tin. Nguồ ụng để phân tích chứng khoán một cách thành thạo đã khiến l c to ln cần phải s d n
m t s phân khúc thị trường trở nên hiệu quả hơn những phân khúc thị trường khác. dụ, th
trường cổ ệu qu hơn vì có nhiều nhà phân tích theo dõi nhữ phiếu của các công ty l n hơn s hi ng
chứng khoán đó hơn so vớ ững người theo dõi các công ty nhỏ, ít tên tuổi hơn.i nh
Người ta cũng phải th a nh n rằng những người đánh giá tính hữ ụng trong mộu d t th trường hiệu
quả ế hi u ch c đích cức năng mụ a việc phân tích quá hẹp. Mặc dù vi c tìm ki m các ch ng
khoán được định giá quá cao và bị định giá th ột phần quan trọng trong nhiều phân tích, p m
nhưng tầm quan trọng củ ổng thểa việc đánh grủi ro và tránh thua lỗ, trong khuôn khổ t ca vic
ra quyế ịnh kinh doanh, không thểt đ đượ c nh n mạnh quá mức. Ví dụ, phân tích có th đánh giá
tính hợp c a ph i ro ln quan đ ần bù r ến chứng khoán. Hơn nữa, vi a nhệc ngăn ngừ ững sai sót
nghiêm trọng trong đầ ất cũng quan trọng như việc phát hiện ra những chứng khoán bịu ít nh
định giá thấp. Tuy nhiên, việc xem xét thuyết CAPM beta xu hướng giải thích tại sao
những người tuân thủ nghiêm ngặt các mô hình định hướng vĩ mô này của th trường chứng khoán
l i b qua chức năng phân tích quan trọng này. Cụ th, tiền đề b n c a những lý thuyết này là
việc phân tích rủi ro phi hệ thống không đáng giá thị trường không khuyến khích loi chấp
nhận rủi ro đó. Thay vào đó, những rủi ro như vậy nên được đa dạng hóa người quản lý danh
mục đầu chỉ th nên xem xét rủi ro hệ ống hoặ ủi ro thịc r trường để n tìm kiếm phầ
thưởng.
Tóm lạ ếi, h u h t các phân tích báo cáo tài chính đều giả định rằng kết quả đầu tư có thể đạt được
thông qua nghiên cứu phân tích cẩn th n t n mừng công ty riêng lẻ ếp cận này nhấ. Cách ti nh
giá tr của phân tích cơ bản không chỉ như một phương ện giữ ti cho th trường hoạ ộng hiệt đ u quả
còn phương tiệ ụng kiến mà những nhà đầu tư có được thông tin sẵn sàng và có thể áp d n
thc, n l c và s khéo léo trong phân tích để thu đượ ần thưởng. Đốc ph i vi những nhà phân tích
đó, thành quả rấ c a phân tích b n— t lâu trước khi đượ ển đổi thành “hàng hóa công”c chuy
sẽ mang lại phần thưởng. Tuy nhiên, những phần thưởng này không thể nhn thấy rõ ràng trong
hiệu quả hoạt động của các nhà phân ch được tổng hợp để bao gồm các phân khúc thị trường
chính, chẳng hạn như các quỹ tương hỗ. Thay vào đó, chúng vẫn mang tính cá nhân như những n
lc cn thi hiết để n th ực hóa chúng.
Điểm khác nhau giữa cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi:
Tiêu chí Cổ phần phổ thông
Cổ phần ưu đãi
Cổ phần ưu đãi
biểu quyết
Cổ phần ưu đãi cổ
tức
Cổ phần ưu đãi
hoàn lại
Tính bắt buộc Bắt buộc phải có Không bắt buộc
Cổ tức Không ổn định, tùy thuộc
vào kết quả kinh doanh
của công ty
Không ổn định, tùy
thuộc vào kết quả
kinh doanh của công
ty
Được trả với mức cao
hơn so với mức cổ tức
của cổ phần phổ
thông/mức ổn định
hằng năm
Không ổn định, tùy
thuộc vào kết quả
kinh doanh của công
ty
Quyền biểu
quyết
Thực hiện quyền biểu
quyết trực tiếp hoặc thông
qua người đại diện theo ủy
quyền hoặc hình thức khác
do Điều lệ công ty, pháp
luật quy định
Biểu quyết về các
vấn đề thuộc thẩm
quyền của Đại hội
đồng cổ đông
Không có quyền biểu
quyết trừ trường hợp
quy định tại khoản 6
Điều 148 của Luật
Doanh nghiệp 2020
Không có quyền biểu
quyết,trừ trường hợp
quy định tại khoản 5
Điều 114 và khoản 6
Điều 148 Luật Doanh
nghiệp 2020
Khả năng
chuyển đổi
Không thể chuyển đổi
thành cổ phần ưu đãi
Không thể chuyển đổi thành cổ phần phổ thông
Khả năng
chuyển
nhượng
Tự do chuyển nhượng trừ
trường hợp quy định tại
khoản 3 Điều 120, khoản 1
Điều 127 Luật Doanh
nghiệp 2020 và quy định
khác của pháp luật có liên
quan
Không được chuyển
nhượng, trừ trường
hợp chuyển nhượng
theo bản án, quyết
định của Tòa án đã
có hiệu lực pháp
luật/thừa kế
Được quyền chuyển
nhượng
Được quyền chuyển
nhượng
bên cho thuê tại thời điểm đó và phần chênh l ch, n ếu có, được ghi nhận là lãi hoặc l . Th
tục tương tự áp dụng cho hợp đồng thuê tài chính trự c tiếp (xem bên dưới.
+ Giá trị hi n t i ca khoản thanh toán tiền thuê tối thiểu được chiết khấu theo lãi suất ngầm
định trong hợp đồng thuê được ghi nhận giá bán. Nguyên giá hoặc giá trị ghi sổ, nếu
khác, của tài sản thuê mọi chi phí trực tiếp ban đầu (củ ệc đàm phán và hoàn tấa vi t hợp
đồng thuê), trừ đi giá trị hi n t i c a ph c đần còn lại không đượ m b o giá tr được tính
vào thu nhập trong cùng kỳ.
+ Giá trị còn l c tính đưại ướ ợc xem xét định k c thì viỳ. Nếu nó đượ ịnh là vược xác đ t m c
hạch toán giao dịch s đượ c s a đ i bằng cách sử dụng ước tính đã thay đi. Vi c gi m đầu
thuầ n dẫn đến được ghi nhận là l trong kỳ thay đ i ước tính. Không thực hiện điều
chỉnh tăng giá trị còn lạ ớc tính. (Điều khoản tương tự ụng cho hợp đồng thuê tài i ư áp d
chính trực tiếp.
Cho ài ch thuê t ính trực tiếp
1. Các khoản thanh toán tiền thuê tố chi phí thựi thiểu (trừ c hin) cộng với các khoản không được
bảo đảm giá trị còn lại cộng với chi phí trực tiếp ban đầu được ghi nhậ ổng mứ ầu tư. n là t c đ
2. Ph n chênh l ệch giữa tổng mứ ầu tư và nguyên giá hoặc đ c giá trị ghi sổ ản cho thuê, của tài s
nếu có, được ghi nhận thu nhập chưa thực hiện. Đầu tư ròng bằng tổng đầu tư trừ đi thu nhập
chưa kiếm đưc. Thu nhậ vào thu nhập trong thờp chưa thc hiện được phân b i hạn thuê. Chi phí
trự ế c ti p ban đ t phầu đượ ấu hao cùng mộc kh n với thu nhập chưa kiế ền thuê dựm được. Ti phòng
được ghi nhận vào thu nhập khi chúng trở ản phải thu. thành kho
Thuê hoạt động
Bên cho thuê s ản đượ đưa tài s c coi là hợp đồng thuê hoạ ộng vào bảng cân đốt đ i kế toán và s
khấu hao tài sản đó theo chính sách khấu hao thông thường của mình. Tiền thuê phải được tính
vào thu nhập trong suốt thi hạn cho thuê khi nó tr thành khoản phải thu, ngoại trừ trường hợp
nó không theo đường thẳng thì thu nhập sẽ được ghi nhận trên cơ sở đó hoặc trên một số cơ sở
h thống hoặc hợp lý khác. Chi phí ban đầu được hoãn lại và phân bổ trong suốt thời gian thuê.
3. ABO và PBO
Nghĩa vụ phúc lợi tích lũy (ABO): Đây là giá trị hin ti của các khoản thanh toán phúc lợi lương
hưu ước tính trong tương lai giả đị nh kho n tản bồi thường hiệ i.

Preview text:

tin. Nguồn lực to lớn cần phải sử ụng d để phân
tích chứng khoán một cách thành thạo đã khiến
một số phân khúc thị trường trở nên hiệu quả hơn những phân khúc thị trường khác. Ví dụ, thị
trường cổ phiếu của các công ty lớn hơn sẽ hiệu quả hơn vì có nhiều nhà phân tích theo dõi những
chứng khoán đó hơn so với những người theo dõi các công ty nhỏ, ít tên tuổi hơn.
Người ta cũng phải thừa nhận rằng những người đánh giá tính hữu dụng trong một thị trường hiệu
quả hiểu chức năng và mục đích của việc phân tích quá hẹp. Mặc dù việc tìm kiếm các chứng
khoán được định giá quá cao và bị định giá thấp là một phần quan trọng trong nhiều phân tích,
nhưng tầm quan trọng của việc đánh giá rủi ro và tránh thua lỗ, trong khuôn khổ tổng thể của việc ra quyết ịnh đ
kinh doanh, không thể được nhấn mạnh quá mức. Ví dụ, phân tích có thể đánh giá tính hợp lý c a ủ phần bù r i
ủ ro liên quan đến chứng khoán. Hơn nữa, việc ngăn ngừa những sai sót
nghiêm trọng trong đầu tư ít ất
nh cũng quan trọng như việc phát hiện ra những chứng khoán bị
định giá thấp. Tuy nhiên, việc xem xét lý thuyết CAPM và beta có xu hướng giải thích tại sao
những người tuân thủ nghiêm ngặt các mô hình định hướng vĩ mô này của thị trường chứng khoán
lại bỏ qua chức năng phân tích quan trọng này. Cụ thể, tiền đề cơ bản của những lý thuyết này là
việc phân tích rủi ro phi hệ thống là không đáng giá vì thị trường không khuyến khích loại chấp
nhận rủi ro đó. Thay vào đó, những rủi ro như vậy nên được đa dạng hóa và người quản lý danh
mục đầu tư chỉ nên xem xét rủi ro hệ thống hoặc rủi ro thị trường để tìm kiếm phần thưởng. Tóm lại, hầ ế
u h t các phân tích báo cáo tài chính đều giả định rằng kết quả đầu tư có thể đạt được
thông qua nghiên cứu và phân tích cẩn thận từng công ty riêng lẻ. Cách tiếp cận này nhấn mạnh
giá trị của phân tích cơ bản không chỉ như một phương
tiện giữ cho thị trường hoạt động hiệu quả
mà còn là phương tiện mà những nhà đầu tư có được thông tin sẵn sàng và có thể áp dụng kiến
thức, nỗ lực và sự khéo léo trong phân tích để thu được phần thưởng. Đối với những nhà phân tích
đó, thành quả của phân tích cơ ả b rấ
n— t lâu trước khi được chuyển đổi thành “hàng hóa công”—
sẽ mang lại phần thưởng. Tuy nhiên, những ph
ần thưởng này không thể nhận thấy rõ ràng trong
hiệu quả hoạt động của các nhà phân tích được tổng hợp để bao gồm các phân khúc thị trường
chính, chẳng hạn như các quỹ tương hỗ. Thay vào đó, chúng vẫn mang tính cá nhân như những nỗ
lực cần thiết để hiện thực hóa chúng.
Điểm khác nhau giữa cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi: Tiêu chí Cổ phần ưu đãi Cổ phần phổ thông Cổ phần ưu đãi Cổ phần ưu đãi cổ Cổ phần ưu đãi biểu quyết tức hoàn lại
Tính bắt buộc Bắt buộc phải có Không bắt buộc
Cổ tức Không ổn định, tùy thuộc Không ổn định, tùy
Được trả với mức cao Không ổn định, tùy vào kết quả kinh doanh thuộc vào kết quả
hơn so với mức cổ tức thuộc vào kết quả của công ty kinh doanh của công của cổ phần phổ kinh doanh của công ty thông/mức ổn định ty hằng năm Quyền biểu Thực hiện quyền biểu Biểu quyết về các Không có quyền biểu Không có quyền biểu quyết
quyết trực tiếp hoặc thông vấn đề thuộc thẩm quyết trừ trường hợp quyết,trừ trường hợp
qua người đại diện theo ủy quyền của Đại hội quy định tại khoản 6 quy định tại khoản 5
quyền hoặc hình thức khác đồng cổ đông Điều 148 của Luật Điều 114 và khoản 6
do Điều lệ công ty, pháp Doanh nghiệp 2020 Điều 148 Luật Doanh luật quy định nghiệp 2020 Khả năng Không thể chuyển đổi
Không thể chuyển đổi thành cổ phần phổ thông chuyển đổi thành cổ phần ưu đãi Khả năng
Tự do chuyển nhượng trừ Không được chuyển Được quyền chuyển Được quyền chuyển nhượng chuyển
trường hợp quy định tại nhượng, trừ trường nhượng nhượng
khoản 3 Điều 120, khoản 1 hợp chuyển nhượng Điều 127 Luật Doanh theo bản án, quyết nghiệp 2020 và quy định định của Tòa án đã
khác của pháp luật có liên có hiệu lực pháp quan luật/thừa kế
bên cho thuê tại thời điểm đó và phần chênh lệch, nếu có, được ghi nhận là lãi hoặc lỗ. Thủ
tục tương tự áp dụng cho hợp đồng thuê tài chính trự c tiếp (xem bên dưới.
+ Giá trị hiện tại của khoản thanh toán tiền thuê tối thiểu được chiết khấu theo lãi suất ngầm
định trong hợp đồng thuê được ghi nhận là giá bán. Nguyên giá hoặc giá trị ghi sổ, nếu
khác, của tài sản thuê và mọi chi phí trực tiếp ban đầu (của việc đàm phán và hoàn tất hợp
đồng thuê), trừ đi giá trị hiện tại của phần còn lại không được đảm bảo giá trị được tính
vào thu nhập trong cùng kỳ.
+ Giá trị còn lại ước tính được xem xét định kỳ. Nếu nó được xác ịnh là vư đ ợt mức thì việc
hạch toán giao dịch sẽ được sửa đổi bằng cách sử dụng ước tính đã thay đổi. Việc giảm đầu
tư thuần dẫn đến được ghi nhận là lỗ trong kỳ thay ổ
đ i ước tính. Không thực hiện điều
chỉnh tăng giá trị còn lại ước tính. (Điều khoản tương tự áp ụng d cho hợp đồng thuê tài chính trực tiếp.
Cho thuê tài chính trực tiếp
1. Các khoản thanh toán tiền thuê tối thiểu (trừ chi phí thự
c hiện) cộng với các khoản không được
bảo đảm giá trị còn lại cộng với chi phí trực tiếp ban đầu được ghi nhận là tổng mức đầu tư.
2. Phần chênh lệch giữa tổng mức đầu tư và nguyên giá hoặc giá trị ghi sổ của tài sản cho thuê,
nếu có, được ghi nhận là thu nhập chưa thực hiện. Đầu tư ròng bằng tổng đầu tư trừ đi thu nhập
chưa kiếm được. Thu nhập chưa thực hiện được phân bổ vào
thu nhập trong thời hạn thuê. Chi phí
trực tiếp ban đầu được kh t
ấu hao cùng mộ phần với thu nhập chưa kiếm được. Tiền thuê dự phòng
được ghi nhận vào thu nhập khi chúng trở thành khoản phải thu.
Thuê hoạt động
Bên cho thuê sẽ đưa tài sản được coi là hợp đồng thuê hoạt động vào bảng cân đối kế toán và sẽ
khấu hao tài sản đó theo chính sách khấu hao thông thường của mình. Tiền thuê phải được tính
vào thu nhập trong suốt thời hạn cho thuê khi nó trở thành khoản phải thu, ngoại trừ trường hợp
nó không theo đường thẳng thì thu nhập sẽ được ghi nhận trên c
ơ sở đó hoặc trên một số cơ sở có
hệ thống hoặc hợp lý khác. Chi phí ban đầu được hoãn lại và phân bổ trong suốt thời gian thuê. 3. ABO và PBO
Nghĩa vụ phúc lợi tích lũy (ABO): Đây là giá trị
hiện tại của các khoản thanh toán phúc lợi lương
hưu ước tính trong tương lai giả định khoản bồi thường hiện tại.