ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG KINH DOANH
MÔN HỌC: SÁP NHẬP, MUA LẠI TÁI CẤU TRÚC DOANH NGHIỆP
BÀI KIỂM TRA GIỮA KỲ
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: TS. NGUYỄN THỊ UYÊN UYÊN
LỚP HỌC PHẦN: 25C1FIN50509008
HỌ TÊN: ĐẶNG HOÀNG LAN ANH
MSSV: 31231022742
LỚP - KHÓA: FNP003 - K49
TP. Hồ Chí Minh, ngày 02 tháng 12 năm 2025
Câu 1: Giả định rằng một công ty bạn đang s hữu cổ phần nhận được 2 lời
đề nghị về việc bán lại công ty của bạn. do nào để bạn thể biện hộ c
trường hợp Ban quản của công ty bạn lại chấp nhận lời đề nghị mức giá
chào mua thấp hơn không? Giải thích.
Bài làm
Ban quản vẫn thể hợp hóa việc chấp nhận mức giá chào mua thấp hơn
nếu xét trên tổng thể giao dịch, mức giá đó mang lại giá trị ròng tốt hơn hoặc giúp
giảm thiểu rủi ro cho cổ đông. Thứ nhất, nếu công ty đang đối mặt với nguy suy
giảm hoạt động hoặc thị trường dự o sẽ xấu đi, việc chấp nhận mức giá thấp hơn
nhưng chắc chắn thể giúp cổ đông tránh được thiệt hại lớn hơn trong tương lai. Thứ
hai, lời chào mua thấp hơn nhưng đến từ bên mua năng lực phát triển công ty, tạo
giá trị cộng hưởng đảm bảo lợi ích dài hạn cho cổ đông, vẫn thể lựa chọn tối
ưu.
Bên cạnh đó, trong điều kiện thị trường suy thoái hoặc khó khăn, mức giá hiện
tại thể “tốt nhất thể”, việc chờ đợi giá cao hơn thể dẫn đến rủi ro công ty
mất giá. Ngoài ra, việc bán công ty mức giá thấp hơn đôi khi mở ra hội chiến
lược mới, chẳng hạn như tái đầu vào lĩnh vực sinh lợi hơn. Cuối cùng, nếu quyết
định này được đưa ra dựa trên sự đồng thuận đánh giá hợp của cổ đông, thì việc
chấp nhận giá thấp hơn hoàn toàn thể biện minh được, miễn Ban quản chứng
minh rằng đây lựa chọn bảo vệ lợi ích tối đa của cổ đông.
Câu 2: Các cổ đông của công ty Flannery vừa bỏ phiếu quyết định việc mua lại
công ty Stultz. Thông tin về mỗi công ty được cho dưới đây:
Flannery Stultz
Tỷ số P/E 6,35 12,70
Số lượng cổ phần thường 73.000 146.000
Thu nhập $230.000 $690.000
Các cổ đông của Flannery sẽ nhận được một cổ phần của Stultz cho 3 cổ phần
Flannery $690.000 họ đang nắm giữ.
a. EPS của Stultz bao nhiêu sau khi được sáp nhập? Tỷ số P/E sẽ bao nhiêu
nếu giá trị NPV từ việc mua lại bằng 0?
b. Tại sao điều Stultz phải lưu tâm giá trị cộng hưởng từ sáp nhập hai công
ty này? Hãy giải thích tại sao câu trả lời của bạn giúp giải quyết định thực hiện
việc mua lại?
Bài làm
Tỷ lệ hoán đổi:
Cổ đông Flannery nhận 1 cổ phần Stultz cho 3 cổ phần Flannery.
a. Thu nhập gộp sau sáp nhập = 230.000 + 690.000 = 920.000
Số cổ phần Stultz ban đầu: 146.000
Flannery 73.000 cổ phần, mỗi 3 cổ phần đổi được 1 cổ phần Stultz.
Số cổ phần Stultz phát hành thêm =
73.000
3=24333.33333
Tổng số cổ phần mới của công ty:
Nnew=146.000+24333.33333=170333.3333
EPS mới của Stultz sau sáp nhập:
EPSnew=920.000
170333.3333=5,40
EPS sau sáp nhập = 5,40
Nếu NPV = 0 giá trị hp nhất không tạo thêm li ích giá cổ phiếu giữ!
nguyên
Giá cổ phiếu Stultz ban đầu:
P0=PE×EPS=12,70×690.000146.000=8763
146=60, 02
Tỷ số P/E sau sáp nhập:
P/Enew=P0
EPSnew
=60,02
5,40=11,12
Tỷ sốP/E mới = 11,12
b. Stultz phải lưu tâm đến giá trị cộng hưởng với tỷ lệ hoán đổi 1:3, Stultz phải phát
hành thêm cổ phiếu cho cổ đông Flannery. Khi số cổ phiếu tăng, EPS của Stultz bị
pha loãng (dilution).
Nếu thương vụ không tạo ra giá trị cộng ởng:
EPS của Stultz sẽ giảm sau sáp giảm.
Giá cổ phiếu thị trường thể giảm.
Cổ đông Stultz sẽ bị thiệt hại.
HĐQT Stultz sẽ bị phản đối quyết định làm tổn hại lợi ích cổ đông hiện hữu.
vậy Stultz chỉ nên đồng ý thương vụ nếu sáp nhập tạo ra giá trị đủ lớn để cho
sự pha loãng EPS.
Stultz phải quan tâm synergy nếu không cộng hưởng, cổ đông của Stultz sẽ bị
thiệt: giá cổ phiếu giảm, EPS giảm, thương vụ trở thành bất lợi. Synergy điều
kiện để NPV 0, bảo vệ lợi ích cổ đông hiện hữu.
Câu 3: Công ty điện Cholern (CEC) một công ty công ích cung cấp điện lực
cho vùng trung tâm Colorado. Các sự kiện gần đây liên quan đến trạm điều hành
nhà máy điện hạt nhân Mile –High của CEC đang không khuyến khích nhà đầu
tư. Một số cổ đông đang lo lắng về báo cáo tài chính gần đây nhất của công ty:
Báo cáo thu nhập
Năm ngoái
($ triệu)
Bảng cân đối kế toán
Giá trị vào cuối năm
($ triệu)
Doanh thu $110 Tài sản $400
Chi phí nhiên liệu 50 Nợ 300
Chi phí khác 30 Vốn chủ sở hữu 100
Lãi vay 30
Thu nhập khác $0
Gần đây, một nhóm nhà đầu nhân giàu vừa đề nghị mua một nửa tài sản của
CEC theo mức giá thị trường. Ban giám đốc của CEC cho rằng, công ty nên đồng ý
thương vụ này do: “chúng tôi tin rằng thế mạnh của chúng ta trong ngành ng
lượng thể được khai thác tốt hơn bởi CEC nếu chúng ta bán các máy móc truyền tải
phát điện, chuyển sang ngành kinh doanh Viễn thông. Mặc ngành viễn thông
một lĩnh vực kinh doanh rủi ro hơn so với cung cấp điện năng một công ty
công ích, đây cũng một ngành tiềm năng mang lại rất nhiều lợi nhuận”.
Yêu cầu: Theo Bạn, Ban giám đốc nên chấp nhận đề xuất mua lại này hay
không? Tại sao hoặc tại sao không?
Bài làm
Dựa trên các thông tin được cung cấp, thể thấy CEC đã trải qua một năm
đầy khó khăn, khiến cổ đông lo ngại về nh hình tài chính triển vọng hoạt động của
công ty. Trong bối cảnh này, việc một nhóm nhà đầu đề xuất mua lại một nửa tài
sản của CEC với mức giá thị trường hợp một hội đáng cân nhắc, đặc biệt khi
số vốn thu được thể giúp công ty chuyển hướng sang lĩnh vực viễn thông - một
ngành biên lợi nhuận cao và tốc độ tăng trưởng hấp dẫn.
Tuy nhiên, bất kỳ quyết định tái cấu nào cũng cần dựa trên nền tảng phân
tích tài chính cẩn trọng. Báo cáo thu nhập của CEC cho thấy thu nhập ròng năm vừa
qua bằng 0 USD, phản ánh hiệu quả kinh doanh yếu khả năng tạo dòng tiền thấp.
Đồng thời, bảng cân đối kế toán ghi nhận tổng tài sản 400 USD nợ phải trả 300
USD, tương ứng tỷ lệ nợ trên tài sản 0,75 - một mức rủi ro cao. Cấu trúc tài chính
này cho thấy công ty dễ rơi vào trạng thái căng thẳng thanh khoản nếu hiệu quả
hoạt động tiếp tục suy giảm, CEC thể đối mặt với nguy không đáp ứng được
nghĩa vụ lãi vay trong những năm tới.
Việc gia nhập ngành viễn thông thể mở ra hội sinh lời cao, nhưng đây
cũng ngành mức độ cạnh tranh lớn, đòi hỏi vốn đầu ban đầu đáng kể chịu
rủi ro thị trường đáng kể. Nếu mảng kinh doanh mới thất bại, tác động tiêu cực đến
CEC sẽ rất lớn, đặc biệt trong bối cảnh công ty đang cấu trúc tài chính yếu.
vậy, ban giám đốc cần tiến hành phân tích kỹ lưỡng báo cáo tài chính, đánh
giá chi tiết rủi ro - lợi ích của thương vụ khả năng chịu đựng rủi ro của công ty
trước khi quyết định nên chấp nhận lời đề nghị hay chuyển hướng chiến lược hay
không. Một quyết định vội vàng thể làm trầm trọng thêm những vấn đề tài chính
hiện tại, thay tạo ra giá trị mới cho cổ đông.
Câu 4: Cách đây 6 tháng công ty Birdie Golf đã các cuộc nói chuyện với công ty
Hybrid Golf về vấn đề sáp nhập. Sau một vài cuộc đàm phán, bên mua lại đề nghị
thanh toán bằng tiền mặt cho Hybrid Golf với giá $352 triệu. Cả hai công ty đều thị
trường tốt trong ngành kinh doanh câu lạc bộ Golf hai công ty tin rằng thương vụ
sáp nhập sẽ mang lại giá trị cộng hưởng đáng kể nhờ vào lợi thế kinh tế về quy
trong sản xuất tiếp thị , cũng như sự tiết kiệm đáng kể trong các chi phí quản
chung. Bryce Bichon, nhân viên tài chính của Bridie chuẩn bị các điều kiện cho các
cuộc đàm phán về vấn đề sáp nhập. Bryce chuẩn bị các báo cáo tài chính dự kiến cho
Hybrid Golf với giả định việc sáp nhập xảy ra. Các báo cáo tài chính đã tính tất cả lợi
ích từ giá trị cộng hưởng của việc sáp nhập:
2012 2013 2014 2015 2016
Doanh thu $512.000.000 $576.000.000 $640.000.000 $720.000.000 $800.000.000
Chi phí
sản xuất
359.200.000 403.200.000 448.000.000 505.600.000 564.000.000
Khấu hao 48.000.000 51.200.000 52.800.000 53.120.000 53.600.000
Chi phí
khác
51.200.000 57.600.000 64.000.000 72.320.000 77.600.000
EBIT 53.600.000 64.000.000 75.200.000 88.960.000 104.800.000
Lãi vay 12.160.000 14.080.000 15.360.000 16.000.000 17.280.000
Thu nhập
tính thuế
41.440.000 49.920.000 59.840.000 72.960.000 87.520.000
Thuế
(40%)
16.576.000 19.968.000 23.936.000 29.184.000 35.008.000
Lãi ròng 24.864.000 29.952.000 35.904.000 43.776.000 52.512.000
Bryce cũng nhận thức được rằng rằng mảng hoạt động của Hybrid Golf sẽ đòi hỏi các
khoản đầu mỗi năm nhằm duy trì hoạt động, cùng với các nguồn tài trợ. Bảng phác
thảo dưới đây cho thấy c yêu cầu về đầu các nguồn tài trợ:
2012 2013 2014 2015 2016
Các khoản đầu tư:
Vốn luân
chuyển ròng
$12.800.000 $16.000.000 $16.000.000 $19.200.000 $19.200.000
Tài sản cố
định
9.600.000 16.000.000 11.520.000 76.800.000 4.480.000
Tổng $22.400.000 $32.000.000 $27.520.000 $96.000.000 $23.680.000
Các nguồn tài trợ:
Nợ mới $22.400.000 $10.240.000 $10.240.000 $9.600.000 $7.680.000
Lợi nhuận
giữ lại
0 21.760.000 17.280.000 17.280.000 16.000.000
Tổng $22.400.000 $32.000.000 $27.520.000 $26.880.000 $23.680.000
Ban giám đốc của Birdie Golf cảm thấy rằng cấu trúc vốn của Hybrid Golf không tối
ưu. Nếu việc sáp nhập xảy ra, Hybrid Golf lập tức sẽ tăng đòn bẩy tài chính bằng cách
phát hành $71 triệu nợ, sau đó khoản thanh toán cổ tức $96 triệu cho Bridie
Golf. Điều này s làm tăng tỷ số Nợ/vốn chủ sở hữu của Hybrid Golf từ 0,5 lên 1,00.
Birdie Golf cũng thể sử dụng $16 triệu khoản chuyển lỗ cho mục đích thuế của
Hybrid Golf từ các năm trước đó (tax loss carryforward) vào năm 2013 2014 .
Tổng giá trị của Hybrid Golf được ước tính $576 triệu sau 5 năm công ty sẽ
$192 triệu giá trị nợ vào thời điểm đó. Cổ phiếu của Birdie hiện tại được bán với giá
$94/mỗi cổ phần, công ty 11,6 triệu cổ phần thường đang lưu hành. Hybrid Golf
5,2 triệu cổ phần thường đang lưu hành. Cả hai công ty thể vay mức lãi suất
8%. Lãi suất phi rủi ro 6% tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của thị trường 13%. Bryce
tin rằng chi phí sử dụng vốn hiện tại của Bridie Golf 11%. Hệ số beta của chứng
khoán Hybrid mức cấu trúc vốn hiện tại 1.30.
Bryce đã yêu cầu bạn phân tích các khía cạnh tài chính của thương vụ sáp nhập này.
Cụ thể, ông ta yêu cầu bạn trả lời các câu hỏi dưới đây:
a. Giả định các cổ đông của Hybrid sẽ đồng ý với giá sáp nhập $68,75 cho mỗi cổ
phần. Bridie nên tiến hành việc sáp nhập hay không?
b. Mức giá cao nhất trên mỗi cổ phần Bridie nên sẵn lòng trả cho Hybrid bao
nhiêu?
c. Giả định rằng Bridie không sẵn lòng với giao dịch sáp nhập bằng tiền mặt nhưng sẽ
xem xét giao dịch bằng hoán đổi cổ phiếu. Tỷ lệ hoán đổi bao nhiêu để cho việc sáp
nhập tạo ra giá trị tương đương với giá trị sáp nhập phương án ban đầu $68,75
cho mỗi cổ phần?
d. Tỷ số hoán đổi chứng khoán cao nhất bao nhiêu Bridie sẵn lòng trả thực
hiện việc sáp nhập?
Bài làm
a. Phân tích sáp nhập
Giá trị hiện tại của dòng tiền mặt gia tăng.
Dòng tiền hiện tại từ việc mua lại gồm chi phí mua lại cộng với cổ tức được trả:
Mua lại Hybrid -352.000.000
Cổ tức từ Hybrid 96.000.000
Toàn bộ -256.000.000
Dòng tiền đến Birdie Golf từ việc mua lại Hybrid Golf trong 5 năm tới sẽ là:
Năm 1 Năm 2 Năm 3 Năm 4 Năm 5
Cổ tức từ
Hybrid (net
income - lợi
nhuận giữ lại)
24.864.000 8.192.000 18.624.000 26.496.000 36.512.0000
Lỗ tính thuế
thực hiện
chuyển tiếp
(Tax - loss -
carry -
forwards)
16.000.000 16.000.000
Giá trị cuối
cùng của vốn
chủ sở hữu
576.000.000
Giá trị cuối
cùng của nợ
-192.000.000
Tổng 24.864.000 24.192.000 34.624.000 26.496.000 420.512.000
Để chiết khấu dòng tiền từ việc sáp nhập, chúng ta phải chiết khấu từng dòng tiền với
tỷ lệ chiết khấu thích hợp. Các dòng tiền bổ sung từ các khoản chuyển lỗ từ thuế
mức nợ đề xuất nên được chiết khấu theo chi phí nợ chúng được xác định với ít sự
không chắc chắn.
Giá trị cuối cùng của công ty phải chịu rủi ro kinh doanh thông thường phải được
chiết khấu theo tỷ lệ thông thường. Tỷ trọng nợ hiện tại tỷ trọng vốn chủ sở hữu
trong cấu vốn của Hybrid là:
WD=0.51+0.5=1
3
WE=1−1 3=2
3
Hệ số Beta cho khoản nợ của Hybrid là:
βD=0.08−0.06
0.13−0.06=2
7
Beta tổng thể của Hybrid là:
βH=( )+( )=0.33×0.29 067×1.3 0.9667
Bây giờ chúng ta thể tính toán lợi nhuận cần thiết cho các hoạt động bình thường
của Hybrid, đó là:
E−RH=0.06+0.96×(0.13−0.06)=0.1272
Để tìm tỷ lệ chiết khấu cho cổ tức chúng ta cần tìm beta mới của vốn chủ sở hữu cho
Hybrid được hợp nhất. Tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu mới 1, nghĩa tỷ trọng nợ
tỷ trọng vốn chủ sở hữu bằng 50%. Beta mới cho vốn chủ sở hữu phải là:
βmới=[β(WD−mới×W D−cũ)]/WE−mới=0.96−( )0.5 0.33×
0.5=1.59
vậy, tỷ lệ chiết khấu đối với cổ tức được trả trong tương lai là:
E−R¿=0.06+1.59×(0.13−0.06 0.1713)= =17.13%
Bây giờ chúng ta thể tìm thấy giá trị hiện tại của các dòng tiền trong tương lai. Giá
trị hiện tại của các luồng tiền từng năm, cùng với tỷ lệ chiết khấu phù hợp cho từng
luồng tiền là:
Tỷ lệ
chiết
khấu
Năm 1 Năm 2 Năm 3 Năm 4 Năm 5
Cổ tức 17.13% 21.227.696 7.023.320 13.000.332 19.475.351 36.512.000
Lỗ tính
thuế
8% 14.814.815 12.590.442
Giá trị
cuối cùng
vốn chủ
sở hữu
12.73% 316.391.603
Giá trị
cuối cùng
của nợ
8% -130.671.934
Tổng 21.227.696 21.838.134 25.590.334 19.475.351 222.231.629
NPV của việc mua lậi là: NPV = -256.000.000 + 21.227.696 + 21.838.134 +
25.590.774 + 19.475.351 + 222.231.629= $54.363.584
b. việc mua lại một dự án NPV dương nên điều Birdie muốn cung cấp nhất
tăng ưu đãi tiền mặt hiện tại bằng NPV hiện tại, hoặc:
Ưu đãi cao nhất = $352.000.000 + $54.363.584 = $406.363.584
Giá cổ phiếu cao nhất tổng giá chào bán cao, chia cho số cổ phiếu đang lưu hành,
hoặc:
Giá cổ phiếu cao nhất = $406.363.584 / 5.200.000 shares = $78.15
c. Để xác định tỷ giá hối đoái hiện tại, tỷ giá hối đoái sẽ tạo ra một chào bán tiền mặt
một chào bán cổ phiếu tương đương, chúng ta cần xác định giá cổ phiếu mới theo
chào bán tiền mặt ban đầu.
Giá cổ phiếu mới của Birdie sau khi sáp nhập sẽ là:
PNew
= [$94 * 11.600.000 + $54.363.584] / 11.600.000 = $98.69. vậy, tỷ giá hối
đoái, sẽ làm cho chào bán tiền mặt chào bán cổ phiếu tương đương nhau, là:
Tỷ giá hối đoái = $68.75 / $98.69 = 0.6966
d. Tỷ lệ hối đoái cao nhất Birdie chấp nhận tỷ giá hối đoái dẫn đến việc thu
được NPV bằng không. Điều này nghĩa giá cổ phiếu của Birdie không thay đổi
sau khi sáp nhập,do đó, tỷ lệ hối đoái là:
Tỷ giá hối đoái = $68.75 / $94 = 0. 7314
Câu 5: Theo bạn, hoạt động M&A trong giai đoạn nền kinh tế khó khăn khác
với thời kỳ nền kinh tế thuận lợi hay không? Giải thích tại sao hoạt động M&A
thường diễn ra theo sóng?
Bài làm
1. M&A trong thời kỳ kinh tế khó khăn:
Trong giai đoạn suy thoái hoặc bất ổn kinh tế, số lượng giá trị các thương vụ
M&A thường xu hướng giảm mạnh. Điều này xuất phát từ mối liên hệ trực tiếp
giữa hoạt động M&A tốc độ tăng trưởng GDP. Ba yếu tố chính làm hình thành sự
khác biệt gồm: áp lực thời gian đối với doanh nghiệp, sự can thiệp của nhà đầu
quan quản lý, sự khác biệt giữa các quốc gia trong bối cảnh khủng hoảng toàn
cầu.
Thứ nhất, trong suy thoái, nhiều doanh nghiệp phải đối mặt với áp lực thanh
khoản, rủi ro mất cân đối tài chính hoặc nguy phá sản. Điều này buộc bên n phải
chốt giao dịch nhanh để duy trì dòng tiền, tạo lợi thế lớn cho bên mua trong quá trình
đàm phán. Các thương vụ diễn ra nhanh hơn nhưng cũng tiềm ẩn rủi ro định giá sai
lệch, due diligence không đầy đủ khả năng thất bại trong quá trình thực thi.
Thứ hai, chính phủ các quan quản thường tăng cường kiểm soát nhằm
bảo vệ thị trường, ổn định tài chính hạn chế các thương vụ thể gây bất lợi cho
doanh nghiệp nội địa. Điều này làm giảm tính linh hoạt của các thương vụ M&A
đôi khi khiến lợi ích của cổ đông không được tối ưu.
Thứ ba, tác động không đồng đều của khủng hoảng giữa các quốc gia biến
động tỷ giá tạo ra sự chênh lệch lớn về giá trị giao dịch xuyên biên giới. Các doanh
nghiệp từ các quốc gia đồng tiền mạnh dễ dàng mua lại tài sản giá rẻ tại các nền
kinh tế chịu ảnh hưởng nặng nề hơn. Đối với các doanh nghiệp Việt Nam, nhà đầu
nước ngoài quan tâm nhiều hơn, họ vẫn phải phụ thuộc vào điều kiện thị trường nội
địa các rào cản chính ch.
Mặc suy thoái được xem “thời vàng” để mua tài sản giá thấp, thực tế
nhiều doanh nghiệp lại hạn chế thực hiện M&A do thiếu dòng tiền, rủi ro tài chính gia
tăng tâm ưu tiên giữ tiền mặt. Bên cạnh đó, lo ngại về phản ứng tiêu cực của thị
trường trong thời điểm nhạy cảm cũng khiến các doanh nghiệp thận trọng hơn với
những giao dịch lớn.
2. M&A trong thời kỳ kinh tế thuận lợi:
Ngược lại, khi nền kinh tế tăng trưởng ổn định, niềm tin thị trường cao dòng
vốn dồi dào, hoạt động M&A thường diễn ra sôi động hơn. Các doanh nghiệp chủ
động theo đuổi chiến lược mở rộng quy mô, thâm nhập thị trường mới hoặc gia tăng
thị phần thông qua sáp nhập mua lại.
Trong bối cảnh thuận lợi này, các thương vụ thường giá trị cao hơn do tài
sản được định giá tốt, khả năng huy động vốn dễ dàng tâm thị trường tích cực.
Bên cạnh đó, giai đoạn các quy định chống độc quyền chưa phát triển mạnh
thường thời kỳ bùng nổ M&A, khi các doanh nghiệp lớn tận dụng khoảng trống
pháp để mở rộng quyền lực thị trường thông qua thâu tóm.

Preview text:

ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG KINH DOANH
MÔN HỌC: SÁP NHẬP, MUA LẠI TÁI CẤU TRÚC DOANH NGHIỆP
BÀI KIỂM TRA GIỮA KỲ
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:
TS. NGUYỄN THỊ UYÊN UYÊN
LỚP HỌC PHẦN: 25C1FIN50509008 HỌ TÊN:
ĐẶNG HOÀNG LAN ANH MSSV: 31231022742 LỚP - KHÓA: FNP003 - K49
TP. Hồ Chí Minh, ngày 02 tháng 12 năm 2025
Câu 1: Giả định rằng một công ty bạn đang sở hữu cổ phần nhận được 2 lời
đề nghị về việc bán lại công ty của bạn. do nào để bạn thể biện hộ c
trường hợp Ban quản của công ty bạn lại chấp nhận lời đề nghị mức giá
chào mua thấp hơn không? Giải thích. Bài làm
Ban quản lý vẫn có thể hợp lý hóa việc chấp nhận mức giá chào mua thấp hơn
nếu xét trên tổng thể giao dịch, mức giá đó mang lại giá trị ròng tốt hơn hoặc giúp
giảm thiểu rủi ro cho cổ đông. Thứ nhất, nếu công ty đang đối mặt với nguy cơ suy
giảm hoạt động hoặc thị trường dự báo sẽ xấu đi, việc chấp nhận mức giá thấp hơn
nhưng chắc chắn có thể giúp cổ đông tránh được thiệt hại lớn hơn trong tương lai. Thứ
hai, lời chào mua thấp hơn nhưng đến từ bên mua có năng lực phát triển công ty, tạo
giá trị cộng hưởng và đảm bảo lợi ích dài hạn cho cổ đông, vẫn có thể là lựa chọn tối ưu.
Bên cạnh đó, trong điều kiện thị trường suy thoái hoặc khó khăn, mức giá hiện
tại có thể là “tốt nhất có thể”, và việc chờ đợi giá cao hơn có thể dẫn đến rủi ro công ty
mất giá. Ngoài ra, việc bán công ty ở mức giá thấp hơn đôi khi mở ra cơ hội chiến
lược mới, chẳng hạn như tái đầu tư vào lĩnh vực sinh lợi hơn. Cuối cùng, nếu quyết
định này được đưa ra dựa trên sự đồng thuận và đánh giá hợp lý của cổ đông, thì việc
chấp nhận giá thấp hơn hoàn toàn có thể biện minh được, miễn là Ban quản lý chứng
minh rằng đây là lựa chọn bảo vệ lợi ích tối đa của cổ đông.
Câu 2: Các cổ đông của công ty Flannery vừa bỏ phiếu quyết định việc mua lại
công ty Stultz. Thông tin về mỗi công ty được cho dưới đây: Flannery Stultz Tỷ số P/E 6,35 12,70
Số lượng cổ phần thường 73.000 146.000 Thu nhập $230.000 $690.000
Các cổ đông của Flannery sẽ nhận được một cổ phần của Stultz cho 3 cổ phần
Flannery $690.000 họ đang nắm giữ.
a. EPS của Stultz bao nhiêu sau khi được sáp nhập? Tỷ số P/E sẽ bao nhiêu
nếu giá trị NPV từ việc mua lại bằng 0?
b. Tại sao điều Stultz phải lưu tâm giá trị cộng hưởng từ sáp nhập hai công
ty này? Hãy giải thích tại sao câu trả lời của bạn giúp giải quyết định thực hiện
việc mua lại? Bài làm Tỷ lệ hoán đổi:
→ Cổ đông Flannery nhận 1 cổ phần Stultz cho 3 cổ phần Flannery.
a. Thu nhập gộp sau sáp nhập = 230.000 + 690.000 = 920.000
Số cổ phần Stultz ban đầu: 146.000
Flannery có 73.000 cổ phần, mỗi 3 cổ phần đổi được 1 cổ phần Stultz. 73.000
Số cổ phần Stultz phát hành thêm = 3=24333.33333
Tổng số cổ phần mới của công ty:
Nnew=146.000+24333.33333=170333.3333
EPS mới của Stultz sau sáp nhập: E PSnew=920.000 170333.3333=5,40 EPS ⇒ sau sáp nhậ p = 5,40
Nếu NPV = 0 → giá trị hợ p nhất không tạo thêm lợ i ích → giá cổ phiếu giữ! nguyên
Giá cổ phiếu Stultz ban đầu:
P0=PE×EPS=12,70×690.104060. 00=8763 146=60, 02 P/E
Tỷ số P/E sau sáp nhập: new=P0 =60,02 5,40=11,12 EPSnew Tỷ ⇒ số P/E mớ i = 11,12
b. Stultz phải lưu tâm đến giá trị cộng hưởng vì với tỷ lệ hoán đổi 1:3, Stultz phải phát
hành thêm cổ phiếu cho cổ đông Flannery. Khi số cổ phiếu tăng, EPS của Stultz bị pha loãng (dilution).
Nếu thương vụ không tạo ra giá trị cộng hưởng:
● EPS của Stultz sẽ giảm sau sáp giảm.
● Giá cổ phiếu thị trường có thể giảm.
● Cổ đông Stultz sẽ bị thiệt hại.
● HĐQT Stultz sẽ bị phản đối vì quyết định làm tổn hại lợi ích cổ đông hiện hữu.
→ Vì vậy Stultz chỉ nên đồng ý thương vụ nếu sáp nhập tạo ra giá trị đủ lớn để bù cho sự pha loãng EPS. Stultz phải ⇒
quan tâm synergy vì nếu không có cộng hưởng, cổ đông của Stultz sẽ bị
thiệt: giá cổ phiếu giảm, EPS giảm, và thương vụ trở thành bất lợi. Synergy là điều
kiện để NPV ≥ 0, bảo vệ lợi ích cổ đông hiện hữu.
Câu 3: Công ty điện Cholern (CEC) một công ty công ích cung cấp điện lực
cho vùng trung tâm Colorado. Các sự kiện gần đây liên quan đến trạm điều hành
nhà máy điện hạt nhân Mile –High của CEC đang không khuyến khích nhà đầu
tư. Một số cổ đông đang lo lắng về báo cáo tài chính gần đây nhất của công ty:
Báo cáo thu nhập
Bảng cân đối kế toán Năm ngoái
Giá trị vào cuối năm ($ triệu) ($ triệu) Doanh thu $110 Tài sản $400 Chi phí nhiên liệu 50 Nợ 300 Chi phí khác 30 Vốn chủ sở hữu 100 Lãi vay 30 Thu nhập khác $0
Gần đây, một nhóm nhà đầu tư cá nhân giàu có vừa đề nghị mua một nửa tài sản của
CEC theo mức giá thị trường. Ban giám đốc của CEC cho rằng, công ty nên đồng ý
thương vụ này vì lý do: “chúng tôi tin rằng thế mạnh của chúng ta trong ngành năng
lượng có thể được khai thác tốt hơn bởi CEC nếu chúng ta bán các máy móc truyền tải
và phát điện, chuyển sang ngành kinh doanh Viễn thông. Mặc dù ngành viễn thông là
một lĩnh vực kinh doanh có rủi ro hơn so với cung cấp điện năng vì là một công ty
công ích, đây cũng là một ngành tiềm năng mang lại rất nhiều lợi nhuận”.
Yêu cầu: Theo Bạn, Ban giám đốc nên chấp nhận đề xuất mua lại này hay
không? Tại sao hoặc tại sao không? Bài làm
Dựa trên các thông tin được cung cấp, có thể thấy CEC đã trải qua một năm
đầy khó khăn, khiến cổ đông lo ngại về tình hình tài chính và triển vọng hoạt động của
công ty. Trong bối cảnh này, việc một nhóm nhà đầu tư đề xuất mua lại một nửa tài
sản của CEC với mức giá thị trường hợp lý là một cơ hội đáng cân nhắc, đặc biệt khi
số vốn thu được có thể giúp công ty chuyển hướng sang lĩnh vực viễn thông - một
ngành có biên lợi nhuận cao và tốc độ tăng trưởng hấp dẫn.
Tuy nhiên, bất kỳ quyết định tái cơ cấu nào cũng cần dựa trên nền tảng phân
tích tài chính cẩn trọng. Báo cáo thu nhập của CEC cho thấy thu nhập ròng năm vừa
qua bằng 0 USD, phản ánh hiệu quả kinh doanh yếu và khả năng tạo dòng tiền thấp.
Đồng thời, bảng cân đối kế toán ghi nhận tổng tài sản 400 USD và nợ phải trả 300
USD, tương ứng tỷ lệ nợ trên tài sản là 0,75 - một mức rủi ro cao. Cấu trúc tài chính
này cho thấy công ty dễ rơi vào trạng thái căng thẳng thanh khoản và nếu hiệu quả
hoạt động tiếp tục suy giảm, CEC có thể đối mặt với nguy cơ không đáp ứng được
nghĩa vụ lãi vay trong những năm tới.
Việc gia nhập ngành viễn thông có thể mở ra cơ hội sinh lời cao, nhưng đây
cũng là ngành có mức độ cạnh tranh lớn, đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu đáng kể và chịu
rủi ro thị trường đáng kể. Nếu mảng kinh doanh mới thất bại, tác động tiêu cực đến
CEC sẽ rất lớn, đặc biệt trong bối cảnh công ty đang có cấu trúc tài chính yếu.
Vì vậy, ban giám đốc cần tiến hành phân tích kỹ lưỡng báo cáo tài chính, đánh
giá chi tiết rủi ro - lợi ích của thương vụ và khả năng chịu đựng rủi ro của công ty
trước khi quyết định có nên chấp nhận lời đề nghị hay chuyển hướng chiến lược hay
không. Một quyết định vội vàng có thể làm trầm trọng thêm những vấn đề tài chính
hiện tại, thay vì tạo ra giá trị mới cho cổ đông.
Câu 4: Cách đây 6 tháng công ty Birdie Golf đã có các cuộc nói chuyện với công ty
Hybrid Golf về vấn đề sáp nhập. Sau một vài cuộc đàm phán, bên mua lại đề nghị
thanh toán bằng tiền mặt cho Hybrid Golf với giá $352 triệu. Cả hai công ty đều có thị
trường tốt trong ngành kinh doanh câu lạc bộ Golf và hai công ty tin rằng thương vụ
sáp nhập sẽ mang lại giá trị cộng hưởng đáng kể nhờ vào lợi thế kinh tế về quy mô
trong sản xuất và tiếp thị , cũng như có sự tiết kiệm đáng kể trong các chi phí quản lý
chung. Bryce Bichon, nhân viên tài chính của Bridie chuẩn bị các điều kiện cho các
cuộc đàm phán về vấn đề sáp nhập. Bryce chuẩn bị các báo cáo tài chính dự kiến cho
Hybrid Golf với giả định việc sáp nhập xảy ra. Các báo cáo tài chính đã tính tất cả lợi
ích từ giá trị cộng hưởng của việc sáp nhập: 2012 2013 2014 2015 2016
Doanh thu $512.000.000 $576.000.000 $640.000.000 $720.000.000 $800.000.000 Chi phí 359.200.000 403.200.000 448.000.000 505.600.000 564.000.000 sản xuất Khấu hao 48.000.000 51.200.000 52.800.000 53.120.000 53.600.000 Chi phí 51.200.000 57.600.000 64.000.000 72.320.000 77.600.000 khác EBIT 53.600.000 64.000.000 75.200.000 88.960.000 104.800.000 Lãi vay 12.160.000 14.080.000 15.360.000 16.000.000 17.280.000 Thu nhập 41.440.000 49.920.000 59.840.000 72.960.000 87.520.000 tính thuế Thuế 16.576.000 19.968.000 23.936.000 29.184.000 35.008.000 (40%) Lãi ròng 24.864.000 29.952.000 35.904.000 43.776.000 52.512.000
Bryce cũng nhận thức được rằng rằng mảng hoạt động của Hybrid Golf sẽ đòi hỏi các
khoản đầu tư mỗi năm nhằm duy trì hoạt động, cùng với các nguồn tài trợ. Bảng phác
thảo dưới đây cho thấy các yêu cầu về đầu tư và các nguồn tài trợ: 2012 2013 2014 2015 2016
Các khoản đầu tư:
Vốn luân $12.800.000 $16.000.000 $16.000.000 $19.200.000 $19.200.000 chuyển ròng Tài sản cố 9.600.000
16.000.000 11.520.000 76.800.000 4.480.000 định Tổng
$22.400.000 $32.000.000 $27.520.000 $96.000.000 $23.680.000
Các nguồn tài trợ: Nợ mới $22.400.000 $10.240.000 $10.240.000 $9.600.000 $7.680.000 Lợi nhuận 0
21.760.000 17.280.000 17.280.000 16.000.000 giữ lại Tổng
$22.400.000 $32.000.000 $27.520.000 $26.880.000 $23.680.000
Ban giám đốc của Birdie Golf cảm thấy rằng cấu trúc vốn của Hybrid Golf không tối
ưu. Nếu việc sáp nhập xảy ra, Hybrid Golf lập tức sẽ tăng đòn bẩy tài chính bằng cách
phát hành $71 triệu nợ, và sau đó là khoản thanh toán cổ tức $96 triệu cho Bridie
Golf. Điều này sẽ làm tăng tỷ số Nợ/vốn chủ sở hữu của Hybrid Golf từ 0,5 lên 1,00.
Birdie Golf cũng có thể sử dụng $16 triệu khoản chuyển lỗ cho mục đích thuế của
Hybrid Golf từ các năm trước đó (tax loss carryforward) vào năm 2013 và 2014 .
Tổng giá trị của Hybrid Golf được ước tính là $576 triệu sau 5 năm và công ty sẽ có
$192 triệu giá trị nợ vào thời điểm đó. Cổ phiếu của Birdie hiện tại được bán với giá
$94/mỗi cổ phần, và công ty có 11,6 triệu cổ phần thường đang lưu hành. Hybrid Golf
có 5,2 triệu cổ phần thường đang lưu hành. Cả hai công ty có thể vay ở mức lãi suất
8%. Lãi suất phi rủi ro là 6% và tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của thị trường là 13%. Bryce
tin rằng chi phí sử dụng vốn hiện tại của Bridie Golf là 11%. Hệ số beta của chứng
khoán Hybrid ở mức cấu trúc vốn hiện tại là 1.30.
Bryce đã yêu cầu bạn phân tích các khía cạnh tài chính của thương vụ sáp nhập này.
Cụ thể, ông ta yêu cầu bạn trả lời các câu hỏi dưới đây:
a. Giả định các cổ đông của Hybrid sẽ đồng ý với giá sáp nhập là $68,75 cho mỗi cổ
phần. Bridie nên tiến hành việc sáp nhập hay không?
b. Mức giá cao nhất trên mỗi cổ phần mà Bridie nên sẵn lòng trả cho Hybrid là bao nhiêu?
c. Giả định rằng Bridie không sẵn lòng với giao dịch sáp nhập bằng tiền mặt nhưng sẽ
xem xét giao dịch bằng hoán đổi cổ phiếu. Tỷ lệ hoán đổi là bao nhiêu để cho việc sáp
nhập tạo ra giá trị tương đương với giá trị sáp nhập ở phương án ban đầu là $68,75 cho mỗi cổ phần?
d. Tỷ số hoán đổi chứng khoán cao nhất là bao nhiêu mà Bridie sẵn lòng trả và thực hiện việc sáp nhập? Bài làm a. Phân tích sáp nhập
Giá trị hiện tại của dòng tiền mặt gia tăng.
Dòng tiền hiện tại từ việc mua lại gồm chi phí mua lại cộng với cổ tức được trả: Mua lại Hybrid -352.000.000 Cổ tức từ Hybrid 96.000.000 Toàn bộ -256.000.000
Dòng tiền đến Birdie Golf từ việc mua lại Hybrid Golf trong 5 năm tới sẽ là: Năm 1 Năm 2 Năm 3 Năm 4 Năm 5
Cổ tức từ 24.864.000 8.192.000 18.624.000 26.496.000 36.512.0000 Hybrid (net income - lợi nhuận giữ lại) Lỗ tính thuế 16.000.000 16.000.000 thực hiện chuyển tiếp (Tax - loss - carry - forwards) Giá trị cuối 576.000.000 cùng của vốn chủ sở hữu Giá trị cuối -192.000.000 cùng của nợ Tổng 24.864.000
24.192.000 34.624.000 26.496.000 420.512.000
Để chiết khấu dòng tiền từ việc sáp nhập, chúng ta phải chiết khấu từng dòng tiền với
tỷ lệ chiết khấu thích hợp. Các dòng tiền bổ sung từ các khoản chuyển lỗ từ thuế và
mức nợ đề xuất nên được chiết khấu theo chi phí nợ vì chúng được xác định với ít sự không chắc chắn.
Giá trị cuối cùng của công ty phải chịu rủi ro kinh doanh thông thường và phải được
chiết khấu theo tỷ lệ thông thường. Tỷ trọng nợ hiện tại và tỷ trọng vốn chủ sở hữu
trong cơ cấu vốn của Hybrid là: WD=0.5 1+0.5=1 3 WE=1−1 3=23 β
Hệ số Beta cho khoản nợ của Hybrid là: D=0.08−0.06 0.13−0.06=2 7
Beta tổng thể của Hybrid là: β
H=(0.33×0.29)+(067×1.3)=0.9667
Bây giờ chúng ta có thể tính toán lợi nhuận cần thiết cho các hoạt động bình thường của Hybrid, đó là:
E−RH=0.06+0.96×(0.13−0.06)=0.1272
Để tìm tỷ lệ chiết khấu cho cổ tức chúng ta cần tìm beta mới của vốn chủ sở hữu cho
Hybrid được hợp nhất. Tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu mới là 1, có nghĩa là tỷ trọng nợ
và tỷ trọng vốn chủ sở hữu bằng 50%. Beta mới cho vốn chủ sở hữu phải là:
βmới=[βcũ−(WD−mới×W D−cũ)]/ WE−mới=0.96−(0.5×0.33) 0.5=1.59
Vì vậy, tỷ lệ chiết khấu đối với cổ tức được trả trong tương lai là:
E−R¿=0.06+1.59×(0.13−0.06)=0.1713=17.13%
Bây giờ chúng ta có thể tìm thấy giá trị hiện tại của các dòng tiền trong tương lai. Giá
trị hiện tại của các luồng tiền từng năm, cùng với tỷ lệ chiết khấu phù hợp cho từng luồng tiền là:
Tỷ lệ Năm 1 Năm 2 Năm 3 Năm 4 Năm 5 chiết khấu Cổ tức 17.13% 21.227.696 7.023.320 13.000.332 19.475.351 36.512.000 Lỗ tính 8% 14.814.815 12.590.442 thuế Giá trị 12.73% 316.391.603 cuối cùng vốn chủ sở hữu Giá trị 8% -130.671.934 cuối cùng của nợ Tổng 21.227.696 21.838.134 25.590.334 19.475.351 222.231.629 NPV
⇒ của việ c mua lậi là: NPV = -256.000.000 + 21.227.696 + 21.838.134 +
25.590.774 + 19.475.351 + 222.231.629= $54.363.584
b. Vì việc mua lại là một dự án có NPV dương nên điều Birdie muốn cung cấp nhất là
tăng ưu đãi tiền mặt hiện tại bằng NPV hiện tại, hoặc:
Ưu đãi cao nhất = $352.000.000 + $54.363.584 = $406.363.584
Giá cổ phiếu cao nhất là tổng giá chào bán cao, chia cho số cổ phiếu đang lưu hành, hoặc:
Giá cổ phiếu cao nhất = $406.363.584 / 5.200.000 shares = $78.15
c. Để xác định tỷ giá hối đoái hiện tại, tỷ giá hối đoái sẽ tạo ra một chào bán tiền mặt
và một chào bán cổ phiếu tương đương, chúng ta cần xác định giá cổ phiếu mới theo
chào bán tiền mặt ban đầu.
Giá cổ phiếu mới của Birdie sau khi sáp nhập sẽ là:
PNew = [$94 * 11.600.000 + $54.363.584] / 11.600.000 = $98.69. Vì vậy, tỷ giá hối
đoái, sẽ làm cho chào bán tiền mặt và chào bán cổ phiếu tương đương nhau, là:
Tỷ giá hối đoái = $68.75 / $98.69 = 0.6966
d. Tỷ lệ hối đoái cao nhất mà Birdie chấp nhận là tỷ giá hối đoái dẫn đến việc thu
được NPV bằng không. Điều này có nghĩa là giá cổ phiếu của Birdie không thay đổi
sau khi sáp nhập,do đó, tỷ lệ hối đoái là:
Tỷ giá hối đoái = $68.75 / $94 = 0. 7314
Câu 5: Theo bạn, hoạt động M&A trong giai đoạn nền kinh tế khó khăn khác
với thời kỳ nền kinh tế thuận lợi hay không? Giải thích tại sao hoạt động M&A
thường diễn ra theo sóng? Bài làm
1. M&A trong thời kỳ kinh tế khó khăn:
Trong giai đoạn suy thoái hoặc bất ổn kinh tế, số lượng và giá trị các thương vụ
M&A thường có xu hướng giảm mạnh. Điều này xuất phát từ mối liên hệ trực tiếp
giữa hoạt động M&A và tốc độ tăng trưởng GDP. Ba yếu tố chính làm hình thành sự
khác biệt gồm: áp lực thời gian đối với doanh nghiệp, sự can thiệp của nhà đầu tư và
cơ quan quản lý, và sự khác biệt giữa các quốc gia trong bối cảnh khủng hoảng toàn cầu.
Thứ nhất, trong suy thoái, nhiều doanh nghiệp phải đối mặt với áp lực thanh
khoản, rủi ro mất cân đối tài chính hoặc nguy cơ phá sản. Điều này buộc bên bán phải
chốt giao dịch nhanh để duy trì dòng tiền, tạo lợi thế lớn cho bên mua trong quá trình
đàm phán. Các thương vụ diễn ra nhanh hơn nhưng cũng tiềm ẩn rủi ro định giá sai
lệch, due diligence không đầy đủ và khả năng thất bại trong quá trình thực thi.
Thứ hai, chính phủ và các cơ quan quản lý thường tăng cường kiểm soát nhằm
bảo vệ thị trường, ổn định tài chính và hạn chế các thương vụ có thể gây bất lợi cho
doanh nghiệp nội địa. Điều này làm giảm tính linh hoạt của các thương vụ M&A và
đôi khi khiến lợi ích của cổ đông không được tối ưu.
Thứ ba, tác động không đồng đều của khủng hoảng giữa các quốc gia và biến
động tỷ giá tạo ra sự chênh lệch lớn về giá trị giao dịch xuyên biên giới. Các doanh
nghiệp từ các quốc gia có đồng tiền mạnh dễ dàng mua lại tài sản giá rẻ tại các nền
kinh tế chịu ảnh hưởng nặng nề hơn. Đối với các doanh nghiệp Việt Nam, dù nhà đầu
tư nước ngoài quan tâm nhiều hơn, họ vẫn phải phụ thuộc vào điều kiện thị trường nội
địa và các rào cản chính sách.
Mặc dù suy thoái được xem là “thời cơ vàng” để mua tài sản giá thấp, thực tế
nhiều doanh nghiệp lại hạn chế thực hiện M&A do thiếu dòng tiền, rủi ro tài chính gia
tăng và tâm lý ưu tiên giữ tiền mặt. Bên cạnh đó, lo ngại về phản ứng tiêu cực của thị
trường trong thời điểm nhạy cảm cũng khiến các doanh nghiệp thận trọng hơn với những giao dịch lớn.
2. M&A trong thời kỳ kinh tế thuận lợi:
Ngược lại, khi nền kinh tế tăng trưởng ổn định, niềm tin thị trường cao và dòng
vốn dồi dào, hoạt động M&A thường diễn ra sôi động hơn. Các doanh nghiệp chủ
động theo đuổi chiến lược mở rộng quy mô, thâm nhập thị trường mới hoặc gia tăng
thị phần thông qua sáp nhập và mua lại.
Trong bối cảnh thuận lợi này, các thương vụ thường có giá trị cao hơn do tài
sản được định giá tốt, khả năng huy động vốn dễ dàng và tâm lý thị trường tích cực.
Bên cạnh đó, giai đoạn mà các quy định chống độc quyền chưa phát triển mạnh
thường là thời kỳ bùng nổ M&A, khi các doanh nghiệp lớn tận dụng khoảng trống
pháp lý để mở rộng quyền lực thị trường thông qua thâu tóm.