













Preview text:
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH TIỂU LUẬN
MÔN: SÁP NHẬP, MUA LẠI VÀ TÁI CẤU TRÚC DOANH NGHIỆP
ĐỀ TÀI:BÀI THU HOẠCH TỰ HỌC CHƯƠNG 1 –
TỔNG QUAN VỀ SÁP NHẬP, MUA LẠI, HỢP NHẤT VÀ THOÁI VỐN
(Bậc đại học)
Giảng viên phụ trách: TS. Nguyễn Thị Uyên Uyên
TP. Hồ Chí Minh, ngày 24 tháng 10 năm 2025 MỤC LỤC
I. Giới thiệu chung........................................................................................................3
1.1. Giới thiệu nội dung...............................................................................................3
1.2. Mục tiêu bài thu hoạch..........................................................................................3
1.3. Lời cảm ơn............................................................................................................3 II.
Nội dung bài học.....................................................................................................4
2.1. Tổng quan về hợp nhất, sáp nhập, thâu tóm, mua lại............................................4 2.1.1.
Sáp nhập doanh nghiệp..................................................................................4 2.1.2.
Hợp nhất doanh nghiệp..................................................................................4 2.1.3.
Mua lại doanh nghiệp.....................................................................................4 2.1.4.
Thâu tóm doanh nghiệp..................................................................................6 2.1.5.
Thoái vốn doanh nghiệp.................................................................................6
2.2. Các hình thức sáp nhập.........................................................................................6 2.2.1.
Căn cứ vào hình thức liên kết.........................................................................6 2.2.2.
Căn cứ trên phạm vi lãnh thổ.........................................................................8 2.2.3.
Căn cứ vào chiến lược mua lại hoặc tính thân thiện của thương vụ...............8 2.2.4.
Căn cứ vào phương thức mua lại....................................................................8 2.2.5.
Căn cứ trên phương thức tài trợ.....................................................................8
2.3. Quy trình thực hiện một thương vụ M&A............................................................9 III.
Kết luận.................................................................................................................13 IV.
Tài liệu tham khảo...............................................................................................14 I.
Nội dung bài học I.1.
Tổng quan về hợp nhất, sáp nhập, thâu tóm, mua lại
Hoạt động M&A về bản chất là quá trình kết hợp giữa hai hay nhiều doanh nghiệp
thông qua các hình thức như sáp nhập, hợp nhất, mua lại, thâu tóm hoặc thoái vốn,
nhằm đạt được các mục tiêu chiến lược.
I.1.1. Sáp nhập doanh nghiệp
Theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam 2020, “Một hoặc một số công ty (gọi là công ty bị
sáp nhập) có thể sáp nhập vào một công ty khác (gọi là công ty nhận sáp nhập) bằng
cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty nhận
sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập”.
Theo luật của Mỹ, họ định nghĩa hành động sáp nhập doanh nghiệp là sự kết hợp giữa
hai công ty, trong đó, công ty mục tiêu bị thâu tóm bởi công ty đi thâu tóm. Công ty
mục tiêu sau khi bị thâu tóm sẽ mất đi đặc điểm nhận diện và trở thành một phần của
công ty nhận sáp nhập, trong khi công ty nhận sáp nhập vẫn sẽ giữ đặc điểm nhận
dạng của mình cũng như nắm giữ quyền, lợi ích và trách nhiệm của công ty bị thâu tóm.
Qua đó, có thể nhận xét sáp nhập là việc sáp nhập một công ty này vào một công ty
khác. Công ty bị thâu tóm sẽ chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp
pháp sang công ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập.
I.1.2. Hợp nhất doanh nghiệp
Theo điều 200, Luật Doanh Nghiệp 2020: “Hai hoặc một số công ty (sau đây gọi là
công ty bị hợp nhất) có thể hợp nhất thành một công ty mới (sau đây gọi là công ty
hợp nhất), đồng thời chấm dứt tồn tại của các công ty bị hợp nhất.”
Theo luật của Mỹ, hợp nhất có định nghĩa tương tự sáp nhập, nhưng hình thành một
công ty mới hoàn toàn sau hợp nhất. Cụ thể là, công ty hợp nhất và công ty bị hợp
nhất đều giải thể, chấm dứt sự tồn tại về pháp lý của mình và trở thành một phần của công ty mới.
Vì vậy, có thể định nghĩa hợp nhất là việc hai hoặc nhiều công ty hợp nhất thành một
công ty mới, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các công ty bị hợp nhất, và chỉ có công
ty mới thành lập sẽ tiếp tục hoạt động.
I.1.3. Mua lại doanh nghiệp
Theo Chương IV, mục 2, điều 19 của Luật Cạnh tranh 2018 (có hiệu lực từ ngày
01/07/2019), “Mua lại doanh nghiệp là việc một doanh nghiệp trực tiếp hoặc gián
tiếp mua toàn bộ hoặc một phần vốn góp, tài sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm
soát, chi phối doanh nghiệp hoặc một ngành, nghề của doanh nghiệp bị mua lại.”.
Theo luật của Mỹ, mua lại doanh nghiệp là việc tiếp quản một công ty (gọi là công ty
mục tiêu) thông qua hoạt động mua lại, được thực hiện bởi công ty đi mua lại.
Công ty đi mua lại có thể sử dụng 3 hình thức cơ bản:
- Sáp nhập – là hình thức nhập công ty bị mua lại vào công ty đi mua lại, đồng thời
chấm dứt sự tồn tại của công ty bị mua lại.
- Mua lại cổ phiếu – là hình thức công ty đi mua lại mua lại cổ phiếu có quyền bầu
cử của công ty mục tiêu bằng tiền mặt, hoặc cổ phiếu hay các chứng khoán khác.
- Mua lại tài sản – là hình thức công ty đi mua lại toàn bộ tài sản của công ty mục tiêu.
Lưu ý: nếu so hoạt động mua lại nói chung thì hình thức sáp nhập không tốn nhiều chi
phí về thủ tục pháp lý. Cụ thể hơn, cổ đông của hai công ty trong thương vụ cần chấp
thuận về việc sáp nhập. Theo luật của Mỹ, hai phần ba cổ đông cần bỏ phiếu biểu
quyết đồng ý chấp nhận thực hiện sáp nhập. Bên cạnh đó, cổ đông của công ty bị sáp
nhập có “quyền đánh giá”, họ có thể đòi hỏi công ty đi sáp nhập mua cổ phần của họ
với mức giá hợp lý. Nếu có xảy ra bất đồng về mức giá hợp lý, thương vụ sáp nhập sẽ
trở nên tốn kém chi phí hơn.
Công ty đi mua lại khi tiến hành mua lại công ty mục tiêu có thể dùng hình thức chào
mua công khai để mua lại cổ phần có quyền bầu cử của công ty mục tiêu. Bên cạnh đó
cũng còn một hình thức khác là mua lại tài sản của công ty mục tiêu, trong đó, công ty
bán tài sản không nhất thiết phải biến mất.
Trong thương vụ mua lại tài sản, việc mua bán cần phải có sự bỏ phiếu chính thức của
cổ đông công ty mục tiêu. Dù hình thức này loại bỏ được cổ đông thiểu số, nhưng
nhược điểm là tốn kém do chi phí chuyển giao quyền sở hữu tài sản.
Việc chọn lựa giữa hai hình thức mua lại cổ phiếu và sáp nhập phụ thuộc vào mục tiêu thâu tóm:
- Mua lại cổ phiếu không yêu cầu họp hay biểu quyết cổ đông, cho phép công ty
mua lại đề nghị trực tiếp với cổ đông mà không cần thông qua hội đồng quản trị và
ban giám đốc mục tiêu. Điều này thường khiến ban giám đốc mục tiêu phản đối và
tìm cách chống lại thương vụ. Hạn chế lớn nhất là công ty mục tiêu có thể không
bị mua lại hoàn toàn nếu một số cổ đông từ chối bán cổ phần.
- Sáp nhập là hình thức bắt buộc phải sử dụng nếu công ty mua lại muốn hấp thụ
hoàn toàn công ty mục tiêu, tránh tình trạng cổ đông thiểu số còn sót lại.
I.1.4. Thâu tóm doanh nghiệp
Cần phân biệt rõ thâu tóm và mua lại vì:
Thâu tóm là hành động rộng hơn so với mua lại, khi đó một công ty tìm cách giành
quyền kiểm soát hoặc chi phối công ty mục tiêu thông qua việc mua toàn bộ hoặc một
số lượng cổ phiếu đủ để nắm quyền hoặc chi phối công ty mục tiêu.
Mua lại chỉ là một trong các phương thức để thực hiện hành động thâu tóm. Bên cạnh
đó còn có các phương thức khác như lôi kéo cổ đông bất mãn hay giành sự ủy quyền,
hoặc thông qua các giao dịch chuyển đổi công ty cổ phần đại chúng thành công ty cổ phần nội bộ.
Các hoạt động thâu tóm bao gồm:
- Mua lại, trong đó chia làm ba hình thức: sáp nhập hoặc hợp nhất, mua lại cổ phiếu, và mua lại tài sản. - Giành sự ủy quyền.
- Chuyển đổi sang công ty cổ phần nội bộ.
I.1.5. Thoái vốn doanh nghiệp
Thoái vốn là việc bán đi một phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp, được thực hiện qua các
hình thức như: bán, trao đỏi hay thực hiện phá sản doanh nghiệp, ngoài ra còn liên
quan đến việc chia tách công ty. I.2. Các hình thức sáp nhập
Có rất nhiều tiêu thức phân loại nhằm xác định hình thức của một thương vụ.
I.2.1. Căn cứ vào hình thức liên kết
Có thể chia sáp nhập thành bốn loại:
- Sáp nhập theo chiều ngang: là hình thức sáp nhập hay hợp nhất giữa hai đối thủ
cạnh tranh hoạt động trong cùng một ngành.
Ví dụ: Công ty A (chuyên sản xuất nước giải khát có gas) sáp nhập với
Công ty B (đối thủ cùng ngành) để mở rộng thị phần và tăng sức cạnh tranh.
Những thương vụ sáp nhập theo chiều ngang sẽ giúp công ty đi sáp nhập có lợi thế
kinh tế về quy mô, tăng sức cạnh tranh, giảm đối thủ, giảm chi phí cố định và dễ tiếp cận vốn.
- Sáp nhập theo chiều dọc: là hình thức kết hợp giữa hai công ty nằm trên cùng một
chuỗi giá trị (tồn tại mối quan hệ người mua – người bán), có cùng lĩnh vực, ngành
nhưng khác nhau ở chu trình sản xuất. Từ đó, dẫn đến sự mở rộng về phía trước
hoặc phía sau của công ty sáp nhập trên chuỗi giá trị đó.
Ví dụ: Công ty A (nhà sản xuất đồ điện tử) sáp nhập với Công ty B (nhà cung cấp linh kiện chip).
Có hai hình thức sáp nhập theo chiều dọc:
oSáp nhập tiến: hình thức sáp nhập giữa công ty đi sáp nhập và công ty
khách hàng của họ, hay công ty phân phối sản phẩm cho họ.
oSáp nhập lùi: hình thức sáp nhập giữa công ty đi sáp nhập với công ty
cung cấp đầu vào cho họ.
Những thương vụ sáp nhập theo chiều dọc giúp công ty đảm bảo, kiểm soát được
chất lượng hàng hóa đầu vào – đầu ra của mình, giảm chi phí trung gian, chủ động
khống chế nguồn hàng ra – vào của đối thủ cạnh tranh.
- Sáp nhập đồng tâm, đồng loại: là hình thức sáp nhập giữa hai công ty cùng chung
một lĩnh vực nhưng không có mối quan hệ người mua – người bán.
Ví dụ: Công ty A (sản xuất điện thoại) sáp nhập với Công ty B (sản xuất
phụ kiện điện thoại như tai nghe, sạc).
- Sáp nhập tổ hợp: là hình thức sáp nhập giữa hai công ty hoạt động trong lĩnh vực,
ngành hoàn toàn khác nhau, chỉ xảy ra khi các doanh nghiệp không phải là đối thủ
cạnh tranh và không có quan hệ người mua – người bán.
Ví dụ: Công ty A (hoạt động trong lĩnh vực bất động sản) sáp nhập với
Công ty B (kinh doanh chuỗi siêu thị bán lẻ).
Có thể chia sáp nhập tổ hợp thành 3 loại:
Sáp nhập tổ hợp thuần túy: là hình thức sáp nhập giữa hai công ty
hoạt động trong các lĩnh vực không liên quan với nhau.
Sáp nhập bành trướng về địa lý: là hình thức sáp nhập giữa hai công
ty sản xuất cùng một loại sản phẩm nhưng khác nhau về mặt địa lý
của thị trường tiêu thụ.
Sáp nhập đa dạng hóa sản phẩm: là hình thức sáp nhập giữa hai công
ty sản xuất hai loại sản phẩm khác nhau nhưng có cùng ứng dụng
công nghệ sản xuất hoặc tiếp thị.
Những thương vụ sáp nhập kiểu tổ hợp giúp công ty sáp nhập giảm rủi ro nhờ đa
dạng hóa, tăng khả năng sinh lợi nhờ vào việc tìm được các cơ hội phát triển mới,
tiết kiệm chi phí khi gia nhập thị trường mới. Tuy nhiên cũng gặp phải một số
nhược điểm như tăng chi phí quản lý, khó khăn khi đối mặt với sự khác biệt về văn hóa.
I.2.2. Căn cứ trên phạm vi lãnh thổ
Có thể chia sáp nhập thành 2 loại:
- Sáp nhập trong nước: là hình thức mua lại và sáp nhập giữa hai công ty hoạt động cùng lãnh thổ quốc gia.
- Sáp nhập xuyên biên: là hình thức mua lại và sáp nhập giữa hai công ty hoạt động
không trong cùng lãnh thổ quốc gia.
I.2.3. Căn cứ vào chiến lược mua lại hoặc tính thân thiện của thương vụ
Có thể chia sáp nhập thành 2 loại:
- Thương vụ M&A thân thiện: là khi cả hai công ty đều sẵn sang tham gia thương
vụ trên tinh thần đôi bên cùng có lợi.
- Thương vụ M&A thù địch: là khi bên chào mua muốn thực hiện thương vụ để mua
lại công ty mục tiêu, tuy nhiên chỉ có bên mua lại là có lợi trong trường hợp này.
I.2.4. Căn cứ vào phương thức mua lại.
Có thể chia lại thành 2 loại:
- Các thương vụ được thực hiện qua đàm phán trực tiếp.
- Các thương vụ được thực hiện qua đàm phán gián tiếp.
I.2.5. Căn cứ trên phương thức tài trợ
- Mua công ty thông qua việc sử dụng đòn bẩy tài chính (LBOs): người mua sử
dụng nợ vay (có thể lên đến 90-100% giá trị) để tài trợ cho thương vụ. Cách thức
phổ biến nhất là công ty đi mua sẽ vay ứng trước, đồng thời phát hành trái phiếu ra
công chúng hoặc một số cá nhân để vay tiền. Tài sản của công ty đi mua được
dùng để thế chấp và dòng tiền tự do của công ty mục tiêu dùng để trả nợ vay.
Thường áp dụng cho các công ty vừa, nhỏ, hoặc các bộ phận của công ty lớn.
- Mua công ty bằng vốn chủ sở hữu (MBOs): các giám đốc của công ty mục tiêu
mua lại phần lớn cổ phiếu của công tyđể chuyển từ vị trí “làm thuê” sang “làm
chủ”, nhằm gia tăng quyền kiểm soát công ty. Sau MBOs, công ty thường có xu
hướng chuyển từ công ty cổ phần đại chúng thành công ty tư nhân.
Bên cạnh các hình thức nêu trên, hiện nay còn có một hình thức gọi là sáp nhập ngược
– Một công ty tư nhân mua lại một công ty đại chúng để trở thành công ty đại chúng
mà không cần phải thực hiện thủ tục IPO truyền thống. I.3.
Quy trình thực hiện một thương vụ M&A
Quy trình thực hiện một thương vụ M&A thường bao gồm nhiều giai đoạn kế tiếp
nhau, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa bên mua, bên bán, các ngân hàng đầu tư, cố
vấn tài chính, cố vấn pháp lý và cơ quan quản lý nhà nước. Một thương vụ M&A
thông thường được thực hiện qua 7 giai đoạn cơ bản, từ giai đoạn khởi đầu đàm phán
đến khi hoàn tất giao dịch.
- Giai đoạn 1: khởi động và đàm phán ban đầu
Quá trình M&A thường bắt đầu trong một môi trường thân thiện, có thể chia ra làm 2 trường hợp:
Đối với thương vụ do bên mua khởi xướng: quá trình thường bắt đầu khi
ban lãnh đạo của công ty đi mua liên hệ với ban lãnh đạo của công ty mục
tiêu, thường thông qua ngân hàng đầu tư của hai bên.
Đối với thương vụ do bên bán khởi xướng: bên bán có thể thuê ngân hàng
đầu tư để liên hệ với các nhà đầu tư tiềm năng. Những bên quan tâm
thường phải ký thỏa thuận bảo mật và cam kết không đưa ra đề nghị mua
ngoài ý muốn trước khi được cung cấp các thông tin nội bộ của doanh
nghiệp mục tiêu. Bên bán có thể tổ chức đấu giá hoặc đàm phán riêng với một bên duy nhất.
Trong quá trình đàm phán, ban lãnh đạo hai công ty cần thường xuyên báo cáo cho Hội đồng quản trị.
- Giai đoạn 2: Ký kết thỏa thuận bảo mật
Khi bước vào giai đoạn thương lượng chi tiết, bên mua thường cần truy cập thông
tin không công bố của công ty mục tiêu để định giá chính xác.
Do đó, hai bên sẽ ký thỏa thuận bảo mật (NDA), quy định rằng:
Bên nhận thông tin chỉ được sử dụng dữ liệu cho mục đích thương vụ hiện tại.
Không được sử dụng để thực hiện chào mua thù địch hoặc mục đích khác.
Các thỏa thuận này thường bao quát thông tin kinh doanh, bí mật thương mại,
quyền sở hữu trí tuệ và bản thân quá trình thương lượng, đặc biệt khi công ty mục
tiêu không muốn công bố việc đang tìm kiếm người mua.
-Giai đoạn 3: Thỏa thuận ban đầu
Giai đoạn này được thực hiện sau khi các bên đã xác định rõ các điều khoản cơ
bản, nhằm văn bản hóa các thỏa thuận chính trước khi tiến hành các bước tốn kém
về thời gian và chi phí. Có thể được chia thành 2 loại văn bản:
Bảng điều khoản (Term sheet): là văn bản đầu tiên được chuẩn bị khi bên
mua đã sẵn sàng đưa ra một đề nghị mà họ tin rằng bên bán sẽ chấp nhận.
Mục đích: Đặt ra các điều khoản chính của giao dịch bằng văn bản, giúp
giảm sự không chắc chắn và ngăn các bên phát sinh chi phí lớn mà không
có thỏa thuận sơ bộ về các khía cạnh cơ bản.
Nội dung thường bao gồm:
Xác định bên mua và bên bán.
Giá mua và các yếu tố có thể làm giá thay đổi trước khi đóng giao dịch. Phương thức thanh toán.
Phân chia chi phí phát sinh.
Các cam đoan và bảo đảm chính mà các bên đưa ra.
Thư bày tỏ ý định (Letter of Intent – LOI).
LOI là văn bản chi tiết hơn, thường được chuẩn bị sau bảng điều khoản, thường không ràng buộc.
Mục đích: Xác định rõ hơn các điều khoản chi tiết của thỏa thuận.
Nội dung thường bao gồm: Chi tiết hơn về giá mua.
Các điều kiện đóng giao dịch.
Các điều khoản khác (thỏa thuận việc làm cho nhân viên chủ chốt).
Nhiều đối tác có thể bỏ qua LOI và tiến thẳng vào việc ký kết Thỏa thuận Sáp
nhập chính thức. Giai đoạn này đòi hỏi một lượng lớn công việc thẩm định phải
được thực hiện trước khi đạt được thỏa thuận cuối cùng.
- Giai đoạn 4: Thẩm định chi tiết công ty mục tiêu và cấu trúc hóa giao dịch
Sau khi xong thỏa thuận ban đầu, bên mua sẽ tiến hành thẩm định toàn diện về
công ty mục tiêu để xác minh thông tin, xác định giá trị thực và phát hiện rủi ro
pháp lý hoặc tài chính có thể ảnh hưởng đến quyết định mua lại.
Việc lựa chọn cấu trúc giao dịch phụ thuộc vào mức độ kiểm soát mà bên mua
mong muốn và phạm vi tài sản được chuyển giao. Cấu trúc giao dịch có thể chia làm 2 loại:
Giao dịch tài sản: bên mua chỉ mua một phần hoặc toàn bộ tài sản cụ thể của doanh nghiệp mục tiêu. Ưu điểm:
Giới hạn việc phải gánh nợ và nghĩa vụ pháp lý không mong muốn.
Chọn lọc tài sản cần mua, không phải trả cho phần không có giá trị.
Có thể hưởng lợi về thuế. Nhược điểm:
Bên bán có thể bị đánh thuế hai lần
Có thể cần sự đồng ý của bên thứ ba nếu tài sản đang gắn với hợp
đồng hoặc tài trợ có điều khoản “không chuyển nhượng”. Giao dịch thực thể
Gồm hai hình thức chính: giao dịch cổ phần và giao dịch sáp nhập.
Giao dịch cổ phần: Bên mua mua cổ phần trực tiếp từ cổ đông của công ty mục
tiêu, không cần chuyển quyền sở hữu tài sản.
Ưu điểm: tránh được vấn đề chuyển giao tài sản hoặc hợp đồng. Nhược điểm:
Bên mua phải gánh các nghĩa vụ pháp lý hiện hữu.
Cổ đông phản đối thương vụ có thể không được hưởng quyền yêu
cầu định giá lại cổ phần.
Giao dịch sáp nhập: hai công ty hợp nhất theo quy định pháp luật tiểu bang. Trong
sáp nhập tiến, công ty mục tiêu sáp nhập trực tiếp vào công ty mua, và công ty
mục tiêu chấm dứt tồn tại. Toàn bộ tài sản và nghĩa vụ được chuyển sang công ty
mua. Dù bên mua phải gánh nợ của bên bán, nhưng không cần thực hiện thủ tục chuyển giao tài sản.
Có 3 loại hình giao dịch sáp nhập:
Sáp nhập tiến: công ty mục tiêu sáp nhập trực tiếp vào công ty mua
lại và chấm dứt sự tồn tại của công ty mục tiêu, công ty mua lại tiếp tục hoạt động
Sáp nhập tam giác thuận: bên mua sẽ thành lập một công ty con
chuyên biệt để tiến hành sáp nhập. Công ty mục tiêu sẽ sáp nhập trực
tiếp vào công ty con này, và công ty con trở thành pháp nhân tồn tại,
trong khi công ty mục tiêu chấm dứt.
Sáp nhập tam giác ngược: công ty con của bên mua sẽ sáp nhập vào
công ty mục tiêu, khiến công ty mục tiêu trở thành pháp nhân tồn tại,
còn công ty con bị giải thể. Các cổ đông của công ty mục tiêu nhận
cổ phiếu hoặc tiền mặt từ bên mua để đổi lấy quyền sở hữu.
- Giai đoạn 5: Hợp đồng sáp nhập
Sau khi lựa chọn cấu trúc phù hợp, hai bên tiến hành soạn thảo và ký hợp đồng sáp nhập.
Hợp đồng này quy định chi tiết:
Giá trị thương vụ và hình thức thanh toán.
Các điều khoản đại diện và bảo đảm.
Nghĩa vụ và điều kiện trước và sau khi hoàn tất.
Điều khoản chấm dứt (Termination Clause) và phí hủy giao dịch (Termination Fee).
Điều khoản thay đổi bất lợi trọng yếu (Material Adverse Event Clause).
Tài liệu đính kèm như biên bản nghị quyết của Hội đồng quản trị.
- Giai đoạn 6: Thủ tục phê duyệt và biểu quyết
Quy trình chung khi phê duyệt sáp nhập bao gồm:
Hội đồng quản trị thông qua nghị quyết đồng ý giao dịch;
Cổ đông bỏ phiếu thông qua, theo tỷ lệ quy định trong điều lệ (thường là đa số hoặc 2/3).
Hồ sơ được nộp lên cơ quan đăng ký tiểu bang.
- Giai đoạn 7: Hoàn tất giao dịch
Giai đoạn cuối cùng là hoàn tất (closing), diễn ra sau khi mọi điều kiện trong hợp
đồng được đáp ứng, bao gồm: Phê duyệt của cổ đông
Chấp thuận của cơ quan quản lý (Bộ Tư pháp, Ủy ban Chứng khoán, hoặc cơ quan cạnh tranh)
Hoàn tất thanh toán và chuyển giao quyền sở hữu. II.
Tài liệu tham khảo
Gaughan, P. A. (2017). Mergers, Acquisitions, and Corporate Restructurings (6th
Edition). Wiley Corporate F&A.
TS. Nguyễn Thị Uyên Uyên. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ SÁP NHẬP, HỢP
NHẤT, MUA LẠI, THÂU TÓM VÀ THOÁI VỐN [Tài liệu giảng dạy nội bộ].