









Preview text:
ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH KHOA TÀI CHÍNH
BỘ MÔN: SÁP NHẬP, MUA LẠI VÀ TÁI CẤU TRÚC DOANH NGHIỆP KIỂM TRA GIỮA KỲ
Giảng viên : TS.Nguyễn Thị Uyên Uyên
Lớp học phần : 24C1FIN50509004
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Tố Nguyên -31221022512
Lớp – Khóa: FNC05 – K48 Phòng học : B1.706
Buổi học: Sáng thứ 7
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2024
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 8 năm 2024 Đề bài:
Câu 1: Vào tháng 3 năm 2011, AT&T đã đề nghị mua lại hãng điện thoại di động T-
Mobile – đối thủ cạnh tranh với giá $39 tỷ. Lý do chính của thương vụ mua lại này là
AT&T muốn tận dụng tính hiệu quả từ việc kết hợp hai doanh nghiệp cùng ngành di
động, loại bỏ sự rườm rà trong các kênh kiểm soát và như vậy có thể gia tăng thêm
dung lượng đường truyền, và người sử dụng có thể sử dụng mạng và nguồn tài nguyên
của cả hai công ty. Tuy nhiên, không phải ai cũng đồng tình với thương vụ mua lại
này. Vào tháng 6 năm 2011, đối thủ cạnh tranh là Sprint đã nộp đơn kiến nghị với Ủy
ban Viễn thông Liên bang để ngăn chặn đề xuất mua lại này. Theo Bạn, lý do của việc
Sprint muốn ngăn chặn đề xuất mua lại này là gì? Trả lời:
Đối thủ cạnh tranh - Sprint muốn ngăn chặn đề xuất mua lại của AT&T xuất phát từ nhiều lý do khác nhau :
- Spint bị đe dọa về quy mô, thị phần và nguồn lực trong ngành: Sau khi mua lại và
kết hợp với doanh nghiệp cùng ngành di động T-Mobile, AT&T sẽ trở thành 1 trong
những trụ cột chủ chốt, công ty viễn thông lớn nhất Hoa Kỳ. Quy mô tài nguyên mạng
được mở rộng gần gấp ba, tận dụng tính hiệu quả về dung lượng đường truyền và
chiếm phần lớn thị phần trên thị trường có thể tạo ra một sức ép lớn cho Sprint bởi
tính cạnh tranh gay gắt trước một đối thủ lớn như AT&T. Song, chất lượng dịch vụ của
AT&T sẽ được cải thiện trong khi Sprint không có những khả năng tương tự - điều
này làm Sprint mất thị phần và khó mở rộng dịch vụ kịp thời, phù hợp trong việc thu hút khách hàng.
- Lo ngại về khả năng độc quyền: Nếu AT&T thực hiện thành công thương vụ mua lại
với T-Mobile, thị trường viễn thông sẽ giảm đi một đối thủ cạnh tranh lớn. Và lúc này,
chỉ còn hai nhà cung cấp chính là AT&T và Verizon; Sprint sẽ trở thành công ty nhỏ
nhất trong số những nhà cung cấp lớn đó - là một điều yếu thế cho nỗ lực tồn tại trên
thị trường. Mặc khác, khi vị thế cạnh tranh của AT&T được đẩy lên cao đi kèm nguy
cơ thống lĩnh, tình trạng độc quyền thị trường viễn thông dẫn đến việc khó khăn trong
vấn đề kiểm soát giá cả, quyền lực và sự lựa chọn của người tiêu dùng.
- Bất lợi trong đi tìm nguồn cung: Lợi thế càng tăng thì tiếng nói cũng như sức mạnh
đàm phán của AT&T càng có trọng lượng. Điều này làm cho SPrint bất lợi trong việc
tìm kiếm hợp đồng, thương lượng hiệu quả, kiểm soát chi phí với các đối tác cung cấp
thiết bị, dịch vụ và tệp khách hàng lớn.
- Ít động lực đổi mới và cạnh tranh về giá: Khoảng cách về chất lượng dịch vụ giữa 2
công ty sẽ ngày càng xa khi AT&T đầu tư và chú trọng nhiều hơn vào phát triển hạ
tầng và công nghệ di động sau sáp nhập. Sprint không theo kịp về mặt kỹ thuật hay
công nghệ là việc không thể tránh khỏi, ít động lực đổi mới trong thời gian ngắn và
không đủ nguồn lực khi tham gia cạnh tranh về giá.
Nhìn chung, Sprint muốn ngăn chặn thương vụ này bởi đã nhìn thấy những bất lợi cho
mình sau khi thương vụ thành công, lo ngại về nột sân chơi không cân bằng trong
ngành viễn thông và ảnh hưởng sâu sắc đến sự duy trì và phát triển của công ty trong tương lai.
Câu 2: Công ty điện Cholern (CEC) là một công ty công ích cung cấp điện cho vùng
trung tâm Colorado. Các sự kiện gần đây liên quan đến trạm điều hành nhà máy điện
hạt nhân Mile - High của CEC đang không khuyến khích nhà đầu tư. Một số cổ đông
đang lo lắng về báo cáo tài chính gần đây nhất của công ty:
Báo cáo thu nhập năm vừa qua ($triệu)
Bảng cân đối kế toán Giá trị vào cuối năm ($triệu) Doanh thu 110 Tài sản 400 Chi phí nhiên liệu 50 Chi phí khác 30 Nợ 300 Lãi vay 30 Vốn chủ sở hữu 100 Thu nhập ròng 0
Gần đây, một nhóm nhà đầu tư vừa đề nghị mua một nửa tài sản của CEC tại mức giá
thị trường. Ban giám đốc của CEC cho rằng, nên đồng ý thương vụ này với lý do
“Chúng tôi tin rằng thế mạnh của chúng ta trong ngành Năng lượng có thể được khai
thác tốt hơn bởi CEC nếu bán các máy móc truyền tải và phát điện, chuyển sang
ngành kinh doanh viễn thông. Mặc dù ngành Viễn thông là một lĩnh vực kinh doanh
có rủi ro hơn so với cung cấp điện năng được xem như là ngành Công ích. Đây cũng
là một ngành tiềm năng đem lại lợi nhuận cao”.
Yêu cầu: Ban Giám đốc có nên chấp nhận đề xuất mua lại này không? Giải thích theo quan điểm của bạn.
Trả lời: Theo báo cáo tài chính gần đây nhất của công ty CEC cho thấy công ty đang
gặp khó khăn trong vấn đề tạo ra lợi nhuận, hiệu quả kinh doanh thấp khi doanh thu là
110 triệu USD trong khi các chi phí chiếm 80 triệu và lãi vay 30 triệu USD, thu nhập
ròng là 0; chưa kể là nợ gấp ba lần vốn chủ sở hữu đi kèm một rủi ro tài chính lớn với
một cấu trúc vốn không cân đối.
Từ quan điểm cá nhân, CEC không nên chấp nhận đề xuất mua lại này bởi việc bán
các máy móc truyền tải và phát điện, chuyển sang ngành viễn thông có thể là một
nước đi vô cùng rủi ro. Ngoài ra, việc bán tài sản có thể dẫn đến giảm giá trị cổ phần
của công ty. Dù tình hình tài chính hiện tại của CEC không khả quan nhưng CEC cũng
có một thị phần nhất định trong ngành năng lượng - hoạt động kinh doanh chính- về
vùng khách hàng, cách thức quản lý kinh doanh, nền tảng ngành và sản phẩm ngành,...
Nếu bước vào một ngành kinh doanh mới lợi nhuận tốt kèm rủi ro cao như viễn thông
thì không thể đảm bảo chắc chắn rằng công ty sẽ tạo ra được chỗ đứng ổn định trên thị
trường mới khi chỉ là một doanh nghiệp mới trong giai đoạn khởi sự và không nhiều
kinh nghiệm. Phải có nhiều thời gian xây dựng những chiến lược thu hút hiệu quả, tạo
dựng lòng tin khách hàng thì mới trở thành những lựa chọn tiêu dùng của họ so với
các sản phẩm có thương hiệu lâu đời hay một hình ảnh kinh doanh đủ để tìm kiếm
khoản đầu tư lớn từ các nhà đầu tư mới. Vì vậy, Ban Giám Đốc nên cân nhắc kỹ lưỡng
nhiều khía cạnh trước khi quyết định chuyển đổi hoặc có thể xem xét các phương án
khác như tái cấu trúc, tìm kiếm các nhà đầu tư chiến lược…để duy trì hoạt động và
đảm bảo tồn tại trong thị trường năng lượng - nơi mà công ty đã có nền tảng vững chắc.
Câu 3: Kinh tế khủng hoảng, hậu quả tất yếu là sẽ có hàng loạt doanh nghiêp gặp khó
khăn và phá sản. Để vượt qua giai đoạn khó khăn này nhiều doanh nghiệp sẽ phải thực
hiện tái cấu trúc doanh nghiệp mình. Theo bạn, hoạt động M&A có là lối thoát cho các
doanh nghiệp trong giai đoạn này hay không ? Vì sao?
Trả lời: Hoạt động M&A có là lối thoát cho các doanh nghiệp trong giai đoạn kinh tế
khủng hoảng tùy vào từng doanh nghiệp. Có thể kể đến một số lý do như:
Tận dụng các nguồn lực để tăng cường sức mạnh trên thị trường: Các doanh nghiệp
gặp khó khăn về tài chính có thể tìm kiếm sự cứu trợ từ việc hợp nhất với công ty
khác. Hay trường hợp không đủ nguồn lực để tự nâng cao cơ sở hạ tầng hay công
nghệ thì M&A sẽ giúp công ty tiếp tục tồn tại khi tận dụng những nguồn lực này từ
doanh nghiệp khác. Sự kết hợp này có thể tạo ra một doanh nghiệp lớn hơn với nguồn
lực tài chính mạnh mẽ hơn, từ đó giúp họ đối phó tốt hơn với tình trạng kinh tế suy thoái.
Tái cấu trúc nợ và tài sản: M&A có thể giúp tái cấu trúc nợ và sử dụng tài sản hiệu
quả hơn. Các công ty mua lại có thể sắp xếp lại nợ, bán các tài sản không cần thiết
hoặc kém hiệu quả để cải thiện cấu trúc tài chính.
Tận dụng cơ hội tăng trưởng: Nếu một doanh nghiệp gặp phải tình trạng khó khăn
nghiêm trọng và không thể tự tái cấu trúc hoặc phục hồi, thì M&A có thể là một lối
thoát quan trọng. Họ có thể tìm kiếm nhà đầu tư hoặc đối tác chiến lược để sáp nhập
hoặc bán lại tài sản, từ đó tạo điều kiện cho công ty tiếp tục tồn tại. Còn đối với các
công ty mạnh về tài chính có thể tận dụng khủng hoảng như một cơ hội để mở rộng và
củng cố vị thế của mình thông qua việc mua lại các công ty yếu hơn hoặc các đối thủ
cạnh tranh. Điều này mang lại cơ hội để công ty lớn tận dụng M&A như một chiến
lược phát triển, mở rộng thị phần hoặc đa dạng hóa lĩnh vực kinh doanh.
M&A có thể là lối thoát cho nhiều doanh nghiệp trong giai đoạn khủng hoảng, đặc
biệt khi nó được sử dụng như một công cụ để tái cấu trúc tài chính, tăng cường sức
mạnh quy mô, và tận dụng cơ hội tăng trưởng. Nhưng M&A không phải là một giải
pháp dễ dàng và không phải doanh nghiệp nào cũng có thể thành công thông qua
chiến lược này. Nếu không được quản lý tốt, việc sáp nhập có thể khiến doanh nghiệp
mới hình thành gặp phải tình trạng tài chính khó khăn hơn, đặc biệt khi khoản nợ của
công ty bị mua lại quá lớn.
Nhìn chung, điều quan trọng là doanh nghiệp phải đánh giá kỹ lưỡng các rủi ro, có
một chiến lược quản lý sau sáp nhập hiệu quả để thực sự tận dụng được những lợi ích mà M&A mang lại.
Câu 4: Theo bạn, hoạt động M&A trong giai đoạn nền kinh tế khó khăn có khác với
thời kỳ nền kinh tế thuận lợi hay không? Giải thích tại sao hoạt động M&A thường diễn ra theo sóng? Trả lời:
Trong 2 giai đoạn nền kinh tế khó khăn và thuận lợi thì các hoạt động M&A sẽ diễn ra không giống nhau. Sự khác biệt Nền kinh tế khó khăn Nền kinh tế thuận lợi Mức độ M&A
Giảm số lượng hoạt động mua Tăng mạnh bởi được thúc đẩy
bán - sáp nhập doanh nghiệp nhờ nền kinh tế bùng nổ - thời
(M&A) do số lượng và giá trị kỳ sáp nhập của các tập đoàn
của giao dịch M&A thường gắn đa ngành. Doanh nghiệp
liền với giá trị tổng sản phẩm thường có khả năng mở rộng
kinh tế quốc nội (GDP), do quy mô và phát triển, từ đó tạo
doanh nghiệp tập trung vào việc điều kiện thuận lợi cho việc
duy trì hoạt động kinh doanh cốt thực hiện các thương vụ M&A.
lõi và giảm rủi ro tài chính.
Mục tiêu và Trong giai đoạn nền kinh tế khó Trong giai đoạn nền kinh tế
động cơ M&A khăn, mục tiêu của M&A có thể thuận lợi, mục tiêu chính của
chuyển sang cắt giảm chi phí để các thương vụ M&A thường là
đảm bảo sự tồn tại, giảm thiểu mở rộng thị phần, quy mô, đa
rủi ro, tái cấu trúc doanh nghiệp, dạng hóa sản phẩm hoặc thâm
hoặc tận dụng cơ hội mua lại các nhập vào các thị trường mới.
tài sản với giá rẻ do sự suy yếu Các công ty thực hiện M&A
của các công ty khác. Động cơ nhằm tận dụng cơ hội tăng
chính có thể là hợp nhất các trưởng vào các thị trường mới,
nguồn lực, bảo vệ giá trị hiện có, cải thiện hiệu quả hoạt động, và
đảm bảo sự sống còn, hoặc tìm tạo ra giá trị dài hạn cho cổ
cách nhanh chóng cải thiện tình đông.
hình tài chính, khả năng sinh lời của công ty. Giá trị cơ hội
Nhiều doanh nghiệp có thể gặp Trong bối cảnh tăng trưởng và
vấn đề về tài chính hoặc quản lý tăng giá trị thị trường các
=> Các nhà đầu tư mua lại hoặc doanh nghiệp thường hy vọng
sáp nhập với giá thấp hơn thị rằng việc hợp nhất hoặc mua trường
bán sẽ tạo ra giá trị dự kiến cao hơn cho cổ đông và doanh
nghiệp chứ không chỉ dừng lại
ở việc giảm rủi ro hoặc tối thiểu
Vai trò của nhà Nhà đầu tư trở nên thận trọng Các nhà đầu tư thường có xu
đầu tư và tài hơn, và việc định giá công ty có hướng lạc quan hơn trong thời chính
thể giảm. Việc huy động vốn trở kỳ kinh tế thuận lợi. Điều này
nên khó khăn hơn, đặc biệt là khi dẫn đến việc định giá công ty
lãi suất tăng hoặc thị trường vốn và mục tiêu M&A cao hơn. Các
bị thu hẹp. Trong làn sóng M&A thị trường tài chính sẵn sàng
thứ sáu, sự gia tăng của các quỹ cung cấp vốn, bao gồm cả nợ
đầu tư tư nhân đã đóng vai trò và vốn chủ sở hữu, để hỗ trợ
quan trọng trong việc thực hiện các giao dịch lớn. Đặc biệt,
các thương vụ M&A bằng cách trong các làn sóng M&A thứ tư
tận dụng các điều kiện tài chính và thứ năm, thị trường chứng
thuận lợi trước khi cuộc khủng khoán tăng trưởng mạnh mẽ đã
hoảng tài chính năm 2008 xảy ra. cung cấp một nền tảng thuận
lợi cho các thương vụ M&A lớn.
Kết quả và rủi Các thương vụ M&A có thể Kết quả của các thương vụ ro
giúp các công ty tăng cường sức M&A trong giai đoạn thuận lợi
mạnh tài chính và thị trường, thường là sự tăng trưởng mạnh
nhưng rủi ro cũng lớn hơn. Nếu mẽ và mở rộng thị trường. Tuy
không quản lý tốt, các thương vụ nhiên, có nguy cơ rằng các
sử dụng đòn bẩy cao có thể dẫn công ty có thể trở nên quá tự tin
đến phá sản hoặc tái cấu trúc nợ và thực hiện các thương vụ với
khi nền kinh tế tiếp tục suy thoái, giá quá cao, dẫn đến các vấn đề
như đã thấy trong cuộc khủng tài chính sau này.
hoảng nợ dưới chuẩn năm 2008.
Giải thích tại sao hoạt động M&A thường diễn ra theo làn sóng?
Các hoạt động M&A thường diễn ra theo làn sóng - mang tính hàng loạt và theo các
chu kỳ lặp lại ( ví dụ giai đoạn mức độ, quy mô và số lượng của các thương vụ M&A
tăng lên nhanh chóng, sau đó lại “tuột dốc” và rồi lại tiếp tục “khởi sắc”). Những làn
sóng M&A thường xuất hiện vì một loạt các yếu tố kinh tế, tài chính, công nghệ, và
quy định pháp lý kết hợp lại tạo ra môi trường thuận lợi cho việc thực hiện các thương
vụ sáp nhập và mua lại. Những yếu tố này tạo ra môi trường thuận lợi cho việc thực
hiện M&A trong một khoảng thời gian cụ thể, sau đó hoạt động có thể giảm dần khi
các yếu tố này thay đổi. Và như vậy lặp lại như một chu kỳ. Nguyên nhân làm các
hoạt động M&A thường diễn ra theo làn sóng là vì:
- Chu kỳ kinh tế: Nền kinh tế thường không ổn định mà xen kẽ những giai đoạn
tăng trưởng và suy thoái theo chu kỳ. Những thời kì này có thể tạo ra sự
chuyển đổi trong tình hình tài chính và chiến lược của các doanh nghiệp, từ đó
thúc đẩy sự thay đổi trong hoạt động M&A.
Ví dụ: Khi nền kinh tế phát triển mạnh mẽ (thời kỳ tăng trưởng), lợi nhuận
doanh nghiệp tăng, chi phí vay vốn thấp, và niềm tin của nhà đầu tư cao. Điều
này sẽ thúc đẩy các công ty tìm kiếm cơ hội mở rộng thị phần hoặc thâm nhập
vào các thị trường mới thông qua M&A. Còn trong giai đoạn kinh tế suy thoái,
giá trị của các công ty có thể giảm, tạo ra cơ hội mua lại với giá thấp. Số lượng
và giá trị các thương vụ M&A thường giảm khi điều kiện tài chính trở nên khó khăn.
- Thay đổi quy định pháp lý và chính sách: Các chính sách gỡ bỏ quy định
trong một số ngành công nghiệp có thể thúc đẩy hoạt động M&A. Ví dụ, trong
làn sóng M&A thứ tư, sự gỡ bỏ các quy định trong ngành hàng không và ngân
hàng đã dẫn đến sự gia tăng các thương vụ M&A trong các ngành này. Hay
thay đổi trong luật thuế, như giảm thuế doanh nghiệp hoặc các quy định về ưu
đãi thuế cho hoạt động sáp nhập, có thể kích thích các công ty thực hiện M&A.
Rào cản pháp lý bị loại bỏ, những rào cản này trước đây có thể đã ngăn cản sự kết hợp doanh nghiệp.
Ví dụ, các thay đổi trong luật ngân hàng của Hoa Kỳ từng ngăn cản các ngân
hàng vượt qua biên giới tiểu bang hoặc tham gia vào các ngành công nghiệp khác.
=> Thay đổi trong quy định về thương vụ M&A hoặc chính sách kinh tế có thể
tạo ra sự thúc đẩy hoặc ngăn cản hoạt động M&A.
- Công nghệ và đổi mới :Các tiến bộ công nghệ thường dẫn đến sự thay đổi cấu
trúc ngành, tạo ra cơ hội cho các công ty lớn sáp nhập hoặc mua lại các công ty
công nghệ nhỏ hơn để duy trì hoặc mở rộng vị thế cạnh tranh. Mặc khác, cũng
tạo ra động lực hợp nhất để tăng cường hiệu quả hoạt động và tiết kiệm chi phí.
- Áp lực từ cạnh tranh: Khi cạnh tranh trong một ngành tăng lên, các công ty
có thể cảm thấy áp lực phải thực hiện M&A để duy trì hoặc cải thiện vị thế
cạnh tranh của mình. Và một khi một công ty trong ngành thực hiện thành công
một thương vụ M&A, các công ty khác có thể cảm thấy bị áp lực phải làm theo
để không bị tụt lại phía sau.
- Lãi suất và điều kiện tài chính: Khi lãi suất thấp, chi phí vay vốn để tài trợ
cho các thương vụ M&A giảm, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các
giao dịch lớn. Khi thị trường tài chính thuận lợi, các công ty dễ dàng huy động
vốn thông qua cổ phiếu hoặc trái phiếu, thúc đẩy hoạt động M&A.
- Tâm lý thị trường: Nếu các nhà đầu tư có niềm tin vào sự tăng trưởng của nền
kinh tế và thị trường chứng khoán, họ thường ủng hộ các hoạt động M&A, đẩy
giá cổ phiếu lên và làm cho các thương vụ sáp nhập trở nên hấp dẫn hơn. Các
công ty thường có xu hướng theo dõi và phản ứng với hành động của đối thủ
cạnh tranh. Khi một làn sóng M&A bắt đầu, nhiều công ty khác có thể tham gia
theo, tạo ra một chuỗi các thương vụ liên tiếp hay còn gọi là hiệu ứng bầy đàn.
- Ngoài ra theo nghiên cứu của Harford (nghiên cứu các làn sóng trong ngành
công nghiệp, thay vì mức độ hoạt động M&A tổng thể, trong giai đoạn từ
1981–2000) trên 35 làn sóng ngành công nghiệp xảy ra trong giai đoạn này cho
thấy rằng tính thanh khoản vốn cũng là một điều kiện cần thiết để một làn sóng có thể diễn ra.
Ví dụ: Một làn sóng M&A được diễn ra trong những thập kỷ 1980 và 1990, khi
ngành công nghiệp dầu khí trải qua những thay đổi quan trọng do các thương vụ
sáp nhập và mua bán. Trong giai đoạn này, ngành công nghiệp dầu khí đã trải
qua nhiều biến đổi cấu trúc do tình hình kinh tế toàn cầu và biến đổi trong giá
dầu. Vào những năm 1980, giá dầu đột ngột giảm sâu sau một thời kỳ tăng
trưởng mạnh mẽ. Điều này đã gây ra những khó khăn cho nhiều công ty dầu
khí, khiến họ phải tìm kiếm cách tối ưu hóa nguồn lực và cạnh tranh trong thị trường khắc nghiệt.
=> Trong bối cảnh này, số lượng thương vụ M&A trong ngành công nghiệp dầu
khí tăng đáng kể. Các công ty dầu khí cả nhỏ lẻ và lớn đã thực hiện các thương
vụ sáp nhập và mua bán để cùng nhau tạo ra sự đa dạng hóa nguồn cung cấp,
giảm chi phí sản xuất, và cải thiện khả năng cạnh tranh. Có thể kể đến là thương
vụ sáp nhập giữa Exxon và Mobil vào năm 1999, tạo thành ExxonMobil một
trong những tập đoàn dầu khí lớn nhất thế giới. Tuy nhiên, sau giai đoạn sóng
M&A này, ngành công nghiệp dầu khí đã trải qua nhiều biến đổi khác, bao gồm
cả sự gia tăng trong sản xuất dầu từ khai thác phi truyền thống, những thay đổi
trong yêu cầu về năng lượng tái tạo và tăng cường quan ngại về tác động của
biến đổi khí hậu. Điều này đã tạo ra một chu kỳ mới của hoạt động M&A và sự
thay đổi cấu trúc ngành.