CÂU HỎI ÔN TẬP KIẾN THỨC HỌC PHẦN QUẢN TRỊ HỌC
CHƯƠNG 1: KHÁI LUẬN VỀ QUẢN TRỊ
1. Quản trị là gì?
( Phân tích khái niệm quản trị theo giáo trình Quản trị học )
Quản trị là hoạt động nhằm đạt được mục tiêu một cách có hiệu quả bằng sự phối
hợp các hoạt động của những người khác thông qua hoạch định, tổ chức, lãnh
đạo và kiểm soát các nguồn lực của tổ chức trong một môi trường luôn luôn thay
đổi.
2. Bản chất của quản trị là gì?
( Phân tích rõ 3 ý thể hiện bản chất của quản trị )
*Quản trị là hoạt động gắn với một tổ chức, hướng vào việc thực hiện một hoặc một
số mục tiêu xác định. Hay nói cách khác quản trị mang tính hướng đích
- Mỗi tổ chức đều có những mục tiêu và những việc phải làm để thực hiện mục tiêu,
các công việc này được con người trong tổ chức thực hiện, mặc công việc của
những người trong tổ chức khác nhau song thành tựu chung có thể phân chia thành
hai loại là: người quản trị và người thừa hành
*Quản trị hoàn thành công việc với thông qua hoạt động, nỗ lực của những
người khác nhằm đạt được mục tiêu.
- Quản trị hoạt động của một hay một số người nhằm phối hợp hành động của
những người khác để đạt được những mục tiêu của tổ chức. Hoạt động quản trị sẽ
không diễn ra hay không được “nhìn thấy” nếu tổ chức chỉ một người, không
sự phối hợp tương tác lẫn nhau.
- Sự phối hợp hoạt động của những người khác được thực hiện thông qua tiến trình
hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát các nguồn lực của tổ chức.
*Quản trị hướng tới việc sử dụng, phối hợp các nguồn lực hữu hạn của tổ chức
nhằm đạt được mục tiêu xác định một cách có hiệu quả.
- Hoạt động quản trị đòi hỏi phải sự dụng các nguồn lực, các nguồn lực của tổ
chức là hữu hạn nên việc sử dụng phải đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả. Các nguồn lực ở
đây bao gồm cả nguồn lực vật chất tinh thần, nguồn lực con người nguồn lực
tài chính…
3. Vì sao quản trị vừa là một khoa học, một nghệ thuật và là một nghề?
( Phân tích và giải thích rõ 3 ý: )
*Quản trị là một khoa học (đối tượng, phương pháp, hệ thống lý thuyết…)
- Vì nó đối tượng nghiên cứu cụ thể, đòi hỏi phải phối hợp kết hợp hoạt động
của những con người trong một tổ chức.
- phương pháp phân tích, thuyết thực hành quản trị đòi hỏi phải nhận thức
và vận dụng các quy luật kinh tế, xã hội và tâm lý để giải quyết các vấn đề của quản
trị do đó nó có tính xã hội.
- Lý thuyết quản trị sử dụng các thành tựu của các môn khoa học khác nhau vào giải
quyết các vấn đề của quản trị như: Triết học, kinh tế học, toán học…
Vd: Phạm Nhật Vượng đã xây dựng cho Vingroup một quy trình khoa học cụ thể, rõ
ràng. Ông luôn đặt ra mục tiêu cụ thể mọi vị trí từ lãnh đạo cho đến nhân viên
đều những chỉ tiêu riêng biệt. Ông nắm bắt được tâm lý nhân viên để tạo ra một
lộ trình thăng tiến ràng ngay từ ban đầu để kích thích sự ham học hỏi, cống hiến
cho công việc. Cấp trên phải hỗ trợ theo sát nhân viên của mình.lẽ chínhđiều
đó mà tập đoàn Vingroup luôn đứng đầu trong chất lượng về nhân sự.
*Quản trị là một nghệ thuật (tính riêng, tính hiệu quả, tính sáng tạo…)
- Nói quản trị một nghệ thuật bởi quản trị hoạt động làm việc thông qua con
người để đạt được mục tiêu. Con người luôn tâm tư, tình cảm, tính cách phẩm
chất nhất định, trong các điều kiện, hoàn cảnh khác nhau con người nhu cầu,
động hành vi ứng xử thể khác nhau. Do đó nhà quản trị cần phải mềm dẻo,
linh hoạt trong việc sử dụng các nguyên tắc, công cụ, phương pháp kinh doanh, tính
nhạy cảm trong việc phát hiện tận dụng các hội kinh doanh một cách khôn
khéo và tài tình nhằm đạt được những mục tiêu đã xác định với hiệu quả kinh tế cao
nhất, Nghệ thuật quản trị đề cập đến thái độ, cách ứng xử của các nhà quản trị trong
các tình huống khác nhau.
Vd:
*Quản trị là một nghề (phân công lao động xã hội, chuyên môn hóa, kỹ năng…)
- Quản trị là một nghề hình thành từ sự phân công chuyên môn hoá lao động xã hội,
khi đó con người tách ra khỏi các hoạt động sản xuất trực tiếp để chuyên tâm vào
hoạt động quản trị do đó hiệu quả quản trị trong một tổ chức được nâng lên và qua
đó nâng cao hiệu quả hoạt động.
-Hoạt động quản trị phải do một số người được đào tạo, có kinh nghiệm và làm việc
chuyên nghiệp thực hiện. Người làm nghề quản trị cần phải có những kĩ năng sau
đây: Năng khiếu quản trị, ý chí làm giàu (Cho doanh nghiệp, Đất nước và bản
thân ), có học vấn cơ bản được đào tạo về quản trị, tích luỹ kinh nghiệm, có tác
phong làm việc năng động và thận trọng, có đầu óc đổi mới, có phương pháp ứng xử
tốt, có phẩm chất chính trị và đúng mực…
- Ngoài ra gọi quản trị là một nghề vì nó có khả năng đảm bảo thu nhập của cá nhân.
Vd: Ở Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung, cho ta thấy sự thành công của
các công ty đều gắn với những tên tuổi của nhà quản trị, như: Bill Gates –
Microsoft, Steven Jobs – Apple, Phạm Nhật Vượng – Vingroup… Nếu không có
những nhà quản trị giỏi thì sẽ không có những công ty vĩ đại. Chính vì vậy nhà quản
trị có vai trò rất quan trọng đối với các tổ chức, tổ chức cần họ để đưa ra định
hướng, quyết định các công việc và liên kết chúng lại với nhau để đạt được mục tiêu
đề ra. Các nhà quản trị đều sử hữu khối tài sản khổng lồ từ nghề quản trị, như: Bill
Gates 123,9 tỷ USD, Phạm Nhật Vượng 4,8 tỷ USD…
4. Các chức năng của quản trị? Vị trí, vai trò, mối quan hệ giữa các chức năng
quản trị?
( Nêu khái niệm 4 chức năng: hoạch định, tổ chức, lãnh đạo, kiểm soát.
Trình bày rõ thứ tự, mối quan hệ mật thiết giữa 4 chức năng )
a) Khái niệm 4 chức năng:
*Hoạch định: là việc xác định mục tiêu của tổ chức, dự tính những cách thức để
đạt được và nguồn lực cần phải có để đạt được mục tiêu của tổ chức.
*Tổ chức: là chức năng thiết kế cơ cấu tổ chức bộ máy, tổ chức công việc và
phân quyền.
*Lãnh đạo: là gây ảnh hưởng, thúc đẩy, hướng dẫn và động viên người thừa hành
thực hiện nhiệm vụ trên cơ sở hiểu rõ động cơ, hành vi của họ bằng phong cách
lãnh đạo phù hợp để đạt được mục tiêu.
*Kiểm soát: là việc xác định thành quả đạt được trên thực tế so với mục tiêu đã
đặt ra để phát hiện những sai lệch và nguyên nhân của chúng, từ đó thực hiện các
hoạt động điều chỉnh để đảm bảo tổ chức đạt được các mục tiêu đề ra.
b) Mối quan hệ giữa 4 chức năng:
- Bốn chức năng quản trị có mối quan hệ mật thiết, gắn bó chặt chẽ với nhau
tạo thành một bộ khung của việc quản trị mà không thể tách rời hay bỏ đi bất
kì bộ phận nào. Một quy trình quản trị phải được thực hiện đầy đủ bốn chức
năng mới đạt được hiệu quả. Bất kỳ một chức năng nào cũng có sự liên kết
với ba chức năng còn lại. Hoạch định là chức năng đầu tiên của quy trình, bất
kỳ một quy trình nào cũng phải đặt ra được những mục tiêu nhất định. Hoạt
động tổ chức thường đi sau hoạch định và nó phản ánh cách thức mà tổ chức
nỗ lực để hoàn thành kế hoạch. Cũng như vậy, lãnh đạo thể hiện việc sử dụng
ảnh hưởng để động viên nhân viên đạt được những mục tiêu của tổ chức.
Kiểm soát là chức năng cuối cùng của quản trị, là cú chốt của ba chức năng
trước nó và đưa đến kết quả cuối cùng. Và dù cho có đạt được mục tiêu hay
không thì vòng lặp vẫn sẽ tiếp tục với chức năng hoạch định.
Vd: Công ty công nghệ lớn như Apple
1) Hoạch định:
- Apple đặt mục tiêu là tạo ra các sản phẩm và dịch vụ công nghệ tiên tiến và
độc đáo để tạo ra trải nghiệm người dùng tốt nhất có thể
- Chiến lực của họ bao gồm việc phát triển các sản phẩm mới, mở rộng vào các
thị trường mới, và duy trì chất lượng sản phẩm tốt nhất
2) Tổ chức:
- Apple có một cơ cấu tổ chức rất phức tạp với các bộ phận như: Thiết kế, phát
triển sản phẩm, tiếp thị, bán hang và hỗ trợ khách hang. Mỗi bộ phận này có
các đội chuyên môn chịu trách nhiệm cho các khía cạnh cụ thể của quy trình
sản xuất.
3) Lãnh đạo:
- Lãnh đạo tại Apple bao gồm CEO và các nhà lãnh đạo khác nhưng Steve Jobs
và Tim Cook đã thúc đẩy tinh thần sáng tạo của nhân viên và cam kết với chất
lượng và thiết kế tuyệt vời
- Họ đã cung cấp hướng dẫn rõ ràng, khích lệ tinh thần làm việc nhóm và giải
quyết các vấn để xuất hiện trong quá trình tổ chức.
4) Kiểm soát:
- Apple thường xuyên kiểm tra tiến độ của các dự án sản phẩm, đảm bảo rằng
chúng luôn tuân theo kế hoạch và đạt được các tiêu chí chất lượng.
- Họ kiểm soát chi phí và ngân sách để đảm bảo rằng các dự án được triển khai
một cách hiệu quả và bền vững.
5. Các yếu tố môi trường kinh doanh và ảnh hưởng của chúng đến quản trị tổ
chức?
( Phân tích các yếu tố và ảnh hưởng của môi trường kinh doanh: bên trong, bên
ngoài (chung, đặc thù)
* Khái niệm môi trường quản trị:
- Là các định chế hay lực lượng bên trong và bên ngoài có ảnh hưởng đến hoạt động
quản trị của tổ chức. Theo Robbins, nhà quản trị chỉ có ảnh hưởng giới hạn đến kết
quả hoạt động của tổ chức vì tổ chức có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến kết quả của tổ
chức mà nhà quản trị không thể kiểm soát khống chế được nó. Chúng là các yếu tố
môi trường bên trong và bên ngoài tổ chức. Nhà quản trị ở cấp nào và lĩnh vực nào
cũng bị chi phối bởi các yếu tố môi trường bên ngoài ( vĩ mô và vi mô ) và môi
trường bên trong của tổ chức ở các mức độ khác nhau. Các yếu tố của môi trường
quản trị luôn vận động, tương tác lẫn nhau, có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến
hoạt động quản trị của một tổ chức. Tình hình suy thoái kinh tế dẫn đến sức mua
giảm, sự thay đổi của công nghệ, kỹ thuật dẫn đến thị trường xuất hiện sản phẩm
mới có chất lượng tốt, giá rẻ, một cán bộ quản trị giỏi, một nhân viên thạo việc bỗng
nhiên xin rời khỏi công ty mà chưa có người thay thế tương xứng, sự thay đổi của
giá cả các yếu tố đầu vào… tất cả chúng đều ảnh hưởng đến hoạt động quản trị.
5.1 Phân tích ảnh hưởng của yếu tố môi trường chung tới hoạt động quản trị trong tổ
chức. Lấy ví dụ
Môi trường chung ảnh hưởng đến hoạt động quản trị trong tổ chức bao gồm
các yếu tố kinh tế vĩ mô; yếu tố chính trị; luật pháp; yếu tố văn hoá; xã hội; yếu tố
công nghệ; kỹ thuật và yếu tố tự nhiên
a) Yếu tố kinh tế vĩ mô: Những biến động của các yếu tố kinh tế có thể tạo ra cơ
hội và cả những thách thức đối với doanh nghiệp. Để đảm bảo thành công của
hoạt động doanh nghiệp trước biến động về kinh tế, các nhà quản trị của doanh
nghiệp phải theo dõi, phân tích, dự báo, biến động của từng thời điểm cụ thể
nhằm tận dụng, khai thác những cơ hội, giảm thiểu nguy cơ và đe doạ. Các yếu
tố kinh tế vĩ mô gồm: Thu nhập quốc dân ( tặng trưởng hay suy thoái kinh tế ),
lạm phát, tỷ giá hối đoái và lãi suất, công ăn việc làm và tiền lương, thuế…
*) chỉ số GDP bình quân đầu người cao tỷ lệ Tổng sản phẩm quốc nội ( GDP ):
thuận với mức thu nhập cũng như đời sống của người dân ở quốc gia đó. Khi
GDP tăng tức thu nhập, đầu tư, chi tiêu công của người dân tăng lên, nhu cầu
tiêu dùng hàng hoá tăng lên và ngược lại. GDP giảm đồng nghĩa với thu nhập
giảm theo và cầu hàng hoá giảm, gây ảnh hưởng tới cân bằng cung cầu thị
trường. Khi này nhà quản trị cần nắm bắt được thông tin để ra quyết định ( hoạch
định, tổ chức, kiểm soát ) đúng đắn trong thời gian sắp tới.
*) Lạm phát: làm cho mức gia chung của các loại hàng hoá tăng lên ( hay nói
cách khác là đồng tiền bị mất giá ), khiến sức mua của đồng tiền giảm xuống,
cũng có nghĩa là thu nhập chung của người dân giảm xuống khiến cho sức cạnh
tranh tăng cao, hàng hoá khó tiêu thụ. Nhà quản trị nắm bắt được thông tin về
tình hình lạm phát sẽ sáng suốt và đúng đăn hơn trong việc ra quyết định trong
các chu kì kinh doanh tiếp theo, hạn chế được các rủi ro, tránh những tổn thất
không đáng có.
*) Tỷ giá hối đoái: Tỉ giá hối đoái và lạm phát có mối quan hệ mật thiết với
nhau, chúng tác động qua lại lẫn nhau, khi tỉ giá hối đoái tăng (đồng nội tệ mất
giá) khiến sức mua của đồng tiền giảm hay nói cách khác là tăng lạm phát, tuy
nhiên đồng nội tệ mất giá tức hàng hóa của nước sở tại trên các nước nhập khẩu
khác sẽ giảm giá dẫn đến đẩy mạnh xuất khẩu, điều này đặc biệt có lợi cho các
doanh nghiệp xuất khẩu. Thông tin này yêu cầu nhà quản trị cần phải đặc biệt
quan tâm vì nó trực tiếp ảnh hưởng đến chi phí, giá cả và sức cạnh tranh của
doanh nghiệp. Đây là minh chứng rõ ràng cho việc mỗi một mục tiêu vĩ mô đạt
được đều có sự đánh đổi bởi mục tiêu vĩ mô khác.
*) Lãi suất: Lãi suất là một công cụ thường được sử dụng trong chính sách tiền
tệ nhằm điều tiết sản lượng của cả nền kinh tế vĩ mô. Vì vậy mà nhà quản trị
cũng không thể bỏ qua vì doanh nghiệp chính là thuộc nền kinh tế vĩ mô đó. Lãi
suất tỉ lệ nghịch với sản xuất của doanh nghiệp, khi lãi suất tăng, doanh nghiệp
vay vốn ít đi, chí phí cao lên, giá thành sản phẩm cao lên dẫn đến sản lượng giảm
và ngược lại. Đặc biệt, nhà quản trị cũng phải quan tâm đến lạm phát khi thị
trường ở trạng thái bão hòa tức sức cạnh tranh lớn, khi lãi suất tăng lên, sẽ thu
hút FDI mạnh hơn, đồng nghĩa với việc cạnh tranh cũng tăng cao nhưng thêm
phần khó khăn vì đây là cạnh tranh với doanh nghiệp nước ngoài.
*) Thuế: Thuế suất tăng dẫn đến chi phí đầu vào tăng, giá hàng hóa tăng, sức
mua giảm xuống, kéo theo cạnh tranh cao. Việc hạ thấp thuế suất sẽ tạo thuận lợi
cho doanh nghiệp. Thuế suất áp dụng cho các ngành nghề, lĩnh vực, sản phẩm ở
mỗi giai đoạn có thể khác nhau đòi hỏi nhà quản trị phải linh hoạt trong hoạch
định kinh doanh, chiến lược sản phẩm, thị trường để tránh rủi ro và kinh doanh
có lợi.
*) Tiền lương và thu nhập: Tác động đến giá thành và nguồn nhân lực của doanh
nghiệp
- Thu nhập hay nó phản ánh tới mức sống của người dân. Người tiêu dùng sẽ
chi tiêu những sản phẩm phù hợp với điều kiện kinh tế. Vì thế, doanh nghiệp
phải phân loại từng bậc sản phẩm để mọi khách hàng có thể biết đến và tiêu
dùng sản phẩm của doanh nghiệp.
- Tiền lương của công nhân, nhân viên là yếu tố chính quyết định đến nguồn
nhân lực của doanh nghiệp; bởi tiền lương chính là nguồn sống của hầu hết
mọi người; mức lương thường được đặt lên hàng đầu trong tâm lí và đó cũng
chính là nguồn hứng khởi cho họ làm việc. Các nhà quản trị phải có chính
sách cụ thể quy định về mức tiền lương phù hợp với năng lực làm việc của
mỗi người, có sự thưởng, phạt công minh để tạo ra sự hài lòng, tin tưởng
trong môi trường làm việc. Có sự khuyến khích những sáng kiến mới sáng tạo
để tạo hứng khởi trong công việc; các nhà quản trị cũng cần có chính sách đặc
biệt với những công nhân, nhân viên có tuổi nghề lâu năm để trong tâm lí của
họ có sự gắn bó lâu dài với doanh nghiệp.
Ví dụ : Tập đoàn Vingroup trong bối cảnh nền kinh tế “ảm đạm”: Nền kinh tế
của Việt Nam trong năm 2012 với tốc độ tăng trưởng GDP ở mức 5,03% đây là
mức tăng trưởng thấp nhất trong vòng 12 năm qua . Kèm theo các chỉ số về lạm
phát đạt 6,81%. Mức lãi suất cho vay dao động trong khoảng 12-15%. Tình hình,
thị trường tiêu dùng trong nước ảm đạm và chưa thấy dấu hiệu phát triển. Nhiều
doanh nghiệp bị phá sản con số thống kê vào cuối năm 2012 là khoảng 55000
doanh nghiệp. Điều này ảnh hưởng tới sự giảm về khách hàng mua và sử dụng
dịch vụ của Tập đoàn Vingroup. Thị trường bất động sản chung đang bị đóng
băng bởi hàng tồn kho lớn, và chi phí nguyên vật liệu gia tăng. Tuy bối cảnh kinh
tế có sự ảm đạm, nổi lên trong đó vẫn có các thành phố lớn đang phát triển có tốc
độ phát triển cao như Đà Nẵng , Bình Dương. Đây là các thị trường tiềm năng
của Tập đoàn Vingroup. Chính vì thế mà tập đoàn quyết định phát triển tiềm
năng ở các thành phố lớn này như việc xây dựng các trung tâm thương mại tại
các thành phố Đà Nẵng, Bình Dương, phát triển dự án dịch vụ nghĩ dưỡng,…
b) Yếu tố chính trị, luật pháp
Bên cạnh đó, yếu tố chính trị pháp luật cũng ảnh hưởng đến hoạt động quản trị của các tổ chức. Ổn
định chính trị là điều kiện cần thiết, khách quan để phát triển kinh tế đất nước vì các doanh nghiệp là
những tế bào của đất nước. Các nghị quyết, chính sách của Đảng và Nhà nước, hệ thống luật pháp
đúng đắn, phù hợp với thực tiễn thị trường sẽ thúc đẩy hoạt động của doanh nghiệp trong kinh tế thị
trường. Mở cửa, hội nhập nền kinh tế có tác động định hướng chung đối với nền kinh tế và doanh
nghiệp vừa có thể tạo thời cơ song cũng có thể là rủi ro mà trong quản trị doanh nghiệp phải tính đến
để đưa ra những quyết định quản trị cả về chiến lược lẫn tác nghiệp phù hợp.
Ví dụ: Các cuộc bạo động diễn ra ở các nước Trung Á ngày càng nhiều. Vô tình làm cho các doanh
nghiệp không thể hoạt động bình thường. Vì thế làm ảnh hưởng đến lợi nhuận của các doanh nghiệp
c) Yếu tố văn hoá, xã hội:
5.2 Phân tích ảnh hưởng của yếu tố môi trường đặc thù tới hoạt động của tổ chức.
Lấy ví dụ
5.3 Phân tích ảnh hưởng của yếu tố môi trường bên trong ảnh hưởng tới hoạt động
của tổ chức. Lấy ví dụ
6. Vì sao nói quản trị chính là quản trị sự thay đổi? Nội dung và cách thức quản
trị sự thay đổi trong tổ chức?
( Trình bày khái niệm và sự cần thiết của quản trị sự thay đổi.
Trình bày nội dung quy trình quản trị sự thay đổi. )

Preview text:

CÂU HỎI ÔN TẬP KIẾN THỨC HỌC PHẦN QUẢN TRỊ HỌC
CHƯƠNG 1: KHÁI LUẬN VỀ QUẢN TRỊ 1. Quản trị là gì?
( Phân tích khái niệm quản trị theo giáo trình Quản trị học )
Quản trị là hoạt động nhằm đạt được mục tiêu một cách có hiệu quả bằng sự phối
hợp các hoạt động của những người khác thông qua hoạch định, tổ chức, lãnh
đạo và kiểm soát các nguồn lực của tổ chức trong một môi trường luôn luôn thay đổi. 2.
Bản chất của quản trị là gì?
( Phân tích rõ 3 ý thể hiện bản chất của quản trị )
*Quản trị là hoạt động gắn với một tổ chức, hướng vào việc thực hiện một hoặc một
số mục tiêu xác định. Hay nói cách khác quản trị mang tính hướng đích
- Mỗi tổ chức đều có những mục tiêu và những việc phải làm để thực hiện mục tiêu,
các công việc này được con người trong tổ chức thực hiện, mặc dù công việc của
những người trong tổ chức khác nhau song thành tựu chung có thể phân chia thành
hai loại là: người quản trị và người thừa hành
*Quản trị là hoàn thành công việc với và thông qua hoạt động, nỗ lực của những
người khác nhằm đạt được mục tiêu.
- Quản trị là hoạt động của một hay một số người nhằm phối hợp hành động của
những người khác để đạt được những mục tiêu của tổ chức. Hoạt động quản trị sẽ
không diễn ra hay không được “nhìn thấy” nếu tổ chức chỉ có một người, không có
sự phối hợp tương tác lẫn nhau.
- Sự phối hợp hoạt động của những người khác được thực hiện thông qua tiến trình
hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát các nguồn lực của tổ chức.
*Quản trị hướng tới việc sử dụng, phối hợp các nguồn lực hữu hạn của tổ chức
nhằm đạt được mục tiêu xác định một cách có hiệu quả.
- Hoạt động quản trị đòi hỏi phải sự dụng các nguồn lực, vì các nguồn lực của tổ
chức là hữu hạn nên việc sử dụng phải đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả. Các nguồn lực ở
đây bao gồm cả nguồn lực vật chất và tinh thần, nguồn lực con người và nguồn lực tài chính…
3. Vì sao quản trị vừa là một khoa học, một nghệ thuật và là một nghề?
( Phân tích và giải thích rõ 3 ý: )
*Quản trị là một khoa học (đối tượng, phương pháp, hệ thống lý thuyết…)
- Vì nó có đối tượng nghiên cứu cụ thể, đòi hỏi phải phối hợp và kết hợp hoạt động
của những con người trong một tổ chức.
- Có phương pháp phân tích, lý thuyết và thực hành quản trị đòi hỏi phải nhận thức
và vận dụng các quy luật kinh tế, xã hội và tâm lý để giải quyết các vấn đề của quản
trị do đó nó có tính xã hội.
- Lý thuyết quản trị sử dụng các thành tựu của các môn khoa học khác nhau vào giải
quyết các vấn đề của quản trị như: Triết học, kinh tế học, toán học…
Vd: Phạm Nhật Vượng đã xây dựng cho Vingroup một quy trình khoa học cụ thể, rõ
ràng. Ông luôn đặt ra mục tiêu cụ thể và mọi vị trí từ lãnh đạo cho đến nhân viên
đều có những chỉ tiêu riêng biệt. Ông nắm bắt được tâm lý nhân viên để tạo ra một
lộ trình thăng tiến rõ ràng ngay từ ban đầu để kích thích sự ham học hỏi, cống hiến
cho công việc. Cấp trên phải hỗ trợ theo sát nhân viên của mình. Có lẽ chính vì điều
đó mà tập đoàn Vingroup luôn đứng đầu trong chất lượng về nhân sự.
*Quản trị là một nghệ thuật (tính riêng, tính hiệu quả, tính sáng tạo…)
- Nói quản trị là một nghệ thuật bởi quản trị là hoạt động làm việc thông qua con
người để đạt được mục tiêu. Con người luôn có tâm tư, tình cảm, tính cách và phẩm
chất nhất định, ở trong các điều kiện, hoàn cảnh khác nhau con người có nhu cầu,
động cơ hành vi ứng xử có thể khác nhau. Do đó nhà quản trị cần phải mềm dẻo,
linh hoạt trong việc sử dụng các nguyên tắc, công cụ, phương pháp kinh doanh, tính
nhạy cảm trong việc phát hiện và tận dụng các cơ hội kinh doanh một cách khôn
khéo và tài tình nhằm đạt được những mục tiêu đã xác định với hiệu quả kinh tế cao
nhất, Nghệ thuật quản trị đề cập đến thái độ, cách ứng xử của các nhà quản trị trong các tình huống khác nhau. Vd:
*Quản trị là một nghề (phân công lao động xã hội, chuyên môn hóa, kỹ năng…)
- Quản trị là một nghề hình thành từ sự phân công chuyên môn hoá lao động xã hội,
khi đó con người tách ra khỏi các hoạt động sản xuất trực tiếp để chuyên tâm vào
hoạt động quản trị do đó hiệu quả quản trị trong một tổ chức được nâng lên và qua
đó nâng cao hiệu quả hoạt động.
-Hoạt động quản trị phải do một số người được đào tạo, có kinh nghiệm và làm việc
chuyên nghiệp thực hiện. Người làm nghề quản trị cần phải có những kĩ năng sau
đây: Năng khiếu quản trị, ý chí làm giàu (Cho doanh nghiệp, Đất nước và bản
thân ), có học vấn cơ bản được đào tạo về quản trị, tích luỹ kinh nghiệm, có tác
phong làm việc năng động và thận trọng, có đầu óc đổi mới, có phương pháp ứng xử
tốt, có phẩm chất chính trị và đúng mực…
- Ngoài ra gọi quản trị là một nghề vì nó có khả năng đảm bảo thu nhập của cá nhân.
Vd: Ở Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung, cho ta thấy sự thành công của
các công ty đều gắn với những tên tuổi của nhà quản trị, như: Bill Gates –
Microsoft, Steven Jobs – Apple, Phạm Nhật Vượng – Vingroup… Nếu không có
những nhà quản trị giỏi thì sẽ không có những công ty vĩ đại. Chính vì vậy nhà quản
trị có vai trò rất quan trọng đối với các tổ chức, tổ chức cần họ để đưa ra định
hướng, quyết định các công việc và liên kết chúng lại với nhau để đạt được mục tiêu
đề ra. Các nhà quản trị đều sử hữu khối tài sản khổng lồ từ nghề quản trị, như: Bill
Gates 123,9 tỷ USD, Phạm Nhật Vượng 4,8 tỷ USD…
4. Các chức năng của quản trị? Vị trí, vai trò, mối quan hệ giữa các chức năng quản trị?
( Nêu khái niệm 4 chức năng: hoạch định, tổ chức, lãnh đạo, kiểm soát.
Trình bày rõ thứ tự, mối quan hệ mật thiết giữa 4 chức năng )
a) Khái niệm 4 chức năng:
*Hoạch định: là việc xác định mục tiêu của tổ chức, dự tính những cách thức để
đạt được và nguồn lực cần phải có để đạt được mục tiêu của tổ chức.
*Tổ chức: là chức năng thiết kế cơ cấu tổ chức bộ máy, tổ chức công việc và phân quyền.
*Lãnh đạo: là gây ảnh hưởng, thúc đẩy, hướng dẫn và động viên người thừa hành
thực hiện nhiệm vụ trên cơ sở hiểu rõ động cơ, hành vi của họ bằng phong cách
lãnh đạo phù hợp để đạt được mục tiêu.
*Kiểm soát: là việc xác định thành quả đạt được trên thực tế so với mục tiêu đã
đặt ra để phát hiện những sai lệch và nguyên nhân của chúng, từ đó thực hiện các
hoạt động điều chỉnh để đảm bảo tổ chức đạt được các mục tiêu đề ra.
b) Mối quan hệ giữa 4 chức năng:
- Bốn chức năng quản trị có mối quan hệ mật thiết, gắn bó chặt chẽ với nhau
tạo thành một bộ khung của việc quản trị mà không thể tách rời hay bỏ đi bất
kì bộ phận nào. Một quy trình quản trị phải được thực hiện đầy đủ bốn chức
năng mới đạt được hiệu quả. Bất kỳ một chức năng nào cũng có sự liên kết
với ba chức năng còn lại. Hoạch định là chức năng đầu tiên của quy trình, bất
kỳ một quy trình nào cũng phải đặt ra được những mục tiêu nhất định. Hoạt
động tổ chức thường đi sau hoạch định và nó phản ánh cách thức mà tổ chức
nỗ lực để hoàn thành kế hoạch. Cũng như vậy, lãnh đạo thể hiện việc sử dụng
ảnh hưởng để động viên nhân viên đạt được những mục tiêu của tổ chức.
Kiểm soát là chức năng cuối cùng của quản trị, là cú chốt của ba chức năng
trước nó và đưa đến kết quả cuối cùng. Và dù cho có đạt được mục tiêu hay
không thì vòng lặp vẫn sẽ tiếp tục với chức năng hoạch định.
Vd: Công ty công nghệ lớn như Apple 1) Hoạch định:
- Apple đặt mục tiêu là tạo ra các sản phẩm và dịch vụ công nghệ tiên tiến và
độc đáo để tạo ra trải nghiệm người dùng tốt nhất có thể
- Chiến lực của họ bao gồm việc phát triển các sản phẩm mới, mở rộng vào các
thị trường mới, và duy trì chất lượng sản phẩm tốt nhất 2) Tổ chức:
- Apple có một cơ cấu tổ chức rất phức tạp với các bộ phận như: Thiết kế, phát
triển sản phẩm, tiếp thị, bán hang và hỗ trợ khách hang. Mỗi bộ phận này có
các đội chuyên môn chịu trách nhiệm cho các khía cạnh cụ thể của quy trình sản xuất. 3) Lãnh đạo:
- Lãnh đạo tại Apple bao gồm CEO và các nhà lãnh đạo khác nhưng Steve Jobs
và Tim Cook đã thúc đẩy tinh thần sáng tạo của nhân viên và cam kết với chất
lượng và thiết kế tuyệt vời
- Họ đã cung cấp hướng dẫn rõ ràng, khích lệ tinh thần làm việc nhóm và giải
quyết các vấn để xuất hiện trong quá trình tổ chức. 4) Kiểm soát:
- Apple thường xuyên kiểm tra tiến độ của các dự án sản phẩm, đảm bảo rằng
chúng luôn tuân theo kế hoạch và đạt được các tiêu chí chất lượng.
- Họ kiểm soát chi phí và ngân sách để đảm bảo rằng các dự án được triển khai
một cách hiệu quả và bền vững.
5. Các yếu tố môi trường kinh doanh và ảnh hưởng của chúng đến quản trị tổ chức?
( Phân tích các yếu tố và ảnh hưởng của môi trường kinh doanh: bên trong, bên ngoài (chung, đặc thù)
* Khái niệm môi trường quản trị:
- Là các định chế hay lực lượng bên trong và bên ngoài có ảnh hưởng đến hoạt động
quản trị của tổ chức. Theo Robbins, nhà quản trị chỉ có ảnh hưởng giới hạn đến kết
quả hoạt động của tổ chức vì tổ chức có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến kết quả của tổ
chức mà nhà quản trị không thể kiểm soát khống chế được nó. Chúng là các yếu tố
môi trường bên trong và bên ngoài tổ chức. Nhà quản trị ở cấp nào và lĩnh vực nào
cũng bị chi phối bởi các yếu tố môi trường bên ngoài ( vĩ mô và vi mô ) và môi
trường bên trong của tổ chức ở các mức độ khác nhau. Các yếu tố của môi trường
quản trị luôn vận động, tương tác lẫn nhau, có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến
hoạt động quản trị của một tổ chức. Tình hình suy thoái kinh tế dẫn đến sức mua
giảm, sự thay đổi của công nghệ, kỹ thuật dẫn đến thị trường xuất hiện sản phẩm
mới có chất lượng tốt, giá rẻ, một cán bộ quản trị giỏi, một nhân viên thạo việc bỗng
nhiên xin rời khỏi công ty mà chưa có người thay thế tương xứng, sự thay đổi của
giá cả các yếu tố đầu vào… tất cả chúng đều ảnh hưởng đến hoạt động quản trị.
5.1 Phân tích ảnh hưởng của yếu tố môi trường chung tới hoạt động quản trị trong tổ chức. Lấy ví dụ
Môi trường chung ảnh hưởng đến hoạt động quản trị trong tổ chức bao gồm
các yếu tố kinh tế vĩ mô; yếu tố chính trị; luật pháp; yếu tố văn hoá; xã hội; yếu tố
công nghệ; kỹ thuật và yếu tố tự nhiên
a) Yếu tố kinh tế vĩ mô: Những biến động của các yếu tố kinh tế có thể tạo ra cơ
hội và cả những thách thức đối với doanh nghiệp. Để đảm bảo thành công của
hoạt động doanh nghiệp trước biến động về kinh tế, các nhà quản trị của doanh
nghiệp phải theo dõi, phân tích, dự báo, biến động của từng thời điểm cụ thể
nhằm tận dụng, khai thác những cơ hội, giảm thiểu nguy cơ và đe doạ. Các yếu
tố kinh tế vĩ mô gồm: Thu nhập quốc dân ( tặng trưởng hay suy thoái kinh tế ),
lạm phát, tỷ giá hối đoái và lãi suất, công ăn việc làm và tiền lương, thuế…
*) Tổng sản phẩm quốc nội ( GDP ): chỉ số GDP bình quân đầu người cao tỷ lệ
thuận với mức thu nhập cũng như đời sống của người dân ở quốc gia đó. Khi
GDP tăng tức thu nhập, đầu tư, chi tiêu công của người dân tăng lên, nhu cầu
tiêu dùng hàng hoá tăng lên và ngược lại. GDP giảm đồng nghĩa với thu nhập
giảm theo và cầu hàng hoá giảm, gây ảnh hưởng tới cân bằng cung cầu thị
trường. Khi này nhà quản trị cần nắm bắt được thông tin để ra quyết định ( hoạch
định, tổ chức, kiểm soát ) đúng đắn trong thời gian sắp tới.
*) Lạm phát: làm cho mức gia chung của các loại hàng hoá tăng lên ( hay nói
cách khác là đồng tiền bị mất giá ), khiến sức mua của đồng tiền giảm xuống,
cũng có nghĩa là thu nhập chung của người dân giảm xuống khiến cho sức cạnh
tranh tăng cao, hàng hoá khó tiêu thụ. Nhà quản trị nắm bắt được thông tin về
tình hình lạm phát sẽ sáng suốt và đúng đăn hơn trong việc ra quyết định trong
các chu kì kinh doanh tiếp theo, hạn chế được các rủi ro, tránh những tổn thất không đáng có.
*) Tỷ giá hối đoái: Tỉ giá hối đoái và lạm phát có mối quan hệ mật thiết với
nhau, chúng tác động qua lại lẫn nhau, khi tỉ giá hối đoái tăng (đồng nội tệ mất
giá) khiến sức mua của đồng tiền giảm hay nói cách khác là tăng lạm phát, tuy
nhiên đồng nội tệ mất giá tức hàng hóa của nước sở tại trên các nước nhập khẩu
khác sẽ giảm giá dẫn đến đẩy mạnh xuất khẩu, điều này đặc biệt có lợi cho các
doanh nghiệp xuất khẩu. Thông tin này yêu cầu nhà quản trị cần phải đặc biệt
quan tâm vì nó trực tiếp ảnh hưởng đến chi phí, giá cả và sức cạnh tranh của
doanh nghiệp. Đây là minh chứng rõ ràng cho việc mỗi một mục tiêu vĩ mô đạt
được đều có sự đánh đổi bởi mục tiêu vĩ mô khác.
*) Lãi suất: Lãi suất là một công cụ thường được sử dụng trong chính sách tiền
tệ nhằm điều tiết sản lượng của cả nền kinh tế vĩ mô. Vì vậy mà nhà quản trị
cũng không thể bỏ qua vì doanh nghiệp chính là thuộc nền kinh tế vĩ mô đó. Lãi
suất tỉ lệ nghịch với sản xuất của doanh nghiệp, khi lãi suất tăng, doanh nghiệp
vay vốn ít đi, chí phí cao lên, giá thành sản phẩm cao lên dẫn đến sản lượng giảm
và ngược lại. Đặc biệt, nhà quản trị cũng phải quan tâm đến lạm phát khi thị
trường ở trạng thái bão hòa tức sức cạnh tranh lớn, khi lãi suất tăng lên, sẽ thu
hút FDI mạnh hơn, đồng nghĩa với việc cạnh tranh cũng tăng cao nhưng thêm
phần khó khăn vì đây là cạnh tranh với doanh nghiệp nước ngoài.
*) Thuế: Thuế suất tăng dẫn đến chi phí đầu vào tăng, giá hàng hóa tăng, sức
mua giảm xuống, kéo theo cạnh tranh cao. Việc hạ thấp thuế suất sẽ tạo thuận lợi
cho doanh nghiệp. Thuế suất áp dụng cho các ngành nghề, lĩnh vực, sản phẩm ở
mỗi giai đoạn có thể khác nhau đòi hỏi nhà quản trị phải linh hoạt trong hoạch
định kinh doanh, chiến lược sản phẩm, thị trường để tránh rủi ro và kinh doanh có lợi.
*) Tiền lương và thu nhập: Tác động đến giá thành và nguồn nhân lực của doanh nghiệp
- Thu nhập hay nó phản ánh tới mức sống của người dân. Người tiêu dùng sẽ
chi tiêu những sản phẩm phù hợp với điều kiện kinh tế. Vì thế, doanh nghiệp
phải phân loại từng bậc sản phẩm để mọi khách hàng có thể biết đến và tiêu
dùng sản phẩm của doanh nghiệp.
- Tiền lương của công nhân, nhân viên là yếu tố chính quyết định đến nguồn
nhân lực của doanh nghiệp; bởi tiền lương chính là nguồn sống của hầu hết
mọi người; mức lương thường được đặt lên hàng đầu trong tâm lí và đó cũng
chính là nguồn hứng khởi cho họ làm việc. Các nhà quản trị phải có chính
sách cụ thể quy định về mức tiền lương phù hợp với năng lực làm việc của
mỗi người, có sự thưởng, phạt công minh để tạo ra sự hài lòng, tin tưởng
trong môi trường làm việc. Có sự khuyến khích những sáng kiến mới sáng tạo
để tạo hứng khởi trong công việc; các nhà quản trị cũng cần có chính sách đặc
biệt với những công nhân, nhân viên có tuổi nghề lâu năm để trong tâm lí của
họ có sự gắn bó lâu dài với doanh nghiệp.
Ví dụ : Tập đoàn Vingroup trong bối cảnh nền kinh tế “ảm đạm”: Nền kinh tế
của Việt Nam trong năm 2012 với tốc độ tăng trưởng GDP ở mức 5,03% đây là
mức tăng trưởng thấp nhất trong vòng 12 năm qua . Kèm theo các chỉ số về lạm
phát đạt 6,81%. Mức lãi suất cho vay dao động trong khoảng 12-15%. Tình hình,
thị trường tiêu dùng trong nước ảm đạm và chưa thấy dấu hiệu phát triển. Nhiều
doanh nghiệp bị phá sản con số thống kê vào cuối năm 2012 là khoảng 55000
doanh nghiệp. Điều này ảnh hưởng tới sự giảm về khách hàng mua và sử dụng
dịch vụ của Tập đoàn Vingroup. Thị trường bất động sản chung đang bị đóng
băng bởi hàng tồn kho lớn, và chi phí nguyên vật liệu gia tăng. Tuy bối cảnh kinh
tế có sự ảm đạm, nổi lên trong đó vẫn có các thành phố lớn đang phát triển có tốc
độ phát triển cao như Đà Nẵng , Bình Dương. Đây là các thị trường tiềm năng
của Tập đoàn Vingroup. Chính vì thế mà tập đoàn quyết định phát triển tiềm
năng ở các thành phố lớn này như việc xây dựng các trung tâm thương mại tại
các thành phố Đà Nẵng, Bình Dương, phát triển dự án dịch vụ nghĩ dưỡng,…
b) Yếu tố chính trị, luật pháp
Bên cạnh đó, yếu tố chính trị pháp luật cũng ảnh hưởng đến hoạt động quản trị của các tổ chức. Ổn
định chính trị là điều kiện cần thiết, khách quan để phát triển kinh tế đất nước vì các doanh nghiệp là
những tế bào của đất nước. Các nghị quyết, chính sách của Đảng và Nhà nước, hệ thống luật pháp
đúng đắn, phù hợp với thực tiễn thị trường sẽ thúc đẩy hoạt động của doanh nghiệp trong kinh tế thị
trường. Mở cửa, hội nhập nền kinh tế có tác động định hướng chung đối với nền kinh tế và doanh
nghiệp vừa có thể tạo thời cơ song cũng có thể là rủi ro mà trong quản trị doanh nghiệp phải tính đến
để đưa ra những quyết định quản trị cả về chiến lược lẫn tác nghiệp phù hợp.
Ví dụ: Các cuộc bạo động diễn ra ở các nước Trung Á ngày càng nhiều. Vô tình làm cho các doanh
nghiệp không thể hoạt động bình thường. Vì thế làm ảnh hưởng đến lợi nhuận của các doanh nghiệp
c) Yếu tố văn hoá, xã hội:
5.2 Phân tích ảnh hưởng của yếu tố môi trường đặc thù tới hoạt động của tổ chức. Lấy ví dụ
5.3 Phân tích ảnh hưởng của yếu tố môi trường bên trong ảnh hưởng tới hoạt động
của tổ chức. Lấy ví dụ
6. Vì sao nói quản trị chính là quản trị sự thay đổi? Nội dung và cách thức quản
trị sự thay đổi trong tổ chức?
( Trình bày khái niệm và sự cần thiết của quản trị sự thay đổi.
Trình bày nội dung quy trình quản trị sự thay đổi. )