TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
HỌC KỲ … NĂM HỌC 20…. – 20….
(Phần dành cho sinh viên/ học viên)
Bài thi học phần: Quản trị học……………
Mã số đề thi: 21………………………….……
Ngày thi: 25/05/2024………………
Tổng số trang: …5……
Số báo danh: 82………………………………
Lớp: 232_BMGM0111_15……………………
Họ và tên: Hoàng Phương Thảo…………
Điểm kết luận:
GV chấm thi 1: …….
………………………......
GV chấm thi 2: …….
………………………......
Bài làm
Câu 1 :
*Ảnh hưởng của yếu tố đối thủ cạnh tranh đến quản trị doanh nghiệp:
- Trong kinh doanh, định nghĩa đối thủ cạnh tranh được hiểu là những người, nhóm, tổ
chức, doanh nghiệp sản xuất. Họ cùng buôn bán các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ hướng tới một
đối tượng khách hàng hay một thị trường nhất định.…“Đối thủ cạnh tranh là những tổ chức hay
cá nhân có khả năng thỏa mãn nhu cầu các khách hàng mục tiêu của doanh nghiệp bằng cùng
một loại sản phẩm hoặc những sản phẩm có khả năng thay thế những sản phẩm của doanh
nghiệp”.
-Sự cạnh tranh là điều tất yếu diễn ra trong thị trường, nó là một trong những yếu tố giúp
thúc đẩy sản xuất phát triển và dịch vụ tốt hơn. Trong hoạt động kinh doanh, quản trị của doanh
nghiệp không thể tránh khỏi sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành nghề
thậm chí cạnh tranh từ những cá nhân, doanh nghiệp có các ngành nghề tương đồng. Vì vậy,
việc tìm hiểu, phân tích, hiểu rõ đối thủ cạnh tranh sẽ giúp doanh nghiệp đưa ra được các chiến
lược marketing và kinh doanh phù hợp hơn.
Họ tên SV/HV: ………………………….………… - Mã LHP: …………………… Trang 1/…..
-Ảnh hưởng của yếu tố đối thủ cạnh tranh tới quản trị doanh nghiệp:
Đối thủ cạnh tranh có ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động quản trị kinh doanh của doanh
nghiệp. Mỗi đối thủ cạnh tranh lại có 1 cách thu hút, lôi kéo khách hàng riêng nên khách
hàng có rất nhiều sự lựa chọn khác nhau của các sản phẩm cạnh tranh. Dưới đây là ảnh
hưởng của yếu tố đối thủ cạnh tranh tới quản trị doanh nghiệp.
Đối thủ cạnh tranh trực tiếp: Được hiểu là tổ chức cung cấp các sản phẩm, dịch vụ cùng
loại sảnphẩm dịch vụ của doanh nghiệp đang sản xuất, cung cấp. Ví dụ điển hình của
cạnh tranh trực tiếp lànhững “cặp đôi” như: Adidas – Nike, Coca Cola - Pepsi, Apple -
Samsung, OMO - Tide... Mức độ cạnh tranh này cao hay thấp đều phụ thuộc vào sự
tương tác giữa nhiều yếu tố như số lượng cá nhân, doanh nghiệp tham gia vào ngành
nghề lĩnh vực đó, mức độ tăng trưởng của ngành, cơ cấu chi phí cố định hay mức độ đa
dạng hóa sản phẩm…Vì vậy, doanh nghiệp cần phân tích đối với từng đối thủ cạnh tranh
về mục tiêu tương lai, định vị thương hiệu của họ, chiến lược họ đang thực hiện, tiềm
năng của họ có thể đạt được. Để doanh nghiệp có thể nắm và đưa ra được những biện
pháp phản ứng kịp thời và phù hợp.
Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn: Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn bao gồm các đối thủ sẽ xuất hiện
trong tương lai và các đối thủ mới tham gia thị trường, đây cũng là những đối thủ có thể
gây ảnh hưởng đối vớidoanh nghiệp. Họ đã đưa vào các năng lực sản xuất tương đối mới
với mong muốn giành được thị phần và các nguồn lực cần thiết khác.Đề đối phó với
những đối thủ này, doanh nghiệp cần xây dựng và củng cố lợi thế, địa vị của mình, đồng
thời sử dụng hàng rào hợp pháp để ngăn cản sự xâm nhập từ bên ngoài như: Lợi thế trên
việc sản xuấtquy mô lớn, đa dạng hóa sản phẩm, đầu tư ban đầu lớn, kênh tiêu thụ sản
phẩm vững vàng hay ưu thế về công nghệ hay nguyên liệu.
Sản phẩm thay thế: Được hiểu là những sản phẩm của những doanh nghiệp cung ứng
mang lợi ích tương tự như sản phẩm của công ty nhưng lại theo một hình thức sản có
phần khác biệt. Sự cạnh tranh như vậy có thể là hình thức của một sản phẩm hay công
nghệ tạo khác. Sức ép do sản phẩm thay thế tạo ra làm hạn chế tiềm năng lợi nhuận của
ngành do bị khống chế về mức giá. Đa phần sản phẩm thay thế đều là kết quả của sự phát
triển công nghệ, muốn đạt được thành công các doanh nghiệp cần chú ý việc dành nguồn
lực để đẩy mạnh phát triển và vận dụng công nghệ mớivào hoạt động kinh doanh của
mình.
*Bình luận ý kiến: “Kinh doanh là hợp tác với nhau khi tạo ra chiếc bánh giá trị và cạnh
tranh với nhau khi chia phần chiếc bánh đó”.
-Theo em hiểu “ hợp tác vơi nhau tạo ra chiếc bánh giá trị” có ý nghĩa là cùng nhau hợp tác
để tạo ra giá trị trong kinh doanh, mục tiêu, chiến lược,… Hợp tác là việc hai hoặc nhiều bên
cùng làm việc với nhau để đạt được một mục tiêu. Trong hợp tác, các bên đóng góp tài nguyên,
kỹ năng và nỗ lực của mình để đạt được một kết quả mà mỗi bên không thể đạt được một mình.
Hợp tác là một yếu tố quan trọng trong kinh doanh và được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh
Họ tên SV/HV: ………………………….………… - Mã LHP: …………………… Trang 2/…..
vực khác nhau. Hợp tác trong kinh doanh có thể được thực hiện giữa các công ty, giữa các cá
nhân hay giữa các tổ chức phi lợi nhuận. Nó vô cùng quan trọng bởi:
Tăng cường sức mạnh cạnh tranh: Khi các doanh nghiệp hợp tác với nhau, họ có thể sử
dụng tài nguyên của nhau để tạo ra sản phẩm và dịch vụ tốt hơn, đồng thời cạnh tranh
hiệu quả hơn trên thị trường.
Chia sẻ rủi ro và chi phí: Hợp tác giúp cho các doanh nghiệp chia sẻ rủi ro và chi phí.
Thay vì phải chịu toàn bộ rủi ro và chi phí một mình, các doanh nghiệp có thể chia sẻ
chúng với các đối tác của mình.
Phát triển sản phẩm mới: Hợp tác cũng giúp cho các doanh nghiệp phát triển sản phẩm
mới một cách hiệu quả hơn. Bằng cách hợp tác với nhau, các doanh nghiệp có thể sử
dụng kỹ năng và tài nguyên của nhau để tạo ra sản phẩm mới với chi phí thấp hơn và thời
gian nhanh hơn.
Mở rộng thị trường: Hợp tác giúp cho các doanh nghiệp mở rộng thị trường của mình.
Khi hợp tác với nhau, các doanh nghiệp có thể tìm kiếm khách hàng mới và tiếp cận thị
trường mà mình chưa có mặt trước đó.
Xây dựng mối quan hệ đối tác lâu dài: Hợp tác giúp cho các doanh nghiệp xây dựng mối
quan hệ đối tác lâu dài với nhau. Khi các doanh nghiệp đã hợp tác với nhau thành công,
họ có thể tiếp tục hợp tác trong tương lai và phát triển mối quan hệ đối tác bền vững và
có lợi cho cả hai bên.
-Tuy nhiên, khi đã tạo ra được giá trị, các doanh nghiệp lại bước vào giai đoạn “cạnh
tranh” để giành phần của mình trong “chiếc bánh giá trị” đó. Cạnh tranh trên thị trường là
quá trình ở đó nhà cung cấp cố gắng ganh đua để giành khách hàng bằng các phương thức,
biện pháp khác nhau. Cạnh tranh là quy luật kinh tế của thị trường. Cạnh tranh để giành lấy
“giá trị chiếc bánh là điều không thể tránh khỏi trong thị trường bởi những lý do sau:
Lợi nhuận: Mỗi doanh nghiệp đều muốn tối đa hóa lợi nhuận của mình, điều này dẫn
đến sự cạnh tranh trong việc giành lấy phần lớn nhất của thị trường.
Thị phần: Các doanh nghiệp luôn muốn mở rộng thị phần của mình để có được sự ổn
định và phát triển dài hạn.
Định vị thương hiệu: Cạnh tranh giúp các doanh nghiệp nâng cao hình ảnh và vị thế
thương hiệu trong mắt khách hàng.
Động lực phát triển: Sự cạnh tranh tạo ra động lực để các doanh nghiệp không ngừng
cải tiến và hoàn thiện sản phẩm, dịch vụ của mình.
-Ý kiến này nhấn mạnh rằng kinh doanh không chỉ là một cuộc đua khốc liệt mà là một
quá trình phức tạp bao gồm cả hợp tác và cạnh tranh. Việc cân bằng giữa hợp tác và cạnh tranh
không chỉ giúp doanh nghiệp tận dụng tối đa nguồn lực, mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững
và sáng tạo. Hợp tác không đồng nghĩa với mất đi bản sắc riêng, mỗi doanh nghiệp cần giữ
vững bản sắc và giá trị cốt lõi của mình trong quá trình hợp tác, để không bị hòa tan hoặc mất
Họ tên SV/HV: ………………………….………… - Mã LHP: …………………… Trang 3/…..
phương hướng. Cạnh tranh công bằng và lành mạnh, không nên biến thành việc triệt hạ lẫn nhau
mà cần duy trì ở mức độ lành mạnh, tuân thủ các quy định và đạo đức kinh doanh. Ngoài ra,
trong môi trường kinh doanh biến động, sự linh hoạt và khả năng thích ứng với các thay đổi là
yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp duy trì sự cân bằng giữa hợp tác và cạnh tranh. Bên cạnh
đó, cả trong hợp tác và cạnh tranh, việc xây dựng và duy trì các mối quan hệ lâu dài với đối tác
và khách hàng sẽ giúp doanh nghiệp phát triển bền vững hơn. Nhìn chung, việc thấu hiểu và áp
dụng chiến lược này sẽ giúp doanh nghiệp không chỉ tồn tại mà còn phát triển mạnh mẽ trong
môi trường kinh doanh hiện đại đầy thách thức.
Câu 2:
*Nhận định tình huống.
Tình huống kể về việc ra quyết định quản trị một cách thông minh sáng suốt của Steve
Jobs, vậy ra quyết định quản trị là gì? Ra quyết định quản trị là việc lựa chọn một hay một số
phương án hành động cho tổ chức nói chung hay cho việc thực hiện một công việc nào đó nhằm
đạt được mục tiêu đã định. Có thể nói rằng, ra quyết định quản trị là một quá trình lựa chọn
hành động có lợi nhất. Ra quyết định quản trị có các chức năng sau:
- Chức năng định hướng theo mục tiêu của tổ chức
- Chức năng đảm bảo các nguồn lực
- Chức năng hợp tác và phối hợp các bộ phận trong tổ chức
- Chức năng cưỡng bức, động viên các thành viên trong tổ chức hoàn thành nhiệm vụ.
Tình huống cũng cho thấy, phương pháp ra quyết định quản trị mà Steve Jobs sử dụng là
phương pháp ma trận lợi ích:
- Ma trận lợi ích (hay còn gọi là ma trận thanh toán) là một phương pháp xác suất - thống kê cho
phép thực hiện việc lựa chọn phương án có hiệu quả.
- Những lợi ích những khoản thanh toán) ở đây được hiểu là những lợi ích bằng tiền thu được từ
việc thực hện một phương án cụ thể trong sự kết hợp với những điều kiện cụ thể.
- Nếu các lợi ích được sắp xếp vào trong một bảng (ma trận) ta có ma trận lợi ích. Ma trận lợi
ích cho biết rằng kết quả (lợi ích thu được) của việc thực hiện một phương án nào đó phụ
thuộc vào những biến cổ nhất định, mà những biến cố này là hiện thực.
*Bình luận về quyết định quản trị của Steve Jobs
Sau khi mở lại Apple vào năm 1997, Steve Jobs đã cứu lấy công ty trên đang trên bờ vực
phá sản. Điều kỳ dệu mà Steve Jobs tạo ra cho Apple đến từ chính quyết định quản trị sáng suốt,
Họ tên SV/HV: ………………………….………… - Mã LHP: …………………… Trang 4/…..
đúng đắng của công. Ông quan niệm “Quyết định không nên làm gì cũng quan trọng như quyết
định nên làm gì vậy”
Nếu phân loại theo cách thức ra quyết định của nhà quản trị, thì quyết định của Steve
Jobs được coi là quyết định dựa trên cơ sở lý giải vấn đề. Đây là quyết định dựa vào hiểu vấn đề
và kinh nghiệm giải quyết vấn đề. Ở góc độ này, Steve Jobs đã lý giải được nguyên nhân thất
bại của Apple đó là tung ra hàng loạt loại Mac không đinh hướng. Dựa trên kinh nghiệm cá
nhân của mình, đó là “quyết định không nên làm gì cũng quan trọng như quyết định nên làm gì
vậy”. Vì vậy ông đã đưa ra giải pháp:
- Cho dừng hoạt động sản xuất ồ ạt
- Tập trung vào ma trận có hai cột đặc trưng cho “người tiêu dùng” và “giới văn phòng”, và
hai dòng ‘máy tính để bàn” và ‘máy tính di động”.
Hướng quản trị trên có tác đông rất lớn, vì chỉ tập trung sản xuất các Mac phục vụ cho
tập khách hàng trong 4 ô ma trận kể trên, nên công ty đã tạo ra các sản phẩm vĩ đại nhiều tính
năng vượt trội, nhờ vậy mà doanh thu tăng vựa dậy được Apple. Có thể thấy rằng quyết định
không làm rất quan trọng, bởi nếu sa lầy vào sản xuât ồ ạt, sản phẩm không nổi bật hay phù hợp
với một số đối tượng cụ thể, thì hậu quả sẽ là chi phí sản xuất lớn, sản phẩm không có người
mua rồi thua lỗ và phá sản. Quyết định làm gì cũng quan trọng không kém, bởi đây chọn cách
đi, hướng vào tập khách hàng triển vọng có nhiều nhu cầu thì việc apple sản xuất mới có thể bán
được. Cách quản trị dựa trên cơ sở lý giải vấn đề mà Steve Jobs đã áp dụng thực sự là quyết
định quản trị đúng đắn và sáng suốt.
Không chỉ áp dụng quyết định dựa trên cơ sở lý giải vấn đề, mà Steve Jobs còn sử dụng
ma trận với 2 cột là “người tiêu dùng” và “Giới văn phòng”, 2 dòng “Máy tính để bàn” và “Máy
tính di động”. Điều này sẽ giúp cho công ty phân tích một cách tối ưu những lợi ích khi đáp ứng
được nhu cầu của hai nhóm người tiêu dùng và giới văn phòng, phát huy các ưu thế của máy
tính để bàn và máy tính di động cho phù hợp với 2 tập khách hàng trên. Có thể thấy rằng, cách
đưa ra quyết định quản trị với phương châm “Quyết định không nên làm gì cũng quan trọng như
quyết định nên phải làm gì vậy” đã mang lại sự hồi phục đáng nể cho Apple đang trên đà sụp
đổ. Tôi tin chắc rằng, bất kể nhà quản trị trong lĩnh vực nào cũng nên xem trọng việc quyết định
nên làm và không nên làm một việc gì. Bởi điều này ảnh hưởng đến sự phù hợp của sản phẩm
doanh nghiệp đó đối với khách hàng, từ đây ảnh hưởng đến lợi nhuận cũng như sự tồn tại của
doanh nghiệp. Steve Jobs và công cuộc vực dậy Apple chính là bài học lớn cho các nhà quản trị
khi ra quyêt định quản trị, nghĩa là họ phải lý giải rõ vấn đề, hành động quyết đoán mạnh mẽ và
tìm dùng phương pháp ra quyết định quản trị phù hợp để đạt được kết quả.
Họ tên SV/HV: ………………………….………… - Mã LHP: …………………… Trang 5/…..

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
HỌC KỲ … NĂM HỌC 20…. – 20….
(Phần dành cho sinh viên/ học viên)
Bài thi học phần: Quản trị học……………
Số báo danh: 82………………………………
Mã số đề thi: 21………………………….……
Lớp: 232_BMGM0111_15……………………
Ngày thi: 25/05/2024………………
Họ và tên: Hoàng Phương Thảo………… Tổng số trang: …5…… Điểm kết luận: GV chấm thi 1: …….
………………………...... GV chấm thi 2: …….
………………………...... Bài làm Câu 1 :
*Ảnh hưởng của yếu tố đối thủ cạnh tranh đến quản trị doanh nghiệp:
- Trong kinh doanh, định nghĩa đối thủ cạnh tranh được hiểu là những người, nhóm, tổ
chức, doanh nghiệp sản xuất. Họ cùng buôn bán các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ hướng tới một
đối tượng khách hàng hay một thị trường nhất định.…“Đối thủ cạnh tranh là những tổ chức hay
cá nhân có khả năng thỏa mãn nhu cầu các khách hàng mục tiêu của doanh nghiệp bằng cùng
một loại sản phẩm hoặc những sản phẩm có khả năng thay thế những sản phẩm của doanh nghiệp”.
-Sự cạnh tranh là điều tất yếu diễn ra trong thị trường, nó là một trong những yếu tố giúp
thúc đẩy sản xuất phát triển và dịch vụ tốt hơn. Trong hoạt động kinh doanh, quản trị của doanh
nghiệp không thể tránh khỏi sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành nghề
thậm chí cạnh tranh từ những cá nhân, doanh nghiệp có các ngành nghề tương đồng. Vì vậy,
việc tìm hiểu, phân tích, hiểu rõ đối thủ cạnh tranh sẽ giúp doanh nghiệp đưa ra được các chiến
lược marketing và kinh doanh phù hợp hơn.
Họ tên SV/HV: ………………………….………… - Mã LHP: …………………… Trang 1/…..
-Ảnh hưởng của yếu tố đối thủ cạnh tranh tới quản trị doanh nghiệp:
Đối thủ cạnh tranh có ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động quản trị kinh doanh của doanh
nghiệp. Mỗi đối thủ cạnh tranh lại có 1 cách thu hút, lôi kéo khách hàng riêng nên khách
hàng có rất nhiều sự lựa chọn khác nhau của các sản phẩm cạnh tranh. Dưới đây là ảnh
hưởng của yếu tố đối thủ cạnh tranh tới quản trị doanh nghiệp.
Đối thủ cạnh tranh trực tiếp: Được hiểu là tổ chức cung cấp các sản phẩm, dịch vụ cùng
loại sảnphẩm dịch vụ của doanh nghiệp đang sản xuất, cung cấp. Ví dụ điển hình của
cạnh tranh trực tiếp lànhững “cặp đôi” như: Adidas – Nike, Coca Cola - Pepsi, Apple -
Samsung, OMO - Tide... Mức độ cạnh tranh này cao hay thấp đều phụ thuộc vào sự
tương tác giữa nhiều yếu tố như số lượng cá nhân, doanh nghiệp tham gia vào ngành
nghề lĩnh vực đó, mức độ tăng trưởng của ngành, cơ cấu chi phí cố định hay mức độ đa
dạng hóa sản phẩm…Vì vậy, doanh nghiệp cần phân tích đối với từng đối thủ cạnh tranh
về mục tiêu tương lai, định vị thương hiệu của họ, chiến lược họ đang thực hiện, tiềm
năng của họ có thể đạt được. Để doanh nghiệp có thể nắm và đưa ra được những biện
pháp phản ứng kịp thời và phù hợp.
Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn: Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn bao gồm các đối thủ sẽ xuất hiện
trong tương lai và các đối thủ mới tham gia thị trường, đây cũng là những đối thủ có thể
gây ảnh hưởng đối vớidoanh nghiệp. Họ đã đưa vào các năng lực sản xuất tương đối mới
với mong muốn giành được thị phần và các nguồn lực cần thiết khác.Đề đối phó với
những đối thủ này, doanh nghiệp cần xây dựng và củng cố lợi thế, địa vị của mình, đồng
thời sử dụng hàng rào hợp pháp để ngăn cản sự xâm nhập từ bên ngoài như: Lợi thế trên
việc sản xuấtquy mô lớn, đa dạng hóa sản phẩm, đầu tư ban đầu lớn, kênh tiêu thụ sản
phẩm vững vàng hay ưu thế về công nghệ hay nguyên liệu.
Sản phẩm thay thế: Được hiểu là những sản phẩm của những doanh nghiệp cung ứng
mang lợi ích tương tự như sản phẩm của công ty nhưng lại theo một hình thức sản có
phần khác biệt. Sự cạnh tranh như vậy có thể là hình thức của một sản phẩm hay công
nghệ tạo khác. Sức ép do sản phẩm thay thế tạo ra làm hạn chế tiềm năng lợi nhuận của
ngành do bị khống chế về mức giá. Đa phần sản phẩm thay thế đều là kết quả của sự phát
triển công nghệ, muốn đạt được thành công các doanh nghiệp cần chú ý việc dành nguồn
lực để đẩy mạnh phát triển và vận dụng công nghệ mớivào hoạt động kinh doanh của mình.
*Bình luận ý kiến: “Kinh doanh là hợp tác với nhau khi tạo ra chiếc bánh giá trị và cạnh
tranh với nhau khi chia phần chiếc bánh đó”.
-Theo em hiểu “ hợp tác vơi nhau tạo ra chiếc bánh giá trị” có ý nghĩa là cùng nhau hợp tác
để tạo ra giá trị trong kinh doanh, mục tiêu, chiến lược,… Hợp tác là việc hai hoặc nhiều bên
cùng làm việc với nhau để đạt được một mục tiêu. Trong hợp tác, các bên đóng góp tài nguyên,
kỹ năng và nỗ lực của mình để đạt được một kết quả mà mỗi bên không thể đạt được một mình.
Hợp tác là một yếu tố quan trọng trong kinh doanh và được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh
Họ tên SV/HV: ………………………….………… - Mã LHP: …………………… Trang 2/…..
vực khác nhau. Hợp tác trong kinh doanh có thể được thực hiện giữa các công ty, giữa các cá
nhân hay giữa các tổ chức phi lợi nhuận. Nó vô cùng quan trọng bởi:
Tăng cường sức mạnh cạnh tranh: Khi các doanh nghiệp hợp tác với nhau, họ có thể sử
dụng tài nguyên của nhau để tạo ra sản phẩm và dịch vụ tốt hơn, đồng thời cạnh tranh
hiệu quả hơn trên thị trường.
Chia sẻ rủi ro và chi phí: Hợp tác giúp cho các doanh nghiệp chia sẻ rủi ro và chi phí.
Thay vì phải chịu toàn bộ rủi ro và chi phí một mình, các doanh nghiệp có thể chia sẻ
chúng với các đối tác của mình.
Phát triển sản phẩm mới: Hợp tác cũng giúp cho các doanh nghiệp phát triển sản phẩm
mới một cách hiệu quả hơn. Bằng cách hợp tác với nhau, các doanh nghiệp có thể sử
dụng kỹ năng và tài nguyên của nhau để tạo ra sản phẩm mới với chi phí thấp hơn và thời gian nhanh hơn.
Mở rộng thị trường: Hợp tác giúp cho các doanh nghiệp mở rộng thị trường của mình.
Khi hợp tác với nhau, các doanh nghiệp có thể tìm kiếm khách hàng mới và tiếp cận thị
trường mà mình chưa có mặt trước đó.
Xây dựng mối quan hệ đối tác lâu dài: Hợp tác giúp cho các doanh nghiệp xây dựng mối
quan hệ đối tác lâu dài với nhau. Khi các doanh nghiệp đã hợp tác với nhau thành công,
họ có thể tiếp tục hợp tác trong tương lai và phát triển mối quan hệ đối tác bền vững và có lợi cho cả hai bên.
-Tuy nhiên, khi đã tạo ra được giá trị, các doanh nghiệp lại bước vào giai đoạn “cạnh
tranh” để giành phần của mình trong “chiếc bánh giá trị” đó. Cạnh tranh trên thị trường là
quá trình ở đó nhà cung cấp cố gắng ganh đua để giành khách hàng bằng các phương thức,
biện pháp khác nhau. Cạnh tranh là quy luật kinh tế của thị trường. Cạnh tranh để giành lấy
“giá trị chiếc bánh là điều không thể tránh khỏi trong thị trường bởi những lý do sau:
Lợi nhuận: Mỗi doanh nghiệp đều muốn tối đa hóa lợi nhuận của mình, điều này dẫn
đến sự cạnh tranh trong việc giành lấy phần lớn nhất của thị trường.
Thị phần: Các doanh nghiệp luôn muốn mở rộng thị phần của mình để có được sự ổn
định và phát triển dài hạn.
Định vị thương hiệu: Cạnh tranh giúp các doanh nghiệp nâng cao hình ảnh và vị thế
thương hiệu trong mắt khách hàng.
Động lực phát triển: Sự cạnh tranh tạo ra động lực để các doanh nghiệp không ngừng
cải tiến và hoàn thiện sản phẩm, dịch vụ của mình.
-Ý kiến này nhấn mạnh rằng kinh doanh không chỉ là một cuộc đua khốc liệt mà là một
quá trình phức tạp bao gồm cả hợp tác và cạnh tranh. Việc cân bằng giữa hợp tác và cạnh tranh
không chỉ giúp doanh nghiệp tận dụng tối đa nguồn lực, mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững
và sáng tạo. Hợp tác không đồng nghĩa với mất đi bản sắc riêng, mỗi doanh nghiệp cần giữ
vững bản sắc và giá trị cốt lõi của mình trong quá trình hợp tác, để không bị hòa tan hoặc mất
Họ tên SV/HV: ………………………….………… - Mã LHP: …………………… Trang 3/…..
phương hướng. Cạnh tranh công bằng và lành mạnh, không nên biến thành việc triệt hạ lẫn nhau
mà cần duy trì ở mức độ lành mạnh, tuân thủ các quy định và đạo đức kinh doanh. Ngoài ra,
trong môi trường kinh doanh biến động, sự linh hoạt và khả năng thích ứng với các thay đổi là
yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp duy trì sự cân bằng giữa hợp tác và cạnh tranh. Bên cạnh
đó, cả trong hợp tác và cạnh tranh, việc xây dựng và duy trì các mối quan hệ lâu dài với đối tác
và khách hàng sẽ giúp doanh nghiệp phát triển bền vững hơn. Nhìn chung, việc thấu hiểu và áp
dụng chiến lược này sẽ giúp doanh nghiệp không chỉ tồn tại mà còn phát triển mạnh mẽ trong
môi trường kinh doanh hiện đại đầy thách thức. Câu 2: *Nhận định tình huống.
Tình huống kể về việc ra quyết định quản trị một cách thông minh sáng suốt của Steve
Jobs, vậy ra quyết định quản trị là gì? Ra quyết định quản trị là việc lựa chọn một hay một số
phương án hành động cho tổ chức nói chung hay cho việc thực hiện một công việc nào đó nhằm
đạt được mục tiêu đã định. Có thể nói rằng, ra quyết định quản trị là một quá trình lựa chọn
hành động có lợi nhất. Ra quyết định quản trị có các chức năng sau:
- Chức năng định hướng theo mục tiêu của tổ chức
- Chức năng đảm bảo các nguồn lực
- Chức năng hợp tác và phối hợp các bộ phận trong tổ chức
- Chức năng cưỡng bức, động viên các thành viên trong tổ chức hoàn thành nhiệm vụ.
Tình huống cũng cho thấy, phương pháp ra quyết định quản trị mà Steve Jobs sử dụng là
phương pháp ma trận lợi ích:
- Ma trận lợi ích (hay còn gọi là ma trận thanh toán) là một phương pháp xác suất - thống kê cho
phép thực hiện việc lựa chọn phương án có hiệu quả.
- Những lợi ích những khoản thanh toán) ở đây được hiểu là những lợi ích bằng tiền thu được từ
việc thực hện một phương án cụ thể trong sự kết hợp với những điều kiện cụ thể.
- Nếu các lợi ích được sắp xếp vào trong một bảng (ma trận) ta có ma trận lợi ích. Ma trận lợi
ích cho biết rằng kết quả (lợi ích thu được) của việc thực hiện một phương án nào đó phụ
thuộc vào những biến cổ nhất định, mà những biến cố này là hiện thực.
*Bình luận về quyết định quản trị của Steve Jobs
Sau khi mở lại Apple vào năm 1997, Steve Jobs đã cứu lấy công ty trên đang trên bờ vực
phá sản. Điều kỳ dệu mà Steve Jobs tạo ra cho Apple đến từ chính quyết định quản trị sáng suốt,
Họ tên SV/HV: ………………………….………… - Mã LHP: …………………… Trang 4/…..
đúng đắng của công. Ông quan niệm “Quyết định không nên làm gì cũng quan trọng như quyết định nên làm gì vậy”
Nếu phân loại theo cách thức ra quyết định của nhà quản trị, thì quyết định của Steve
Jobs được coi là quyết định dựa trên cơ sở lý giải vấn đề. Đây là quyết định dựa vào hiểu vấn đề
và kinh nghiệm giải quyết vấn đề. Ở góc độ này, Steve Jobs đã lý giải được nguyên nhân thất
bại của Apple đó là tung ra hàng loạt loại Mac không đinh hướng. Dựa trên kinh nghiệm cá
nhân của mình, đó là “quyết định không nên làm gì cũng quan trọng như quyết định nên làm gì
vậy”. Vì vậy ông đã đưa ra giải pháp:
- Cho dừng hoạt động sản xuất ồ ạt
- Tập trung vào ma trận có hai cột đặc trưng cho “người tiêu dùng” và “giới văn phòng”, và
hai dòng ‘máy tính để bàn” và ‘máy tính di động”.
Hướng quản trị trên có tác đông rất lớn, vì chỉ tập trung sản xuất các Mac phục vụ cho
tập khách hàng trong 4 ô ma trận kể trên, nên công ty đã tạo ra các sản phẩm vĩ đại nhiều tính
năng vượt trội, nhờ vậy mà doanh thu tăng vựa dậy được Apple. Có thể thấy rằng quyết định
không làm rất quan trọng, bởi nếu sa lầy vào sản xuât ồ ạt, sản phẩm không nổi bật hay phù hợp
với một số đối tượng cụ thể, thì hậu quả sẽ là chi phí sản xuất lớn, sản phẩm không có người
mua rồi thua lỗ và phá sản. Quyết định làm gì cũng quan trọng không kém, bởi đây chọn cách
đi, hướng vào tập khách hàng triển vọng có nhiều nhu cầu thì việc apple sản xuất mới có thể bán
được. Cách quản trị dựa trên cơ sở lý giải vấn đề mà Steve Jobs đã áp dụng thực sự là quyết
định quản trị đúng đắn và sáng suốt.
Không chỉ áp dụng quyết định dựa trên cơ sở lý giải vấn đề, mà Steve Jobs còn sử dụng
ma trận với 2 cột là “người tiêu dùng” và “Giới văn phòng”, 2 dòng “Máy tính để bàn” và “Máy
tính di động”. Điều này sẽ giúp cho công ty phân tích một cách tối ưu những lợi ích khi đáp ứng
được nhu cầu của hai nhóm người tiêu dùng và giới văn phòng, phát huy các ưu thế của máy
tính để bàn và máy tính di động cho phù hợp với 2 tập khách hàng trên. Có thể thấy rằng, cách
đưa ra quyết định quản trị với phương châm “Quyết định không nên làm gì cũng quan trọng như
quyết định nên phải làm gì vậy” đã mang lại sự hồi phục đáng nể cho Apple đang trên đà sụp
đổ. Tôi tin chắc rằng, bất kể nhà quản trị trong lĩnh vực nào cũng nên xem trọng việc quyết định
nên làm và không nên làm một việc gì. Bởi điều này ảnh hưởng đến sự phù hợp của sản phẩm
doanh nghiệp đó đối với khách hàng, từ đây ảnh hưởng đến lợi nhuận cũng như sự tồn tại của
doanh nghiệp. Steve Jobs và công cuộc vực dậy Apple chính là bài học lớn cho các nhà quản trị
khi ra quyêt định quản trị, nghĩa là họ phải lý giải rõ vấn đề, hành động quyết đoán mạnh mẽ và
tìm dùng phương pháp ra quyết định quản trị phù hợp để đạt được kết quả.
Họ tên SV/HV: ………………………….………… - Mã LHP: …………………… Trang 5/…..