ra thông qua
việc loại bỏ các rào cản quy định có thể đã ngăn cản sự kết hợp của các công ty. Ví dụ
bao gồm những thay đổi trong luật ngân hàng của Hoa Kỳ đã ngăn các ngân hàng vượt
qua ranh giới tiểu bang hoặc tham gia vào các ngành công nghiệp khác. Các cú sốc
công nghệ có thể xảy ra dưới nhiều hình thức vì thay đổi công nghệ có thể mang lại
những thay đổi mạnh mẽ trong các ngành hiện có và thậm chí có thể tạo ra những ngành mới.
Harford cho thấy rằng bản thân những cú sốc khác nhau này nhìn chung không đủ để
tạo ra một làn sóng sáp nhập. Ông đã xem xét các làn sóng của ngành, thay vì mức độ
tổng thể của hoạt động M&A trong giai đoạn 1981–2000. Nghiên cứu của ông về 35
làn sóng ngành xảy ra trong giai đoạn này cho thấy thanh khoản vốn cũng là điều kiện
cần thiết để một làn sóng nắm giữ. Phát hiện của ông cũng chỉ ra rằng các nỗ lực định
giá sai hoặc định thời điểm thị trường của các nhà quản lý không phải là nguyên nhân
gây ra làn sóng, mặc dù chúng có thể là nguyên nhân trong các giao dịch cụ thể. Tuy
nhiên, những phát hiện về định giá sai trái ngược với Rhodes-Kropf, Robinson và
Viswanathan, những người phát hiện ra rằng định giá sai và định giá sai thúc đẩy hoạt 2
động sáp nhập. Họ đo lường những điều này bằng cách so sánh chỉ số P/B với định giá
thực. Các tác giả này không nói rằng sai sót trong định giá là yếu tố duy nhất trong
việc giải thích các làn sóng sáp nhập, nhưng họ nói rằng chúng có thể đóng một vai trò
quan trọng khiến mức độ định giá sai càng tăng càng nổi bật.
Rau và Stouraitis đã phân tích một mẫu gồm 151.000 giao dịch của các công ty trong
giai đoạn 1980–2004, chúng không chỉ xoay quanh hoạt động mua bán và sáp nhập
của công ty mà còn bao gồm nhiều sự kiện doanh nghiệp khác. Họ nhận thấy rằng “làn
sóng doanh nghiệp” dường như bắt đầu bằng những làn “sóng phát hành” mới: Khởi
đầu với những đợt phát hành cổ phiếu bổ sung (SEO), sau đó là những đợt phát hành
công khai lần đầu (IPO), tiếp theo là hoạt động M&A bằng cổ phiếu và cuối cùng là
những làn sóng mua lại. Phát hiện này ủng hộ giả thuyết “hiệu quả tân cổ điển”, ngụ ý
rằng các nhà quản lý sẽ cố gắng theo đuổi các giao dịch khi họ nhìn thấy cơ hội tăng
trưởng và khi những cơ hội này mất dần, họ sẽ tham gia vào việc mua lại.
3. LÀN SÓNG ĐẦU TIÊN, 1897 – 1904
Làn sóng sáp nhập đầu tiên xảy ra sau cuộc khủng hoảng vào năm 1883, làn sóng này
đạt đến đỉnh điểm trong giai đoạn từ năm 1898 đến năm 1902 và kết thúc vào năm 1904 (Bảng 2.1)
BẢNG 2.1 Làn sóng đầu tiên, 1897 – 1904 Năm
Số lượng các vụ sáp nhập 1897 69 1898 303 1899 1,208 1900 340 1901 423 1902 379 1903 142 1904 79
Nguồn: Merrill Lynch Business Brokerage and Valuation, Mergerstat Review, 1989
Mặc dù những thương vụ sáp nhập này ảnh hưởng đến ngành khai thác và sản xuất,
tuy nhiên, một vài ngành khác đã cho thấy tỷ lệ sáp nhập cao hơn. Theo một nghiên
cứu của Cục Nghiên cứu Kinh tế Quốc gia của Giáo sư Ralph Nelson, có tám ngành 3
công nghiệp – chủ yếu là kim loại, thực phẩm, dầu mỏ, hóa chất, thiết bị giao thông
vận tải, chế tạo kim loại, công nghiệp máy móc và khai thác than bitum – chứng kiến
các hoạt động sáp nhập với tần suất lớn. Những ngành công nghiệp này chiếm khoảng
2/3 tổng số vụ sáp nhập trong thời kỳ này. Những thương vụ sáp nhập trong làn sóng
đầu tiên chủ yếu là các sáp nhập theo chiều ngang (Bảng 2.2).
BẢNG 2.2 Phân loại sáp nhập, 1895-1904 Phân loại sáp nhập Phần trăm (%) Ngang 78.3 Dọc 12 Cả ngang và dọc 9.7 Tổng cộng 100
Nguồn: Neil Fligstein, The Transformation of Corporate Control (Cambridge, MA:
Harvard University Press, 1990), 72.
Với nhiều thương vụ sáp nhập theo chiều ngang kết hợp sự hợp nhất ngành đã dẫn đến
việc cấu trúc thị trường gần như là độc quyền. Với lẽ đó, thời kỳ sáp nhập này còn
được biết đến với vai trò tạo ra các công ty độc quyền lớn. Giai đoạn này cũng gắn liền
với thương vụ sáp nhập trị giá hàng tỷ đô la đầu tiên là US Steel được thành lập bởi J.
P. Morgan - người đã kết hợp công ty Carnegie Steel, do Andrew Carnegie thành lập,
được điều hành bởi Carnegie và Henry Clay Frick, với công ty Federal Steel, do
Morgan kiểm soát. Tuy nhiên, Morgan cũng đã thâu tóm thêm các công ty thép khác,
kể đến là American Tin Plate, American Steel Hoop, American Steel Sheet, American
Bridge, American Steel and Wire, International Mercantile Marine National Steel,
National Tube và Shelby Steel Tube. Các công tay này được sáp nhập dưới sự bảo trợ
của tập đoàn U.S. Steel, tập đoàn hùng mạnh đã kiểm soát một nửa ngành công nghiệp
thép của Hoa Kỳ. Kết quả là gã khổng lồ thép (U.S. Steel) đã hợp nhất 785 cơ sở sản
xuất thép riêng biệt. Từng có thời điểm, U.S Steel đã chiếm tới 75% công suất sản xuất
thép của toàn bộ nước Mỹ.
Bên cạnh US Steel, một số gã khổng lồ công nghiệp khác ở hiện tại cũng được hình
thành từ làn sóng sáp nhập đầu tiên, bao gồm: DuPont, Standard Oil, General Electric,
Eastman Kodak, American Tobacco (sáp nhập với Brown và Williamson vào năm
1994, sau đó hợp nhất với RJ Reynolds vào năm 2004), và Navistar International
(trước đây là International Harvester nhưng đã trở thành Navistar vào năm 1986 khi 4
công ty bán đi phần kinh doanh nông sản). Trong khi các công ty này đã trở thành
những tập đoàn hùng mạnh với thị phần lớn, một vài trong số đó đã trở thành doanh
nghiệp chiếm lĩnh thị trường từ làn sóng sáp nhập đầu tiên. Ví dụ, U.S. Steel không
phải là tập đoàn duy nhất thống lĩnh thị trường của mình. American Tobacco chiếm
90% thị phần, Standard Oil do J. D. Rockefeller sở hữu chiếm 85% thị phần. Trong
phong trào sáp nhập đầu tiên, có 300 tổ hợp chính bao gồm nhiều lĩnh vực công
nghiệp đã kiểm soát 40% vốn sản xuất của cả quốc gia. Nelson ước tính rằng hơn 3000
công ty đã biến mất trong thời kỳ này do kết quả của các vụ sáp nhập.
Đến năm 1909, 100 tập đoàn công nghiệp lớn nhất đã kiểm soát gần 18% tài sản của
tất cả các tập đoàn công nghiệp còn lại. Ngay cả khi Đạo luật chống độc quyền
Sherman (1890) được ban hành cũng không thể ngăn cản được hoạt động độc quyền
gay gắt này. Bộ Tư pháp là bên chịu trách nhiệm chính về tác động hạn chế của Đạo
luật Sherman. Trong giai đoạn sáp nhập cao trào nhất vào những năm 1900, Bộ Tư
pháp – người chịu trách nhiệm thực thi Đạo luật Sherman, đang thiếu nhân lực và
không thể thực thi việc chống độc quyền một cách quyết liệt. Các hoạt động đương
thời của Bộ Tư Pháp hướng đến các liên đoàn lao động nhiều hơn. Vì vậy, tốc độ sáp
nhập theo chiều ngang và hợp nhất ngành tiếp tục tăng cao mà không có bất kỳ hạn
chế nào từ Đạo luật chống độc quyền.
Vào cuối làn sóng sáp nhập lớn đầu tiên, ngành công nghiệp Hoa Kỳ chứng kiến sự gia
tăng đáng kể mức độ tập trung công nghiệp: Số lượng các công ty trong một số ngành,
chẳng hạn như ngành thép, giảm đáng kể và trong một số lĩnh vực chỉ có một công ty
tồn tại. Các ngành công nghiệp độc quyền vẫn được hình thành sau khi Đạo luật
Sherman được thông qua là một điều đáng lên án. Tuy nhiên, bên cạnh việc Bộ Tư
pháp thiếu nguồn lực thì các tòa án cũng không sẵn lòng thông qua các điều khoản
chống độc quyền của Đạo luật. Ví dụ, vào năm 1895, Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đã ra
phán quyết rằng Công ty American Sugar Refining không phải là công ty độc quyền
và không bị hạn chế thương mại. Tòa án Tối cao Hoa Kỳ không quan tâm đến việc
Sugar Trust đã kiểm soát 98% công suất tinh chế đường tại Hoa Kỳ. Phán quyết này
đã tạo điều kiện thuận lợi cho các công ty như DuPont, Eastman Kodak, General
Electric, International Harvester, Standard Oil và US Steel tham gia vào hoạt động
M&A mà không cần quan tấm đến sự can thiệp của pháp luật. Thoạt đầu, tòa án nhận
thấy tiêu điểm trọng tâm của Đạo luật Sherman là chỉnh đốn niềm tin của cổ đông, 5
trong đó các nhà đầu tư sẽ đầu tư vốn vào một công ty và ủy thác chứng chỉ cổ phiếu
của họ cho các giám đốc - người sẽ đảm bảo rằng cổ đông sẽ nhận được cổ tức cho
“chứng chỉ tín thác” (trust certificates) của họ.
Với sự tập trung sai lầm vào quỹ tín thác, luật lệ đã không được thi hành để cản trở
việc hình thành các công ty độc quyền trong một số ngành vào làn sóng sáp nhập đầu
tiên. Các quỹ tín thác đã được hình thành bởi nhà lãnh đạo của các doanh nghiệp độc
quyền, chẳng hạn như J. P. Morgan của Hạ viện và John D. Rockefeller của Standard
Oil và National City bank như một sự phản ứng đối với những hoạt động kém hiệu quả
của nhiều doanh nghiệp quốc gia khi họ phải cố gắng sống sót trong bối cảnh tình hình
kinh tế yếu kém. Họ nhận thấy rằng cấu trúc của nhiều ngành công nghiệp, bao gồm
các công ty nhỏ và kém hiệu quả, là một phần nguyên nhân dẫn đến tình trạng doanh
nghiệp hoạt động yếu kém. Vì thế, họ đã quyết định tổ chức lại các công ty yếu kém
thuộc này bằng cách buộc các cổ đông trao đổi vốn chủ sở hữu trong các công ty yếu
kém đó để lấy chứng chỉ ủy thác vào một công ty mẹ sẽ thống trị doanh nghiệp cũng
như nhiều đối thủ cạnh tranh khác. Với sự kiểm soát này, J. P. Morgan đã có thể kiềm
chế được cuộc cạnh tranh khốc liệt – điều ông cho rằng đang khiến các doanh nghiệp
suy yếu. Với kết quả đó, nhà đầu tư dần tin tưởng hơn vào sự lành mạnh của các công
ty mà Morgan và đồng nghiệp đang tìm cách tiếp thị chứng khoán. Trọng tâm ban đầu
của ông chính là ngành đường sắt, vào thời điểm đó, ngành đường sắt chiếm phần lớn
cổ phiếu được giao dịch trên Thị trường Chứng khoán New York. Do là một ngành có
nhu cầu về vốn lớn, các công ty đường sắt thường xuyên tiếp thị cổ phiếu và trái phiếu
của mình thông qua các chủ ngân hàng đầu tư trên khắp Hoa Kỳ và Châu Âu. Tuy
nhiên, các công ty đường sắt thường cạnh tranh gay gắt về giá cước và tìm cách đẩy
nhau đến bờ vực phá sản. Morgan ghét sự cạnh tranh tiếp diễn như vậy nên ông đã tìm
cách tổ chức lại ngành này. Cuối cùng, nhờ vào việc sử dụng các quỹ tín thác, ông đã
đẩy các nhà quản lý có xu hướng cạnh tranh khóc liệt sang một bên và thay thế họ
bằng những người quản lý có thể quản trị thị trường một cách có trật tự hơn. Vì mối
quan tâm của Morgan tập trung vào các nhà đầu tư muốn tìm kiếm lợi nhuận nên ông
không xem xét đến việc người tiêu dùng có thể bị ảnh hưởng bởi những vụ hợp nhất này.
Các quỹ tín thác ngày càng phát triển và trở nên thống lĩnh một vài ngành công
nghiệp, trong số đó phải kể đến American Cottonseed Oil Trust và the National Lead 6
Trust, lần lượt chiếm lĩnh ngành công nghiệp dầu mỏ. Kết quả là Morgan Bank đã
kiểm soát First National Bank, the National Bank of Commerce, the First National
Bank of Chicago, Liberty National Bank, Chase National Bank, Hanover National
Bank và the Astor National Bank.
Ngoài việc thực thi lỏng lẻo luật chống độc quyền liên bang, một vài lý do pháp lý
khác có thể giải thích tại sao làn sóng sáp nhập đầu tiên lại phát triển mạnh đến vậy. Ví
dụ, ở một số bang, luật doanh nghiệp dần dần được nới lỏng. Cụ thể, các tập đoàn dần
có khả năng đảm bảo vốn, nắm giữ cổ phần tại các tập đoàn khác và mở rộng ngành
nghề kinh doanh tốt hơn, từ đó tạo ra môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp để
thực hiện sáp nhập. Khả năng tiếp cận vốn đa dạng sẽ giúp các công ty dễ dàng huy
động nguồn tài chính cần thiết để thực hiện một thương vụ mua lại; Những lỏng lẻo
trong quy tắc kiểm soát việc sở hữu cổ phần của các tập đoàn đã cho phép các doanh
nghiệp mua lại cổ phần của các công ty khác nhằm mục đích thâu tóm công ty.
Tuy nhiên, không phải tất cả các bang đều tự do hóa luật doanh nghiệp. Do đó, một vài
bang có tốc độ M&A nhanh hơn so với các bang còn lại. New Jersey, nơi mà việc
thông qua Đạo luật New Jersey Holding Company năm 1888 đã giúp tự do hóa luật
doanh nghiệp của tiểu bang, đã trở thành bang dẫn đầu về M&A theo sau bang New
York và Delaware. Đạo luật đã tạo điều kiện cho các quỹ tín thác được hình thành và
bang New Jersey đã trở thành thánh địa cho hình thức công ty này. Đạo luật này đã
gây áp lực buộc các bang khác phải ban hành luật tương tự thay vì chứng kiến các
công ty của mình chuyển sang tái hợp nhất ở New Jersey. Tuy nhiên, vẫn có nhiều
công ty chọn hợp nhất tại New Jersey, điều này giải thích cho sự đa dạng của các công
ty ở New Jersey khi tham gia vào làn sóng sáp nhập đầu tiên. Xu hướng này giảm
đáng kể vào năm 1915 khi sự khác biệt trong luật doanh nghiệp nhà nước đã trở nên kém quan trọng hơn.
Ngoài ra, sự phát triển về hệ thống giao thông Hoa Kỳ cũng là một trong những yếu tố
chính khởi đầu làn sóng sáp nhập đầu tiên. Sau cuộc nội chiến, việc hình thành một hệ
thống đường sắt lớn đã tạo ra các thị trường quốc gia thay vì những thị trường khu vực
cho các công ty có thể phục vụ. Các tuyến đường sắt xuyên lục địa, chẳng hạn như
Union Pacific – Trung Thái Bình Dương, được hoàn thành vào năm 1869, kết nối miền
Tây Hoa Kỳ với phần còn lại của đất nước. Tiềm năng của công ty không còn bị giới
hạn bởi các ranh giới thị trường mà đã mở rộng hơn để tận dụng lợi thế của thị trường. 7
Các doanh nghiệp bây giờ cần phải đối mặt với sự cạnh tranh từ các đối thủ ở xa được
chọn để sáp nhập với các đối thủ cạnh tranh khác trong địa phương để duy trì thị phần
của mình. Những thay đổi trong hệ thống giao thông quốc gia khiến việc cung cấp cho
các thị trường ở xa đã trở nên dễ dàng và ít tốn kém hơn. Chi phí vận tải hàng hóa
bằng đường sắt giảm với tốc độ trung bình 3,7%/năm từ năm 1882 đến năm 1900. Vào
đầu những năm 1900, chi phí vận tải tăng rất ít mặc dù nhu cầu về dịch vụ vận tải tăng
cao. Điều thú vị là với khả năng tiếp tục vận chuyển hàng hoá toàn cầu với chi phí hiệu
quả của mình, các tuyến đường sắt Hoa Kỳ đã gây ấn tượng mạnh với Warren Buffett
nhiều đến mức vào năm 2009, ông đã đấu thầu 26,3 tỷ đô la tiền mặt và cổ phiếu cho
phần còn lại của tuyến đường sắt Burlington Northern mà ông chưa thực sự sở hữu.
Burlington Northern thực chất là kết quả của 390 thương vụ M&A đường sắt khác
nhau trong giai đoạn 1850–2000.
Một vài thay đổi trong cơ cấu khác đã giúp các doanh nghiệp phục vụ thị trường quốc
gia tốt hơn. Ví dụ, việc phát minh ra máy hút thuốc lá theo quy trình sản xuất liên tục
Bonsack đã cho phép Công ty Thuốc lá Mỹ cung cấp cho thị trường thuốc lá quốc gia
một số lượng máy móc sản xuất thuốc lá tương đối nhỏ. Khi các công ty mở rộng, họ
chú trọng tận dụng lợi thế kinh tế theo quy mô trong sản xuất và phân phối. Ví dụ, chỉ
với ba nhà máy lọc dầu, Standard Oil Trust đã có thể nắm giữ 40% sản lượng dầu của
thế giới. Máy lọc dầu của Standard Oil Trust đã loại bỏ những thực vật không cần
thiết, do đó đạt được hiệu quả cao hơn. Nhiều ngành sản xuất khác của nền kinh tế
Hoa Kỳ cũng theo đuổi lợi thế kinh tế theo quy mô trong thời điểm đó. Các công ty và
các nhà quản trị bắt đầu nghiên cứu quy trình sản xuất với nỗ lực nâng cao khả năng
tham gia vào quy trình sản xuất hàng loạt. Việc mở rộng quy mô kinh doanh cũng đòi
hỏi kỹ năng quản lý cao hơn và dẫn đến việc chuyên môn hóa trong các công tác quản lý.
Như đã đề cập trước đó, làn sóng sáp nhập đầu tiên diễn ra vào năm 1897, tuy nhiên,
cuộc chiến tiếp quản đầu tiên đã bắt đầu vào năm 1868. Mặc dù thuật ngữ cuộc chiến
tiếp quản được sử dụng ngày nay nhằm mô tả những xung đột đôi khi gay gắt giữa các
công ty trong việc tiếp quản, nhưng vào giai đoạn của làm sóng sáp nhập đầu tiên, nó
có thể được áp dụng một cách tự do hơn cho những vụ xung đột. Một cuộc chiến tiếp
quản có thể kể đến là nỗ lực giành quyền kiểm soát Đường sắt Erie vào năm 1868.
Đây là cuộc cạnh tranh giữa Cornelius Vanderbilt với Daniel Drew, Jim Fisk và Jay 8
Gould. Đường sát Erie lúc đó đã tự bảo vệ mình, chống lại việc tiếp quản bằng cách
phát hành một lượng lớn hàng tồn kho trong chiến dịch được gọi là chiến dịch tiếp
quản cổ phiếu mặc dù họ không được phép làm như vậy. Vào thời điểm đó, do việc
hối lộ các thẩm phán và quan chức khá phổ biến nên mức xử phạt dành cho việc vi
phạm luật doanh nghiệp không quá gay gắt. Cuộc chiến giành quyền kiểm soát đường
sắt Eire diễn ra ngày càng gay gắt khi công ty mục tiêu thuê vệ sĩ được trang bị súng
và đại bác để bảo vệ trụ sở của mình. Cuộc chiến tiếp quản kết thúc khi Vanderbilt từ
bỏ các cuộc tấn công vào Đường sắt Erie và chuyển sự chú ý sang các mục tiêu yếu hơn.
Vào cuối thế kỷ 19, với tính chất ác liệt của các cuộc chiến tiếp quản, công chúng ngày
càng lo ngại về các hoạt động kinh doanh phi đạo đức. Luật doanh nghiệp thực sự
không có hiệu lực trong những năm 1890. Để đối phó với nhiều cuộc biểu tình chống
đường sắt (anti-railroad protests), Quốc hội đã thành lập Ủy ban Thương mại Liên tiểu
bang vào năm 1897. Chính quyền Harrison, Cleveland và McKinley (1889–1901) đều
rất ủng hộ ý tưởng này và cố gắng lấp đầy ủy ban với những người ủng đường sắt
được bầu chọn để điều tiết quản lý. Mãi cho đến khi Luật chống độc quyền được thông
qua vào cuối những năm 1800 và đầu những năm 1900 và Luật chứng khoán cũng trở
nên khắt khe hơn sau cuộc Đại suy thoái thì hệ thống pháp luật mới đạt được sức mạnh
cần thiết để ngăn cản các chiến thuật tiếp quản phi đạo đức.
Vì thiếu sự ràng buộc cần thiết về mặt pháp lý, cộng đồng ngân hàng và doanh nghiệp
đã áp dụng quy tắc hành vi đạo đức tự nguyện của riêng mình. Quy tắc này được thực
thi bởi một thỏa thuận bất thành văn giữa các chủ ngân hàng đầu tư, những người này
đồng ý chỉ kinh doanh với các công ty tuân thủ các tiêu chuẩn đạo đức cao hơn của họ.
Ngày nay, Vương quốc Anh dựa trên một quy tắc tự nguyện như vậy. Mặc dù các tiêu
chuẩn không chính thức này không loại trừ tất cả các hoạt động không chính đáng
trong việc theo đuổi việc tiếp quản nhưng chúng đã tạo tiền đề cho các hành vi hợp lý
trong làn sóng tiếp quản đầu tiên
Các yếu tố tài chính hơn là các hạn chế pháp lý đã buộc làn sóng sáp nhập đầu tiên
phải kết thúc. Thứ nhất, sự sụp đổ của quỹ tín thác đóng tàu vào đầu những năm 1900
đã dẫn đến nguy cơ gian lận tài chính. Thứ hai, điều quan trọng nhất, sự sụp đổ của thị
trường chứng khoán năm 1904, sau đó là Cuộc khủng hoảng ngân hàng năm 1907 đã
làm nhiều ngân hàng của nhiều quốc gia đóng cửa và cuối cùng mở đường cho sự hình 9
thành của Hệ thống Dự trữ Liên bang. Do thị trường chứng khoán suy giảm và hệ
thống ngân hàng yếu kém, các yếu tố tài chính cơ bản để thúc đẩy hoạt động tiếp quản
đã dần biến mất. Nếu không có những điều này, thời kỳ tiếp quản vĩ đại đầu tiên đã
dừng lại. Một số nhà sử học kinh tế đã giải thích nhiều sự kết hợp theo chiều ngang
diễn ra trong làn sóng đầu tiên là một nỗ lực để đạt được lợi thế kinh tế theo quy mô.
Thông qua M&As, các công ty đang mở rộng đã tìm cách tăng hiệu quả bằng cách
giảm chi phí trên mỗi đơn vị. Thực tế là phần lớn các vụ sáp nhập này không thành
công có nghĩa là các công ty này đã không thành công trong việc theo đuổi nâng cao
hiệu suất. Dưới thời Tổng thống Theodore Roosevelt, người nắm quyền điều hành từ
năm 1901 đến năm 1909, môi trường chống độc quyền ngày càng nghiêm ngặt hơn.
Mặc dù ông không đóng vai trò quan trọng trong việc kết thúc làn sóng đầu tiên,
Roosevelt, người được biết đến với biệt danh kẻ đáng tin cậy, vẫn tiếp tục cố gắng gây
áp lực lên các hoạt động chống cạnh tranh.
Thoạt đầu chính phủ không thành công trong các vụ kiện chống độc quyền, nhưng đến
cuối nhiệm kỳ của Roosevelt, chính phủ bắt đầu nhận ra được nhiều thành công hơn
trong các phòng xử án. Quyết định mang tính bước ngoặt của Tòa án Tối cao trong vụ
việc Chứng khoán miền Bắc năm 1904 là một ví dụ về thành công lớn của chính phủ
trong việc thực hiện các hành động chống độc quyền. Mặc dù Tổng thống Roosevelt
nổi tiếng là người được ủy thác, nhưng chính người kế nhiệm của ông, William
Howard Taft, người đã thành công trong việc phá bỏ một số ủy thác lớn. Thật là trớ
trêu khi nhiều công ty thành lập trong sự tan vỡ của các quỹ tín thác lớn đã trở thành
những doanh nghiệp rất lớn. Ví dụ, Standard Oil được chia thành các công ty như
Standard Oil of New Jersey, sau này trở thành Exxon; Standard Oil của New York, trở
thành Mobil và sáp nhập với Exxon vào năm 1998; Standard Oil of California, đã đổi
tên thành Chevron và mua lại Gulf Oil vào năm 1985, Texaco vào năm 2001 và
Unocal vào năm 2005; và Standard Oil of Indiana trở thành Amoco và được BP mua
lại vào năm 1998. Sự hợp nhất giữa một số thành phần của Standard Oil cũ phản ánh
sự hoàn tác một phần của quá trình tan rã này vì thị trường xăng dầu đã trở nên toàn
cầu và những hậu duệ này của J.D. Công ty cũ của Rockefeller hiện phải đối mặt với
nhiều cạnh tranh quốc tế. 10
4. LÀN SÓNG THỨ HAI, 1916–1929
George Stigler, nhà kinh tế học từng đoạt giải Nobel và cựu giáo sư tại Đại học
Chicago, đã so sánh làn sóng sáp nhập đầu tiên và thứ hai là "hợp nhất để độc quyền"
so với "sáp nhập để độc quyền nhóm". Trong làn sóng sáp nhập thứ hai, một số ngành
công nghiệp đã được hợp nhất. Thay vì độc quyền, các ngành công nghiệp thường là
cấu trúc độc quyền nhóm. Mô hình hợp nhất được thiết lập trong giai đoạn sáp nhập
đầu tiên tiếp tục vào giai đoạn thứ hai. Trong giai đoạn thứ hai này, nền kinh tế Hoa
Kỳ tiếp phát triển, chủ yếu là do sự bùng nổ kinh tế sau chiến tranh thế giới lần thứ
nhất, cung cấp nhiều vốn đầu tư cho thị trường chứng khoán đang hưng phấn. Sự sẵn
có của vốn, được thúc đẩy bởi các điều kiện kinh tế thuận lợi và yêu cầu ký quỹ lỏng
lẻo, tạo tiền đề cho sự sụp đổ của thị trường chứng khoán năm 1929.
Môi trường chống độc quyền của những năm 1920 trở nên nghiêm ngặt hơn so với
môi trường thịnh vượng trước làn sóng sáp nhập đầu tiên. Đến năm 1910, Quốc hội
cảm thấy lo ngại về sự lạm dụng của thị trường và quyền lực được nắm giữ bởi các
công ty độc quyền. Điều này cho thấy Đạo luật Sherman không phải là một biện pháp
hiệu quả để ngăn chặn độc quyền. Kết quả là, Quốc hội đã thông qua Đạo luật Clayton
vào năm 1914, một đạo luật củng cố các điều khoản chống lại Đạo luật Sherman. (Để
thảo luận về Đạo luật Sherman và Clayton, xem Chương 3.) Khi nền kinh tế và hệ
thống ngân hàng phục hồi vào cuối những năm 1900, luật chống độc quyền này đã trở
thành một biện pháp ngăn chặn độc quyền có phần quan trọng hơn. Với một môi
trường chống độc quyền nghiêm ngặt hơn, làn sóng sáp nhập thứ hai tạo ra ít công ty
độc quyền hơn nhưng nhiều nhóm độc quyền hơn và nhiều vụ sáp nhập theo chiều
dọc. Thêm vào đó, nhiều công ty trong các ngành công nghiệp khác nhau đã sáp nhập
với nhau. Đây là sự hình thành quy mô lớn đầu tiên của các tập đoàn. Tuy nhiên, mặc
dù các kết hợp kinh doanh này liên quan đến các công ty không trực tiếp sản xuất cùng
một sản phẩm, họ thường có các dòng sản phẩm tương tự.
Với việc ban hành Đạo luật Clayton và Sherman, chính phủ Hoa Kỳ đã có cơ hội tốt
để tham gia vào công tác thực thi chống độc quyền hiệu quả hơn so với những gì đã
xảy ra trong làn sóng sáp nhập đầu tiên. Tuy nhiên, trọng tâm chính vẫn là trấn áp các
hoạt động kinh doanh không công bằng và ngăn chặn các thoả thuận kiểm soát về giá
hoặc tổ hợp tài sản, trái ngược với việc ngăn chặn các vụ sáp nhập chống cạnh tranh.
Tại thời điểm đó, việc ấn định giá rộng rãi đã xảy ra trong nhiều ngành công nghiệp, 11
được cho là mối nguy hại đối với cạnh tranh hơn là đối với sáp nhập, hiện chủ yếu là
các giao dịch theo chiều dọc hoặc tập đoàn. Cũng giống như trong làn sóng sáp nhập
đầu tiên, giai đoạn sáp nhập thứ hai chứng kiến sự hình thành của nhiều tập đoàn nổi
tiếng vẫn hoạt động cho đến ngày nay. Chúng bao gồm General Motors, IBM, John Deere và Union Carbide. 5. NHỮNG NĂM 1940
Trước khi chúng ta tiến tới một cuộc thảo luận về giai đoạn sáp nhập thứ ba, chúng ta
sẽ xem xét một cách ngắn gọn các vụ sáp nhập vào những năm 1940. Trong thập kỷ
này, các công ty lớn hơn đã mua lại các công ty tư nhân nhỏ hơn với động cơ để giảm
thuế. Trong thời kỳ này với thuế bất động sản cao, việc chuyển nhượng doanh nghiệp
trong gia đình rất tốn kém; do đó, động lực để bán ra cho các công ty khác cũng nảy
sinh. Những sự hợp nhất này không làm tăng mức độ tập trung vì hầu hết trong các sự
hợp nhất này không đại diện cho một tỷ lệ đáng kể trong tổng tài sản của ngành. Hầu
hết các sự kết hợp của các hoạt động kinh doanh gia đình liên quan đến các công ty nhỏ hơn.
Những năm 1940 không xảy ra bất kỳ thay đổi lớn nào về công nghệ hay sự phát triển
mạnh mẽ trong cơ sở hạ tầng của quốc gia. Do đó, sự gia tăng về số lượng các vụ sáp
nhập là tương đối nhỏ. Tuy nhiên, số lượng của họ vẫn gây mối quan ngại từ Quốc hội
và Quốc hội đã phản ứng bằng cách thông qua Đạo luật Celler-Kefauver vào năm
1950. Luật này củng cố Mục 7 của Đạo luật Clayton. Để biết thêm thông tin chi tiết về
Đạo luật Clayton, hãy xem phần sau và Chương 3.)
6. LÀN SÓNG THỨ BA, 1965–1969
Làn sóng sáp nhập thứ ba có mức độ hoạt động sáp nhập cao trong lịch sử. Điều này
diễn ra một phần là do nền kinh tế đang bùng nổ. Những năm này, thường được gọi là
giai đoạn sáp nhập tập đoàn và không có gì lạ khi các công ty tương đối nhỏ hơn nhắm
đến các công ty lớn hơn để mua lại. Ngược lại, trong hai làn sóng trước đó, phần lớn
các công ty mục tiêu nhỏ hơn đáng kể so với các công ty mua lại. Peter Steiner báo cáo
rằng "việc mua lại các công ty có tài sản trên 100 triệu đô la, trung bình chỉ đạt 1,3
công ty mỗi năm từ năm 1948 đến năm 1960 và 5 công ty mỗi năm từ 1961 đến
1966, , đã tăng lên 24 vào năm 1967, 31 vào năm 1968, 20 vào năm 1969, 12 vào năm 12
1970 trước khi giảm xuống còn 5 mỗi năm vào năm 1971 và 1972."15
Số lượng các thương vụ M&As trong những năm 1960 được thể hiện trong Biểu đồ
2.1. Những dữ liệu này được biên soạn bởi W. T. Grimm and Company (nay được
cung cấp bởi Houlihan Lokey Howard & Zukin), bắt đầu ghi nhận các thông báo
M&A vào ngày 1 tháng 1 năm 1963.
BIỂU ĐỒ 2.1 Làn sóng sáp nhập thứ ba, các thông báo sáp nhập và mua lại, 1963-
1970. Làn sóng sáp nhập thứ ba đạt đỉnh điểm vào năm 1969. Sự suy giảm của thị
trường chứng khoán, cùng với cải cách thuế, đã làm giảm động lực sáp nhập. Nguồn: Mergerstat Review,2014.
Như đã nêu, một tỷ lệ lớn hơn của thương vụ sáp nhập và mua lại diễn ra trong giai
đoạn này là giao dịch tập đoàn. Uỷ ban Thương mại Liên bang (The Federal Trade
Commission, FTC) đã báo cáo rằng 80% các vụ sáp nhập diễn ra trong giai đoạn 10
năm từ 1965 đến 1975 là sáp nhập tập đoàn.16
Các tập đoàn được thành lập trong giai đoạn này không chỉ đơn thuần là đa dạng hóa
trong các dòng sản phẩm của mình. Thuật ngữ “Công ty đa ngành” (diversified firms)
thường được áp dụng cho các công ty có một số công ty con trong các ngành công
nghiệp khác nhưng phần lớn sản xuất của họ vẫn nằm trong một loại ngành. Không
giống như các công ty đa ngành, các tập đoàn có một tỷ lệ lớn các hoạt động kinh
doanh của họ trong các ngành công nghiệp khác nhau. Một ví dụ điển hình là Ling-
Temco-Vought (LTV), Litton Industries và ITT. Trong những năm 1960, ITT đã mua
lại các một loạt doanh nghiệp đa dạng như Avis Rent A Car, Sheraton Hotels,
Continental Baking và các doanh nghiệp ở rất xa khác, chẳng hạn như chuỗi nhà hàng,
đại lý tín dụng tiêu dùng, công ty xây dựng và các công ty kinh doanh bãi đáp máy
bay. Mặc dù làn sóng sáp nhập thứ ba có liên quan đến các công ty tập đoàn nổi tiếng 13
như ITT và LTV, nhiều tập đoàn có quy mô khác nhau cũng tham gia vào chiến lược
đa dạng hóa. Nhiều công ty vừa và nhỏ cũng chạy theo phong trào này và chuyển sang
kinh doanh các lĩnh vực nằm bên ngoài hoạt động kinh doanh cốt lõi của họ.
Khi các công ty có nguồn lực tài chính tìm cách mở rộng, họ sẽ phải đối mặt với việc
thực thi chống độc quyền cứng rắn hơn. Trong giai đoạn chống độc quyền tăng cao
của những năm 1960 là sự phát triển của Đạo luật Celler-Kefauver năm 1950, đạo luật
này đã tăng cường các điều khoản chống lại của Đạo luật Clayton năm 1914. Đạo luật
Clayton đã làm cho việc mua lại cổ phiếu của các công ty khác là bất hợp pháp khi
việc mua lại dẫn đến việc những sự sáp nhập mà sẽ làm giảm đáng kể mức độ cạnh
tranh trong một ngành. Tuy nhiên, vẫn có một lỗ hổng quan trọng: luật này không loại
trừ việc mua lại tài sản của một công ty. Đạo luật Celler-Kefauver đã lấp lỗ hổng này.
Được trang bị những cơ chế Luật mạnh hơn, chính phủ liên bang đã áp dụng một lập
trường chống độc quyền mạnh mẽ hơn, cứng rắn hơn với cả hình thức sáp nhập theo
chiều ngang và chiều dọc. Các công ty mang ý định mở rộng nhận thấy rằng lựa chọn
thay thế duy nhất có sẵn của họ là thành lập các tập đoàn.
Việc thực thi chống độc quyền mạnh mẽ hơn đối với các vụ sáp nhập theo chiều ngang
được thúc đẩy một phần bởi môi trường chính trị của những năm 1960. Vào thập kỷ
này, các nhà hoạch định chính sách ở Washington, nhấn mạnh khả năng lạm dụng
quyền lực từ độc quyền, các nhà hoạch định này đã làm việc thông qua FTC và Bộ Tư
pháp để hạn chế những sự mở rộng của các công ty có khả năng tạo ra tình trạng lạm
dụng độc quyền. Những người ủng hộ chính của việc thực thi chống độc quyền cứng
rắn hơn là Bộ trưởng Bộ Tư pháp John Mitchell và Trợ lý Bộ trưởng Tư pháp Richard
McLaren, kiến trúc sư chính của các nỗ lực chống độc quyền của chính phủ liên bang
trong những năm 1960. Trong cuốn sách “Managing” của mình, Harold Geneen, khi
đó là giám đốc điều hành của ITT, đã mô tả sự khó khăn mà công ty của ông có trong
việc mua lại các công ty khi McLaren còn đương nhiệm.17 McLaren phản đối việc mua
lại tập đoàn vì lo ngại về "tiềm năng trong sự tương hỗ". Điều này sẽ xảy ra, ví dụ, nếu
tiềm năng mà ITT và các công ty con khác của nó mang lại Hartford Insurance, một
công ty ITT mua lại, một lợi thế cạnh tranh so với các công ty bảo hiểm khác. ITT đã
buộc phải thỏa hiệp lại kế hoạch bổ sung Hartford vào đế chế tập đoàn của mình. ITT
chỉ có thể tiến hành mua lại sau khi đồng ý thoái vốn khỏi các bộ phận khác có cùng
tổng quy mô của Bảo hiểm Hartford và không mua lại một công ty bảo hiểm lớn khác 14
trong 10 năm mà không có sự chấp thuận trước của Bộ Tư pháp. Nhiều năm sau, Ủy
ban Châu Âu cũng lên tiếng về những lập luận tương tự để phản đối việc tiếp quản trong những năm 2000.
Với việc đắc cử của Richard M. Nixon vào cuối thập kỷ, các nhà hoạch định chính
sách của Washington ủng hộ một định hướng thị trường tự do hơn. Nixon ủng hộ
chính sách này thông qua việc bốn người được bổ nhiệm vào Tòa án Tối cao Hoa Kỳ,
cả bốn đều là những người tán thành một cách giải thích rộng hơn về các khái niệm
như thị phần. Việc thực thi chống độc quyền cứng rắn của Bộ Tư pháp đã kết thúc vào
năm 1972, khi Tòa án Tối cao không chấp nhận giải thích của Bộ Tư pháp về luật
chống độc quyền. Ví dụ, trong một số trường hợp, Tòa án Tối cao bắt đầu sử dụng
quan điểm thị trường quốc tế rộng lớn trái ngược với định nghĩa thị trường trong nước
hoặc thậm chí khu vực hẹp hơn. Do đó, nếu kết quả của việc sáp nhập, một công ty có
thị phần lớn tại thị trường Hoa Kỳ hoặc một khu vực của quốc gia nhưng một thị phần
nhỏ tại thị trường quốc tế, nó có thể được đánh giá là thiếu các đặc điểm độc quyền có
ý nghĩa. Tuy nhiên, đến thời điểm này, làn sóng sáp nhập thứ ba đã đến hồi kết.
6.1. Khoa học quản lý và Tập đoàn
Sự phát triển nhanh chóng của khoa học quản lý đã thúc đẩy các phong trào tập đoàn.
Các trường quản lý bắt đầu đạt được sự chấp nhận rộng rãi trong số các trường đào tạo
đại học nổi tiếng, và bằng thạc sĩ quản trị kinh doanh đã trở thành một bằng cấp có giá
trị cho giám đốc điều hành công ty. Ngành khoa học quản lý đã phát triển phương
pháp luận tạo điều kiện cho quản lý tổ chức và lý thuyết có thể được áp dụng cho
nhiều tổ chức, bao gồm các tập đoàn, chính phủ, tổ chức giáo dục và thậm chí cả quân
đội. Khi các nguyên tắc quản lý này được chấp nhận rộng rãi hơn, sinh viên tốt nghiệp
trong giai đoạn của phong trào này tin rằng họ có các kỹ năng trên diện rộng cần thiết
để quản lý nhiều loại cơ cấu trúc tổ chức khác nhau. Các nhà quản lý này tin rằng họ
có thể quản lý một tổ chức công ty trải dài trên các loại ngành khác nhau. Niềm tin
rằng các tập đoàn có thể trở thành một doanh nghiệp thành công và có thể quản lý
được đang dần trở thành hiện thực.
6.2. Sự tập trung ngành và Làn sóng tập đoàn
Bởi vì hầu hết các vụ sáp nhập trong làn sóng thứ ba liên quan đến việc hình thành các