PHẦN 1. NHỮNG LÀN SÓNG SÁP NHẬP
Trong lĩnh vực tài chính, rất ít sự chú ý đến lịch sử của việc sáp. Thay vào đó,
trọng tâm thường sự phát triển đổi mới gần nhất. Điều này dường như đúng Hoa Kỳ,
nơi dành ít s quan tâm cho những điều không “mới mẻ". Chính thế, không quá
ngạc nhiên khi chúng ta thấy rằng các sai lầm thất bại trong quá khứ lại khuynh hướng
lập lại.
Thị trường dường như sở hữu một ký ức ngắn hạn, vì thế mô hình mua bánsáp
nhập (M&A) thường có các thiếu sót lặp đi lặp lại theo một chiều hướng cố định. Chính vì
do này chúng ta cần phải nhận thức được lịch sử của các hoạt động mua bán sáp
nhập. Có được sự nhận thức trong lĩnh vực này sẽ giúp chúng ta xác định được các vấn đề đã
xảy ra với các thương vụ trong quá khứ.
nhiều xu hướng thú vị trong lịch sử mua bán sáp nhập gần đây: Đầu tiên phải
kể đến việc mua bán sáp nhập đã trở thành một hiện tượng trên toàn thế giới thay tập
trung chủ yếu Mỹ. Một số xu hướng khác thể kể đến sự gia tăng của những kẻ thâu
tóm thị trường sáp nhập, điều này dẫn đến việc hình thành nên một hình thức đấu thầu mới,
vượt trội hơn. Trong chương này, chúng tôi đặc biệt chú ý đến những xu hướng quan trọng
trong lịch sử M&A gần đây.
1 NHỮNG LÀN SÓNG SÁP NHẬP
Trong lịch sử nước Mỹ đã diễn ra sáu giai đoạn slượng thương vụ sáp nhập cao,
còn được gọi làn sóng sáp nhập. Những làn sóng sáp nhập này hoạt động theo chu kỳ,
nghĩa thời kỳ số thương vụ sáp nhập mua lại này tăng cao thì cũng sẽ kèm theo thời
kỳ mà số lượng các thương vụ này giảm đi.
Bốn làn sóng đầu tiên xảy ra trong khoảng thời gian từ 1897 đến năm 1904, từ năm
1916 đến năm 1929, từ năm 1965 đến năm 1969, từ năm 1984 đến năm 1989. Hoạt động
sáp nhập bắt đầu suy giảm vào cuối những năm 1980 nhưng lại tiếp tục trở lại vào đầu những
năm 1990 để bắt đầu làn sóng thứ năm. Chúng ta cũng một giai đoạn sáp nhập tương đối
ngắn nhưng lại rất sôi nổi từ năm 2003 đến năm 2007.
2 NGUYÊN NHÂN HÌNH THÀNH CÁC LÀN SÓNG SÁP NHẬP?
Nghiên cứu đã chỉ ra rằng các làn sóng sáp nhập xu hướng hình thành bởi sự kết
hợp của các cú sốc, bao gồm: kinh tế, quy định pháp lý và công nghệ.
sốc kinh tế xuất hiện dưới hình thức mở rộng kinh tế, sốc này thúc đẩy các
công ty mở rộng quy để đáp tổng cầu đang tăng nhanh. Mua bán sáp nhập một hình
thức mở rộng có hiệu quả hơn so với việc tăng trưởng tự thân và tăng trưởng nhờ nội ứng.
sốc pháp xuất hiện khi loại bỏ các rào cản về những quy định, những sự ngăn
cản hợp nhất của các doanh nghiệp. dụ như những thay đổi trong luật ngân hàng của Mỹ
đã ngăn các ngân hàng vượt quá ranh giới hoặc ngăn cản các ngân hàng tham gia vào những
ngành khác.
sốc công nghệ xuất hiện dưới nhiều hình thức bởi sự thay đổi công nghệ thể
mang lại nhiều thay đổi trong các ngành hiện tại và thậm chí những sự thay đổi về công nghệ
này có thể tạo ra những ngành mới.
Mặt khác, Harford cho thấy rằng, bản thân những cú sốc này không đủ tiềm lực để tạo
ra một làn sóng sáp nhập. Ông chú trọng đến các làn sóng trong ngành thay xem xét mức
độ tổng thể của hoạt động mua lại sáp nhập trong giai đoạn 1981–2000. Nghiên cứu của
ông về 35 làn sóng trong ngành xảy ra giai đoạn này cho thấy tính thanh khoản của nguồn
vốn cũng là điều kiện quan trọng để hình thành một làn sóng.
Phát hiện của ông cũng chỉ ra rằng việc định thời điểm của thị trường hoặc định giá
sai của các nhà quản lý không phải là nguyên nhân gây nên làn sóng sáp nhập, dẫu cho chúng
thể nguyên nhân trong các thương vụ cụ thể khác. Tuy nhiên, phát hiện của Harford
hoàn toàn trái ngược với quan điểm của Rhodes Kropf, Robinson Viswanathan - những
người đã chỉ ra rằng việc định giá sai những sai sót trong định giá chính nguyên nhân
thúc đẩy hoạt động sáp nhập. Họ đo lường điều này bằng cách so sánh tỷ lệ thị trường trên sổ
sách với mức định giá thực sự. Ngoài ra, các tác giả này không nói rằng các sai sót trong định
giá là yếu tố duy nhất gây nên các làn sóng sáp nhập, nhưng họ cũng nói rằng các sai sót này
đóng một vai trò quan trọng trong việc làm tăng mức độ định giá sai.
Rau và Stouraitis đã phân tích một mẫu gồm 151,000 giao dịch của các công ty trong
giai đoạn 1980–2004, chúng không chỉ xoay quanh hoạt động mua bán sáp nhập của công
ty còn bao gồm nhiều hoạt động khác của doanh nghiệp. Họ nhận thấy rằng “làn sóng
doanh nghiệp” dường như bắt đầu bằng những “làn sóng phát hành” mới, khởi đầu với những
đợt phát hành cổ phiếu theo quý, sau đó những đợt chào bán lần đầu ra công chúng, tiếp
theo hoạt động sáp nhập mua lại được tài trợ bằng cổ phiếu và cuối cùng những làn
sóng mua lại. Phát hiện này củng cố cho giả thuyết “Hiệu quả tân cổ điển” , ngụ ý rằng các
nhà quản sẽ cố gắng theo đuổi các thương vụ khi họ nhìn thấy hội tăng trưởng sẽ
tham gia mua lại khi các cơ hội này biến mất dần.
3 NGUYÊN NHÂN HÌNH THÀNH, SỤP Đ ĐẶC ĐIỂM CỦA TỪNG
LÀN SÓNG SÁP NHẬP.
3.1. LÀN SÓNG ĐẦU TIÊN (1897-1904).
Làn sóng sáp nhập đầu tiên xảy ra sau cuộc suy thoái năm 1883, đạt đỉnh điểm trong
giai đoạn từ năm 1898 đến năm 1902 kết thúc vào năm 1904 (Bảng 2.1). Mặc những
thương vụ sáp nhập này ảnh hưởng chính đến tất cả các ngành công nghiệp khai thác sản
xuất, nhưng bên cạnh đó một số ngành khác cũng có tỷ lệ sáp nhập cao.
BẢNG 2.1 Làn sóng đầu tiên, 1897-1904
Năm Số thương vụ sáp nhập
1897 69
1898 303
1899 1,208
1900 340
1901 423
1902 379
1903 142
1904 79
Nguồn: Môi giới định giá doanh nghiệp Merrill Lynch, Tạp chí Mergerstat, năm
1989.
Theo nghiên cứu của Cục Nghiên cứu Kinh tế Quốc gia của Giáo sư Ralph Nelson, có
tám ngành kim loại thô, thực phẩm, dầu mỏ, hóa chất, thiết bị vận tải, chế tạo kim loại,
công nghiệp máy móc khai thác than bitum, những ngành xảy ra hoạt động sáp nhập
nhiều nhất. Các ngành này chiếm khoảng 2/3 tổng số vụ sáp nhập trong thời đoạn này. Các
thương vụ sáp nhập trong làn sóng đầu tiên chủ yếu các sáp nhập theo chiều ngang (Bảng
2.2).
BẢNG 2.2 Phân loại sáp nhập, 1895-1904
Phân loại sáp nhập Tỷ lệ phần trăm (%)
Chiều ngang 78.3
Chiều dọc 12
Hỗn hợp 9.7
Tổng 100
Nguồn: Neil Fligstein, The Transformation of Corporate Control (Cambridge, MA:
Harvard University Press, 1990), 72.
Nhiều thương vụ sáp nhập theo chiều nganghợp nhất ngành xảy ra trong giai đoạn
này đã dẫn đến cấu trúc thị trường gần như độc quyền. do này, thời kỳ sáp nhập này
được biết đến với vai trò tạo ra sự độc quyền lớn.
Giai đoạn này cũng gắn liền với thương vụ siêu sáp nhập tỷ đô đầu tiên của U.S. Steel
được thành lập bởi J.P.Morgan. Ông đã kết hợp công ty Carnegie Steel, do Andrew Carnegie
thành lập và được điều hành bởi Carnegie và Henry Clay Frick, với công ty Federal Steel, do
Morgan kiểm soát. Hơn thế nữa, Morgan cũng đã thâu tóm thêm các công ty thép khác,
chẳng hạn như American Tinplate, American Steel Hoop, American Steel Sheet, American
Bridge, American Steel and Wire, International Mercantile Marine, National Steel, National
Tube, và Shelby Steel Tube. Các công ty này được sáp nhập dưới sự bảo trợ của tập đoàn U.S
Steel - tập đoàn kiểm soát một nửa ngành công nghiệp thép của Mỹ. Kết quả khổng lồ
thép đã sáp nhập 785 sở sản xuất thép riêng biệt. thời điểm, U.S. Steel chiếm tới 75%
công suất sản xuất thép của Mỹ.
Ngoài U.S. Steel, một số “gã khổng lồ” công nghiệp ngày nay cũng được hình thành
trong làn sóng sáp nhập này, như: DuPont, Standard Oil, General Electric, Eastman Kodak,
American Tobacco (Sáp nhập với Brown Williamson vào năm 1994, sau đó hợp nhất với
RJ Reynolds vào năm 2004), Navistar International (Trước đây International Harvester
nhưng đã trở thành Navistar vào năm 1986 khi công ty bán đi phần kinh doanh nông nghiệp
của nó). Ngày nay các công ty này những tập đoàn thị phần lớn, trong cuối làn sóng
sáp nhập đầu tiên một số công ty đã thực sự thống trị toàn bộ thị trường. Ví dụ, U.S.Steel
không phải là tập đoàn duy nhất thống trị thị trường của mình. American Tobacco chiếm 90%
thị phần, Standard Oil do J.D.Rockefeller sở hữu chiếm 85% thị phần. Trong phong trào
sáp nhập đầu tiên, 300 công ty hợp nhất lớn bao trùm nhiều lĩnh vực công nghiệp đã
kiểm soát 40% vốn sản xuất của cả quốc gia. Nelson ước tính hơn 3000 công ty đã biến
mất trong thời kỳ này do kết quả của các thương vụ sáp nhập.
Đến năm 1909, 100 tập đoàn công nghiệp lớn nhất đã kiểm soát gần 18% tài sản của
tất cả các tập đoàn công nghiệp. Ngay cả khi Đạo luật chống độc quyền Sherman (1890) cũng
không thể cản được sự độc quyền gay gắt này. Bộ Tư pháp quan chịu trách nhiệm phần
lớn về việc các tác động của Đạo luật Sherman bị hạn chế. Bởi trong giai đoạn sáp nhập
cao trào nhất vào những năm 1900, Bộ Tư phápquan chịu trách nhiệm thực thi Đạo luật
Sherman, lại thiếu nhân lực và không thể theo đuổi một cách tích cực việc thực thi chống độc
quyền. Các hoạt của Bộ pháp lúc này đang hướng đến các liên đoàn lao động nhiều hơn.
Do đó, tốc độ sáp nhập theo chiều ngang và hợp nhất ngành tiếp tục tăng cao cũng không
có bất kỳ hạn chế nào từ Đạo luật chống độc quyền.
Vào cuối làn sóng sáp nhập đầu tiên, mức độ tập trung đã tăng lên rệt trong ngành
công nghiệp Mỹ. Số lượng các công ty một số ngành, chẳng hạn như ngành thép, giảm
đáng kể thậm chí một số ngành chỉ còn một công ty tồn tại. Thật trớ trêu các ngành
công nghiệp độc quyền vẫn được hình thành sau khi Đạo luật Sherman được thông qua. Tuy
nhiên, ngoài việc Bộ pháp thiếu thốn nguồn nhân lực, thì các toà án ban đầu cũng không
sẵn lòng thông qua các điều khoản chống độc quyền của Đạo luật. dụ, vào năm 1985, Tòa
án Tối cao Mỹ đã phán quyết rằng Công ty American Sugar Refining không phải công ty
độc quyền không bị hạn chế thương mại. Họ không quan tâm đến việc Sugar Trust đã
kiểm soát 98% năng suất đường tinh luyện Mỹ. Với phán quyết “đầy ưu ái” này đã bật đèn
xanh cho các công ty như DuPont, Eastman Kodak, General Electric, International Harvester,
Standard Oil, và U.S. Steel tham gia vào hoạt động sáp nhập và mua lại mà không cần lo ngại
về sự can thiệp của pháp luật. Ban đầu các Toà án coi trọng tâm của Đạo luật Sherman là việc
quản lý các quỹ uỷ thác của cổ đông, trong đó các nhà đầu sẽ đầu tiền vào một công ty
uỷ thác chứng chỉ cổ phiếu của họ cho các giám đốc - những người sẽ đảm bảo rằng họ
nhận được cổ tức cho “chứng chỉ quỹ uỷ thác” của mình.
Với sự tập trung sai lầm vào quỹ uỷ thác, đạo luật này đã không được áp dụng để cản
trở sự hình thành các công ty độc quyền trong một số ngành làn sóng sáp nhập đầu tiên.
Các quỹ uỷ thác được thành lập bởi các nhà lãnh đạo của các doanh nghiệp đứng đầu, chẳng
hạn như J. P. Morgan của House of Morgan John D. Rockefeller của Standard Oil
National City Bank, như một phản ứng trước kết quả hoạt động kém cỏi của nhiều doanh
nghiệp trong nước khi họ phải vật lộn với khủng hoảng tài chính trong một môi trường kinh
tế yếu kém. Họ coi cấu trúc của nhiều ngành, trong đó nhiều công ty nhỏ hoạt động
kém hiệu quả là một phần dẫn đến kết quả kém hiệu quả này. Họ tổ chức lại các công ty phá
sản trong nhiều ngành khác nhau bằng cách buộc các cổ đông trao đổi vốn cổ phần của mình
ở các công ty đang gặp khó khăn để lấy chứng chỉ ủy thác trong một công ty cổ phần sẽ kiểm
soát công ty đang được đề cập cũng như nhiều đối thủ cạnh tranh khác. Với sự kiểm soát như
vậy, J. P. Morgan đã thể kiềm chế sự cạnh tranh gay gắt ông cho rằng đã khiến các
công ty trong nhiều ngành trở nên yếu thế. Khi làm như vậy, ông ấy đã thể mang lại niềm
tin cho các nhà đầu vào sự an toàn công ty của ông những người khác đang rao bán
cổ phiếu. Trọng tâm ban đầu của ông ngành đường sắt - một ngành chiếm phần lớn cổ
phiếu được giao dịch trên thị trường chứng khoán New York lúc bấy giờ. một ngành
nhu cầu vốn lớn, các công ty đường sắt đã tích cực rao bán cổ phiếu trái phiếu thông qua
các chủ ngân hàng đầu trên khắp Mỹ Châu Âu. Tuy nhiên, các công ty đường sắt lại
xu hướng cạnh tranh gay gắt về giá cước, tìm cách đẩy nhau đến bờ vực phá sản. Morgan
ghét sự cạnh tranh không kiềm chế như vậy tìm cách tổ chức lại ngành này, cuối cùng
mở rộng sang các ngành khác, sử dụng quỹ uỷ thác của công ty nắm giữ để loại bỏ các nhà
quản cạnh tranh hung hăng thay thế họ bằng những người sẽ chủ trì thị trường trật tự
hơn. Morgan cho rằng người tiêu dùng sẽ không bị ảnh hưởng bởi sự hợp nhất này mục
tiêu trọng tâm của ông là các nhà đầu tư muốn kiếm lợi.
Các quỹ uỷ thác phát triển thống trị nhiều ngành công nghiệp. Trong số đó
American Cottonseed Oil Trust và National Lead Trust – những công ty thống trị ngành công
nghiệp của họ. Ngược lại, Ngân hàng Morgan kiểm soát First National Bank, National Bank
of Commerce, First National Bank of Chicago, Liberty National Bank, Chase National Bank,
Hanover National Bank và Astor National Bank.
Ngoài việc thực thi lỏng lẻo luật chống độc quyền của Liên bang, còn các do pháp
lý khác có thể giải thích tại sao làn sóng sáp nhập đầu tiên lại phát triển mạnh đến vậy. Ví dụ,
một số bang, luật doanh nghiệp dần dần được nới lỏng. Đặc biệt, các tập đoàn dần kh
năng đảm bảo vốn, nắm giữ cổ phần tại các tập đoàn khác mở rộng ngành nghề kinh
doanh, từ đó tạo ra môi trường màu cho các doanh nghiệp có ý định thực hiện sáp nhập.
Khả năng tiếp cận vốn nhiều hơn giúp các công ty dễ dàng huy động nguồn tài chính cần thiết
để thực hiện việc mua lại sự nới lỏng các quy tắc kiểm soát việc nắm giữ cổ phần của các
tập đoàn, cho phép các công ty mua lại nhau bằng cách mua cổ phần của các công ty công ty
đó.
Không phải tất cả các tiểu bang tự do hóa luật doanh nghiệp. Chính thế, sự
chênh lệch về tốc độ sáp nhập mua lại giữa các bang với nhau. Bang New Jersey, việc
thông qua Đạo luật Công ty Cổ phần New Jersey năm 1888 đã giúp tự do hóa luật doanh
nghiệp của bang, giúp bang trở nên dẫn đầu về số thương vụ sáp nhập mua lại, tiếp đến
các bang như New York Delaware. Luật cho phép hình thành các quỹ uỷ thác của công ty
nắm giữ và Bang New Jersey trở thành thánh địa cho hình thức công ty này. Đạo luật này đã
gây áp lực buộc các bang khác phải ban hành luật tương tự thay chứng kiến các công ty
chuyển sang tái hợp nhất New Jersey. Tuy nhiên, nhiều công ty đã chọn sáp nhập New
Jersey, điều này giải thích cho việc rất nhiều công ty New Jersey tham gia vào làn sóng
sáp nhập đầu tiên. Xu hướng này đã giảm đáng kể vào năm 1915, từ khi ít khác biệt trong
luật doanh giữa các bang.
Sự phát triển của hệ thống giao thông vận tải Mỹ một trong những yếu tố chính
khởi đầu làn sóng sáp nhập đầu tiên. Sau Nội chiến, việc thiết lập một hệ thống đường sắt lớn
đã giúp các doanh nghiệp thể tiếp cận được thị trường quốc gia chứ không phải chỉ thị
trường khu vực. Các tuyến đường sắt xuyên lục địa, chẳng hạn như Liên minh Thái Bình
Dương–Trung Thái Bình Dương, được hoàn thành vào năm 1869, nối liền miền tây Hoa K
với phần còn lại của đất nước. Nhiều công ty không còn coi tiềm năng thị trường bị giới
hạn bởi các ranh giới thị trường được xác định hẹp, thế họ đã tận dụng hội mở rộng để
được lợi thế của một thị trường rộng lớn hơn. Các công ty hiện đang phải đối mặt với sự
cạnh tranh từ các đối thủ ở xa đã chọn sáp nhập với các đối thủ cạnh tranhđịa phương để
duy trì thị phần của họ. Những thay đổi trong hệ thống giao thông quốc gia khiến việc cung
cấp cho các thị trường xa trở nên dễ dàng hơn ít tốn kém hơn. Chi phí vận tải hàng hóa
đường sắt giảm với tốc độ trung bình 3,7% mỗi năm từ năm 1882 đến năm 1900. Vào đầu
những năm 1900, chi phí vận tải tăng rất ít mặc nhu cầu về dịch vụ vận tải tăng lên. Một
lưu ý thú vị rằng khả năng vận chuyển hàng hóa hiệu quả của các tuyến đường sắt Mỹ trong
nền kinh tế toàn cầu đã gây ấn tượng mạnh với Warren Buffett, đến nỗi vào năm 2009, ông
đã đấu giá 26,3 tỷ đô la tiền mặt cổ phiếu cho phần còn lại của tuyến đường sắt phía Bắc
Burlington ông đã đấu thầu, chưa sở hữu. Burlington Northern thực sự sản phẩm của
390 thương vụ mua lại và sáp nhập đường sắt khác nhau trong giai đoạn 1850–2000.
Một số thay đổi trong cấu khác đã giúp các doanh nghiệp phục vụ thị trường quốc
gia tốt hơn. dụ, việc phát minh ra máy sản xuất thuốc theo quy trình sản xuất liên tục
Bonsack, điều này đã cho phép Công ty Thuốc Mỹ cung cấp cho thị trường thuốc quốc
gia một số lượng tương đối nhỏ máy móc sản xuất thuốc lá. Khi các công ty mở rộng, họ chú
trọng khai thác lợi thế kinh tế theo quy mô trong sản xuất và phân phối. Ví dụ: Chỉ với ba nhà
máy lọc dầu, Standard Oil Trust đã thể nắm giữ 40% sản lượng dầu của thế giới, do máy
lọc dầu của họ đã loại bỏ những thực vật không cần thiết, do đó đạt được hiệu quả cao hơn.
Tượng tự, trong thời gian này, nhiều ngành sản xuất khác của nền kinh tế Mỹ cũng dần được
mở rộng nhằm theo đuổi lợi thế quy mô. Các công ty các nhà quản trị bắt đầu nghiên cứu
quy trình sản xuất với n lực nâng cao khả năng nắm giữ quy trình sản xuất hàng loạt. Việc
mở rộng quy kinh doanh cũng đòi hỏi kỹ năng quản cao hơn dẫn đến việc chuyên
môn hóa trong các công tác quản lý.
Như đã đề cập, làn sóng sáp nhập đầu tiên xảy ra vào năm 1897, tuy nhiên “cu7c
chi8n ti8p quản lớn đ;u ti<n” đã bắt đầu sớm hơn nhiều - vào năm 1868. Mặc thuật ng
“cu7c chi8n ti8p quản” được sử dụng ngày nay nhằm mô tả những xung đột gay gắt giữa các
công ty trong việc nắm quyền kiểm soát, nhưng thuật ngữ này từng có thể được áp dụng đúng
nghĩa hơn cho các xung đột xảy ra trong những vụ sáp nhập xảy ra trong làn đầu đợt sóng.
Một cuộc chiến nắm quyền kiểm soát thể kể đến n lực giành quyền kiểm soát Đường
sắt Erie vào năm 1868. Đây cuộc cạnh tranh giữa Cornelius Vanderbilt với Daniel Drew,
Jim Fisk Jay Gould. Đường sắt Erie lúc đó đã tự bảo vệ mình, chống lại việc tiếp quản
bằng cách phát hành một lượng lớn hàng tồn kho trong chiến dịch được gọi “chiến dịch
tiếp quản cổ phiếu”, mặc dù họ không được phép làm như vậy. Vào thời điểm đó, do việc hối
lộ các thẩm phán quan chức khá phổ biến nên mức xử phạt dành cho việc vi phạm luật
doanh nghiệp không quá nặng. Dẫn đến việc cuộc chiến giành quyền kiểm soát đường sắt
Eire diễn ra ngày càng gay gắt khi tập đoàn sở hữu Đường sắt Erie phải thuê vệ sĩ được trang
bị súng đại bác, để bảo v trụ sở của mình. Cuộc chiến tiếp quản chỉ thực sự kết thúc khi
Vanderbilt từ bỏ các cuộc tấn công vào Đường sắt Erie và chuyển sự chú ý sang các mục tiêu
yếu hơn.
Vào cuối thế kỷ 19, do những cuộc tranh giành quyền kiểm soát như vậy, công chúng
ngày càng lo ngại về các hoạt động kinh doanh phi đạo đức. Luật doanh nghiệp không
nhiều hiệu hiệu lực trong những năm 1890. Để đối phó với nhiều cuộc biểu tình chống đường
sắt, Chính quyềnQuốc hội đã thành lập Ủy ban Thương mại Liên bang vào năm 1897.
Harrison, Cleveland McKinley (1889–1901) đều rất ủng hộ doanh nghiệp đưa những
người ủng hộ đường sắt bầu vào ủy ban để điều tiết tình hình. Mãi cho đến khi luật chống độc
quyền được thông qua vào cuối những năm 1800 đầu những năm 1900, luật chứng
khoán cứng rắn hơn sau cuộc Đại khủng hoảng, hệ thống luật pháp mới đạt được sức mạnh
cần thiết để ngăn chặn các chiến thuật nắm giữ quyền kiểm soát phi đạo đức.
Thiếu các hạn chế pháp đầy đủ, cộng đồng ngân hàng doanh nghiệp đã áp dụng
quy tắc ứng xử đạo đức tự nguyện của riêng mình. Quy tắc này được thực thi bởi một thỏa
thuận bất thành văn giữa các chủ ngân hàng đầu tư, những người đồng ý chỉ kinh doanh với
các công ty tuân thủ các tiêu chuẩn đạo đức cao hơn của họ. Vương quốc Anh ngày nay dựa
vào một bộ quy tắc tự nguyện như vậy. Mặc các tiêu chuẩn không chính thức này không
loại trừ tất cả các hoạt động không phù hợp trong quá trình theo đuổi việc tiếp quản, nhưng
chúng đã tạo tiền đề cho hành vi hợp lý trong làn sóng tiếp quản đầu tiên.
Ảnh hưởng của các yếu tố tài chính nhiều hơn các hạn chế pháp lý đã dập tắt làn sóng
sáp nhập đầu tiên. Đầu tiên, sự sụp đổ của quỹ tín thác đóng tàu vào đầu những năm 1900 đã
dẫn đến nguy gian lận tài chính. Thứ hai, quan trọng nhất, sự sụp đổ của thị trường
chứng khoán năm 1904, sau đó Cuộc khủng hoảng ngân hàng năm 1907, đã đóng cửa
nhiều ngân hàng của quốc gia và cuối cùng mở đường cho sự hình thành của Hệ thống Dự trữ
Liên bang. Do thị trường chứng khoán suy giảm hệ thống ngân hàng yếu kém, các yếu tố
tài chính bản để thúc đẩy hoạt động thâu tóm đã không còn. Nếu không những điều
này, thời kỳ nắm quyền kiểm soát đại đầu tiên đã kết thúc. Một số nhà sử học kinh tế đã
giải thích nhiều sự kết hợp theo chiều ngang diễn ra trong làn sóng đầu tiên một nỗ lực để
đạt được lợi thế kinh tế theo quy mô. Thông qua các hoạt động sáp nhập và mua lại, các công
ty đang mở rộng đã tìm cách tăng hiệu quả bằng cách giảm chi phí trên mỗi đơn vị. Thực tế là
phần lớn các vụ sáp nhập này không thành công nghĩa các công ty này đã không thành
công trong việc theo đuổi mục tiêu nâng cao hiệu quả. Dưới thời Tổng thống Theodore
Roosevelt, người nắm quyền điều hành từ năm 1901 đến năm 1909, môi trường chống độc
quyền ngày càng nghiêm ngặt hơn. Mặc dù không đóng một vai trò quan trọng nào trong việc
kết thúc làn sóng đầu tiên, Roosevelt - người được biết đến với biệt danh người chống độc
quyền, vẫn tiếp tục cố gắng gây áp lực lên các hoạt động chống cạnh tranh.
Ban đầu chính phủ không thành công trong các vụ kiện chống độc quyền, nhưng đến
cuối nhiệm kỳ của Roosevelt, chính phủ bắt đầu đạt được nhiều thành công hơn trong các
phòng xử án. Quyết định mang tính bước ngoặt của Tòa án Tối cao trong vụ án Chứng khoán
Phương Bắc năm 1904 là một ví dụ về thành công lớn hơn của chính phủ trong việc thực hiện
các hành động chống độc quyền. Mặc Tổng thống Roosevelt nổi tiếng người phá
một số quỹ tín thác, nhưng chính người kế nhiệm của ông, William Howard Taft, mới
người đã thành công trong việc phá bỏ một số ủy thác lớn. Thật trớ trêu khi nhiều công ty
được thành lập trong thời kỳ sự sụp đổ của các quỹ tín thác lớn lại trở thành những doanh
nghiệp rất lớn. dụ, Standard Oil được chia thành các công ty như Standard Oil of New
Jersey, sau này trở thành Exxon; Standard Oil của New York, trở thành Mobil sáp nhập
với Exxon vào năm 1998; Standard Oil of California, đã đổi tên thành Chevron mua lại
Gulf Oil vào năm 1985, Texaco vào năm 2001 và Unocal vào năm 2005; Standard Oil of
Indiana, trở thành Amoco, được BP mua lại vào năm 1998. Shợp nhất giữa một số phần
của Standard Oil cũ phản ánh sự tàn phá một phần của sự tan rã này vì thị trường xăng dầu đã
mở rộng ra toàn cầu và những hậu ducủa Công ty J.D. Rockefeller hiện phải đối mặt với
nhiều cạnh tranh quốc tế.

Preview text:

PHẦN 1. NHỮNG LÀN SÓNG SÁP NHẬP
Trong lĩnh vực tài chính, có rất ít sự chú ý đến lịch sử của việc sáp. Thay vào đó,
trọng tâm thường là sự phát triển và đổi mới gần nhất. Điều này dường như đúng ở Hoa Kỳ,
nơi mà dành ít sự quan tâm cho những điều không “mới mẻ". Chính vì thế, không có gì quá
ngạc nhiên khi chúng ta thấy rằng các sai lầm và thất bại trong quá khứ lại có khuynh hướng lập lại.
Thị trường dường như sở hữu một ký ức ngắn hạn, vì thế mà mô hình mua bán và sáp
nhập (M&A) thường có các thiếu sót lặp đi lặp lại theo một chiều hướng cố định. Chính vì lý
do này mà chúng ta cần phải nhận thức rõ được lịch sử của các hoạt động mua bán và sáp
nhập. Có được sự nhận thức trong lĩnh vực này sẽ giúp chúng ta xác định được các vấn đề đã
xảy ra với các thương vụ trong quá khứ.
Có nhiều xu hướng thú vị trong lịch sử mua bán và sáp nhập gần đây: Đầu tiên phải
kể đến việc mua bán và sáp nhập đã trở thành một hiện tượng trên toàn thế giới thay vì tập
trung chủ yếu ở Mỹ. Một số xu hướng khác có thể kể đến là sự gia tăng của những kẻ thâu
tóm thị trường sáp nhập, điều này dẫn đến việc hình thành nên một hình thức đấu thầu mới,
vượt trội hơn. Trong chương này, chúng tôi đặc biệt chú ý đến những xu hướng quan trọng
trong lịch sử M&A gần đây.
1 NHỮNG LÀN SÓNG SÁP NHẬP
Trong lịch sử nước Mỹ đã diễn ra sáu giai đoạn có số lượng thương vụ sáp nhập cao,
còn được gọi là làn sóng sáp nhập. Những làn sóng sáp nhập này hoạt động theo chu kỳ, có
nghĩa là có thời kỳ số thương vụ sáp nhập và mua lại này tăng cao thì cũng sẽ kèm theo thời
kỳ mà số lượng các thương vụ này giảm đi.
Bốn làn sóng đầu tiên xảy ra trong khoảng thời gian từ 1897 đến năm 1904, từ năm
1916 đến năm 1929, từ năm 1965 đến năm 1969, và từ năm 1984 đến năm 1989. Hoạt động
sáp nhập bắt đầu suy giảm vào cuối những năm 1980 nhưng lại tiếp tục trở lại vào đầu những
năm 1990 để bắt đầu làn sóng thứ năm. Chúng ta cũng có một giai đoạn sáp nhập tương đối
ngắn nhưng lại rất sôi nổi từ năm 2003 đến năm 2007.
2 NGUYÊN NHÂN HÌNH THÀNH CÁC LÀN SÓNG SÁP NHẬP?
Nghiên cứu đã chỉ ra rằng các làn sóng sáp nhập có xu hướng hình thành bởi sự kết
hợp của các cú sốc, bao gồm: kinh tế, quy định pháp lý và công nghệ.
Cú sốc kinh tế xuất hiện dưới hình thức mở rộng kinh tế, cú sốc này thúc đẩy các
công ty mở rộng quy mô để đáp tổng cầu đang tăng nhanh. Mua bán và sáp nhập là một hình
thức mở rộng có hiệu quả hơn so với việc tăng trưởng tự thân và tăng trưởng nhờ nội ứng.
Cú sốc pháp lý xuất hiện khi loại bỏ các rào cản về những quy định, những sự ngăn
cản hợp nhất của các doanh nghiệp. Ví dụ như những thay đổi trong luật ngân hàng của Mỹ
đã ngăn các ngân hàng vượt quá ranh giới hoặc ngăn cản các ngân hàng tham gia vào những ngành khác.
Cú sốc công nghệ xuất hiện dưới nhiều hình thức bởi vì sự thay đổi công nghệ có thể
mang lại nhiều thay đổi trong các ngành hiện tại và thậm chí những sự thay đổi về công nghệ
này có thể tạo ra những ngành mới.
Mặt khác, Harford cho thấy rằng, bản thân những cú sốc này không đủ tiềm lực để tạo
ra một làn sóng sáp nhập. Ông chú trọng đến các làn sóng trong ngành thay vì xem xét mức
độ tổng thể của hoạt động mua lại và sáp nhập trong giai đoạn 1981–2000. Nghiên cứu của
ông về 35 làn sóng trong ngành xảy ra ở giai đoạn này cho thấy tính thanh khoản của nguồn
vốn cũng là điều kiện quan trọng để hình thành một làn sóng.
Phát hiện của ông cũng chỉ ra rằng việc định thời điểm của thị trường hoặc định giá
sai của các nhà quản lý không phải là nguyên nhân gây nên làn sóng sáp nhập, dẫu cho chúng
có thể là nguyên nhân trong các thương vụ cụ thể khác. Tuy nhiên, phát hiện của Harford là
hoàn toàn trái ngược với quan điểm của Rhodes Kropf, Robinson và Viswanathan - những
người đã chỉ ra rằng việc định giá sai và những sai sót trong định giá chính là nguyên nhân
thúc đẩy hoạt động sáp nhập. Họ đo lường điều này bằng cách so sánh tỷ lệ thị trường trên sổ
sách với mức định giá thực sự. Ngoài ra, các tác giả này không nói rằng các sai sót trong định
giá là yếu tố duy nhất gây nên các làn sóng sáp nhập, nhưng họ cũng nói rằng các sai sót này
đóng một vai trò quan trọng trong việc làm tăng mức độ định giá sai.
Rau và Stouraitis đã phân tích một mẫu gồm 151,000 giao dịch của các công ty trong
giai đoạn 1980–2004, chúng không chỉ xoay quanh hoạt động mua bán và sáp nhập của công
ty mà còn bao gồm nhiều hoạt động khác của doanh nghiệp. Họ nhận thấy rằng “làn sóng
doanh nghiệp” dường như bắt đầu bằng những “làn sóng phát hành” mới, khởi đầu với những
đợt phát hành cổ phiếu theo quý, sau đó là những đợt chào bán lần đầu ra công chúng, tiếp
theo là hoạt động sáp nhập và mua lại được tài trợ bằng cổ phiếu và cuối cùng là những làn
sóng mua lại. Phát hiện này củng cố cho giả thuyết “Hiệu quả tân cổ điển” , ngụ ý rằng các
nhà quản lý sẽ cố gắng theo đuổi các thương vụ khi họ nhìn thấy cơ hội tăng trưởng và sẽ
tham gia mua lại khi các cơ hội này biến mất dần.
3 NGUYÊN NHÂN HÌNH THÀNH, SỤP ĐỔ VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA TỪNG LÀN SÓNG SÁP NHẬP.
3.1. LÀN SÓNG ĐẦU TIÊN (1897-1904).
Làn sóng sáp nhập đầu tiên xảy ra sau cuộc suy thoái năm 1883, đạt đỉnh điểm trong
giai đoạn từ năm 1898 đến năm 1902 và kết thúc vào năm 1904 (Bảng 2.1). Mặc dù những
thương vụ sáp nhập này ảnh hưởng chính đến tất cả các ngành công nghiệp khai thác và sản
xuất, nhưng bên cạnh đó một số ngành khác cũng có tỷ lệ sáp nhập cao.
BẢNG 2.1 Làn sóng đầu tiên, 1897-1904 Năm Số thương vụ sáp nhập 1897 69 1898 303 1899 1,208 1900 340 1901 423 1902 379 1903 142 1904 79
Nguồn: Môi giới và định giá doanh nghiệp Merrill Lynch, Tạp chí Mergerstat, năm 1989.
Theo nghiên cứu của Cục Nghiên cứu Kinh tế Quốc gia của Giáo sư Ralph Nelson, có
tám ngành là kim loại thô, thực phẩm, dầu mỏ, hóa chất, thiết bị vận tải, chế tạo kim loại,
công nghiệp máy móc và khai thác than bitum, là những ngành xảy ra hoạt động sáp nhập
nhiều nhất. Các ngành này chiếm khoảng 2/3 tổng số vụ sáp nhập trong thời đoạn này. Các
thương vụ sáp nhập trong làn sóng đầu tiên chủ yếu là các sáp nhập theo chiều ngang (Bảng 2.2).
BẢNG 2.2 Phân loại sáp nhập, 1895-1904 Phân loại sáp nhập Tỷ lệ phần trăm (%) Chiều ngang 78.3 Chiều dọc 12 Hỗn hợp 9.7 Tổng 100
Nguồn: Neil Fligstein, The Transformation of Corporate Control (Cambridge, MA:
Harvard University Press, 1990), 72.
Nhiều thương vụ sáp nhập theo chiều ngang và hợp nhất ngành xảy ra trong giai đoạn
này đã dẫn đến cấu trúc thị trường gần như độc quyền. Vì
lý do này, thời kỳ sáp nhập này
được biết đến với vai trò tạo ra sự độc quyền lớn.
Giai đoạn này cũng gắn liền với thương vụ siêu sáp nhập tỷ đô đầu tiên của U.S. Steel
được thành lập bởi J.P.Morgan. Ông đã kết hợp công ty Carnegie Steel, do Andrew Carnegie
thành lập và được điều hành bởi Carnegie và Henry Clay Frick, với công ty Federal Steel, do
Morgan kiểm soát. Hơn thế nữa, Morgan cũng đã thâu tóm thêm các công ty thép khác,
chẳng hạn như American Tinplate, American Steel Hoop, American Steel Sheet, American
Bridge, American Steel and Wire, International Mercantile Marine, National Steel, National
Tube, và Shelby Steel Tube. Các công ty này được sáp nhập dưới sự bảo trợ của tập đoàn U.S
Steel - tập đoàn kiểm soát một nửa ngành công nghiệp thép của Mỹ. Kết quả là gã khổng lồ
thép đã sáp nhập 785 cơ sở sản xuất thép riêng biệt. Có thời điểm, U.S. Steel chiếm tới 75%
công suất sản xuất thép của Mỹ.
Ngoài U.S. Steel, một số “gã khổng lồ” công nghiệp ngày nay cũng được hình thành
trong làn sóng sáp nhập này, như: DuPont, Standard Oil, General Electric, Eastman Kodak,
American Tobacco (Sáp nhập với Brown và Williamson vào năm 1994, sau đó hợp nhất với
RJ Reynolds vào năm 2004), và Navistar International (Trước đây là International Harvester
nhưng đã trở thành Navistar vào năm 1986 khi công ty bán đi phần kinh doanh nông nghiệp
của nó). Ngày nay các công ty này là những tập đoàn có thị phần lớn, và trong cuối làn sóng
sáp nhập đầu tiên một số công ty đã thực sự thống trị toàn bộ thị trường. Ví dụ, U.S.Steel
không phải là tập đoàn duy nhất thống trị thị trường của mình. American Tobacco chiếm 90%
thị phần, và Standard Oil do J.D.Rockefeller sở hữu chiếm 85% thị phần. Trong phong trào
sáp nhập đầu tiên, có 300 công ty hợp nhất lớn bao trùm nhiều lĩnh vực công nghiệp và đã
kiểm soát 40% vốn sản xuất của cả quốc gia. Nelson ước tính có hơn 3000 công ty đã biến
mất trong thời kỳ này do kết quả của các thương vụ sáp nhập.
Đến năm 1909, 100 tập đoàn công nghiệp lớn nhất đã kiểm soát gần 18% tài sản của
tất cả các tập đoàn công nghiệp. Ngay cả khi Đạo luật chống độc quyền Sherman (1890) cũng
không thể cản được sự độc quyền gay gắt này. Bộ Tư pháp là cơ quan chịu trách nhiệm phần
lớn về việc các tác động của Đạo luật Sherman bị hạn chế. Bởi vì trong giai đoạn sáp nhập
cao trào nhất vào những năm 1900, Bộ Tư pháp – cơ quan chịu trách nhiệm thực thi Đạo luật
Sherman, lại thiếu nhân lực và không thể theo đuổi một cách tích cực việc thực thi chống độc
quyền. Các hoạt của Bộ Tư pháp lúc này đang hướng đến các liên đoàn lao động nhiều hơn.
Do đó, tốc độ sáp nhập theo chiều ngang và hợp nhất ngành tiếp tục tăng cao mà cũng không
có bất kỳ hạn chế nào từ Đạo luật chống độc quyền.
Vào cuối làn sóng sáp nhập đầu tiên, mức độ tập trung đã tăng lên rõ rệt trong ngành
công nghiệp Mỹ. Số lượng các công ty ở một số ngành, chẳng hạn như ngành thép, giảm
đáng kể và thậm chí một số ngành chỉ còn một công ty tồn tại. Thật trớ trêu là các ngành
công nghiệp độc quyền vẫn được hình thành sau khi Đạo luật Sherman được thông qua. Tuy
nhiên, ngoài việc Bộ tư pháp thiếu thốn nguồn nhân lực, thì các toà án ban đầu cũng không
sẵn lòng thông qua các điều khoản chống độc quyền của Đạo luật. Ví dụ, vào năm 1985, Tòa
án Tối cao Mỹ đã phán quyết rằng Công ty American Sugar Refining không phải là công ty
độc quyền và không bị hạn chế thương mại. Họ không quan tâm đến việc Sugar Trust đã
kiểm soát 98% năng suất đường tinh luyện ở Mỹ. Với phán quyết “đầy ưu ái” này đã bật đèn
xanh cho các công ty như DuPont, Eastman Kodak, General Electric, International Harvester,
Standard Oil, và U.S. Steel tham gia vào hoạt động sáp nhập và mua lại mà không cần lo ngại
về sự can thiệp của pháp luật. Ban đầu các Toà án coi trọng tâm của Đạo luật Sherman là việc
quản lý các quỹ uỷ thác của cổ đông, trong đó các nhà đầu tư sẽ đầu tư tiền vào một công ty
và uỷ thác chứng chỉ cổ phiếu của họ cho các giám đốc - những người sẽ đảm bảo rằng họ
nhận được cổ tức cho “chứng chỉ quỹ uỷ thác” của mình.
Với sự tập trung sai lầm vào quỹ uỷ thác, đạo luật này đã không được áp dụng để cản
trở sự hình thành các công ty độc quyền trong một số ngành ở làn sóng sáp nhập đầu tiên.
Các quỹ uỷ thác được thành lập bởi các nhà lãnh đạo của các doanh nghiệp đứng đầu, chẳng
hạn như J. P. Morgan của House of Morgan và John D. Rockefeller của Standard Oil và
National City Bank, như một phản ứng trước kết quả hoạt động kém cỏi của nhiều doanh
nghiệp trong nước khi họ phải vật lộn với khủng hoảng tài chính trong một môi trường kinh
tế yếu kém. Họ coi cấu trúc của nhiều ngành, trong đó có nhiều công ty nhỏ và hoạt động
kém hiệu quả là một phần dẫn đến kết quả kém hiệu quả này. Họ tổ chức lại các công ty phá
sản trong nhiều ngành khác nhau bằng cách buộc các cổ đông trao đổi vốn cổ phần của mình
ở các công ty đang gặp khó khăn để lấy chứng chỉ ủy thác trong một công ty cổ phần sẽ kiểm
soát công ty đang được đề cập cũng như nhiều đối thủ cạnh tranh khác. Với sự kiểm soát như
vậy, J. P. Morgan đã có thể kiềm chế sự cạnh tranh gay gắt mà ông cho rằng đã khiến các
công ty trong nhiều ngành trở nên yếu thế. Khi làm như vậy, ông ấy đã có thể mang lại niềm
tin cho các nhà đầu tư vào sự an toàn mà công ty của ông và những người khác đang rao bán
cổ phiếu. Trọng tâm ban đầu của ông là ngành đường sắt - một ngành chiếm phần lớn cổ
phiếu được giao dịch trên thị trường chứng khoán New York lúc bấy giờ. Là một ngành có
nhu cầu vốn lớn, các công ty đường sắt đã tích cực rao bán cổ phiếu và trái phiếu thông qua
các chủ ngân hàng đầu tư trên khắp Mỹ và Châu Âu. Tuy nhiên, các công ty đường sắt lại có
xu hướng cạnh tranh gay gắt về giá cước, tìm cách đẩy nhau đến bờ vực phá sản. Morgan
ghét sự cạnh tranh không kiềm chế như vậy và tìm cách tổ chức lại ngành này, và cuối cùng
mở rộng sang các ngành khác, sử dụng quỹ uỷ thác của công ty nắm giữ để loại bỏ các nhà
quản lý cạnh tranh hung hăng và thay thế họ bằng những người sẽ chủ trì thị trường trật tự
hơn. Morgan cho rằng người tiêu dùng sẽ không bị ảnh hưởng bởi sự hợp nhất này vì mục
tiêu trọng tâm của ông là các nhà đầu tư muốn kiếm lợi.
Các quỹ uỷ thác phát triển và thống trị nhiều ngành công nghiệp. Trong số đó có
American Cottonseed Oil Trust và National Lead Trust – những công ty thống trị ngành công
nghiệp của họ. Ngược lại, Ngân hàng Morgan kiểm soát First National Bank, National Bank
of Commerce, First National Bank of Chicago, Liberty National Bank, Chase National Bank,
Hanover National Bank và Astor National Bank.
Ngoài việc thực thi lỏng lẻo luật chống độc quyền của Liên bang, còn các lý do pháp
lý khác có thể giải thích tại sao làn sóng sáp nhập đầu tiên lại phát triển mạnh đến vậy. Ví dụ,
ở một số bang, luật doanh nghiệp dần dần được nới lỏng. Đặc biệt, các tập đoàn dần có khả
năng đảm bảo vốn, nắm giữ cổ phần tại các tập đoàn khác và mở rộng ngành nghề kinh
doanh, từ đó tạo ra môi trường màu mŒ cho các doanh nghiệp có ý định thực hiện sáp nhập.
Khả năng tiếp cận vốn nhiều hơn giúp các công ty dễ dàng huy động nguồn tài chính cần thiết
để thực hiện việc mua lại và sự nới lỏng các quy tắc kiểm soát việc nắm giữ cổ phần của các
tập đoàn, cho phép các công ty mua lại nhau bằng cách mua cổ phần của các công ty công ty đó.
Không phải tất cả các tiểu bang tự do hóa luật doanh nghiệp. Chính vì thế, có sự
chênh lệch về tốc độ sáp nhập và mua lại giữa các bang với nhau. Bang New Jersey, việc
thông qua Đạo luật Công ty Cổ phần New Jersey năm 1888 đã giúp tự do hóa luật doanh
nghiệp của bang, giúp bang trở nên dẫn đầu về số thương vụ sáp nhập và mua lại, tiếp đến là
các bang như New York và Delaware. Luật cho phép hình thành các quỹ uỷ thác của công ty
nắm giữ và Bang New Jersey trở thành thánh địa cho hình thức công ty này. Đạo luật này đã
gây áp lực buộc các bang khác phải ban hành luật tương tự thay vì chứng kiến các công ty
chuyển sang tái hợp nhất ở New Jersey. Tuy nhiên, nhiều công ty đã chọn sáp nhập ở New
Jersey, điều này giải thích cho việc có rất nhiều công ty ở New Jersey tham gia vào làn sóng
sáp nhập đầu tiên. Xu hướng này đã giảm đáng kể vào năm 1915, từ khi có ít khác biệt trong luật doanh giữa các bang.
Sự phát triển của hệ thống giao thông vận tải Mỹ là một trong những yếu tố chính
khởi đầu làn sóng sáp nhập đầu tiên. Sau Nội chiến, việc thiết lập một hệ thống đường sắt lớn
đã giúp các doanh nghiệp có thể tiếp cận được thị trường quốc gia chứ không phải chỉ là thị
trường khu vực. Các tuyến đường sắt xuyên lục địa, chẳng hạn như Liên minh Thái Bình
Dương–Trung Thái Bình Dương, được hoàn thành vào năm 1869, nối liền miền tây Hoa Kỳ
với phần còn lại của đất nước. Nhiều công ty không còn coi tiềm năng thị trường là bị giới
hạn bởi các ranh giới thị trường được xác định hẹp, vì thế họ đã tận dụng cơ hội mở rộng để
có được lợi thế của một thị trường rộng lớn hơn. Các công ty hiện đang phải đối mặt với sự
cạnh tranh từ các đối thủ ở xa đã chọn sáp nhập với các đối thủ cạnh tranh ở địa phương để
duy trì thị phần của họ. Những thay đổi trong hệ thống giao thông quốc gia khiến việc cung
cấp cho các thị trường xa trở nên dễ dàng hơn và ít tốn kém hơn. Chi phí vận tải hàng hóa
đường sắt giảm với tốc độ trung bình 3,7% mỗi năm từ năm 1882 đến năm 1900. Vào đầu
những năm 1900, chi phí vận tải tăng rất ít mặc dù nhu cầu về dịch vụ vận tải tăng lên. Một
lưu ý thú vị rằng khả năng vận chuyển hàng hóa hiệu quả của các tuyến đường sắt Mỹ trong
nền kinh tế toàn cầu đã gây ấn tượng mạnh với Warren Buffett, đến nỗi vào năm 2009, ông
đã đấu giá 26,3 tỷ đô la tiền mặt và cổ phiếu cho phần còn lại của tuyến đường sắt phía Bắc
Burlington mà ông đã đấu thầu, chưa sở hữu. Burlington Northern thực sự là sản phẩm của
390 thương vụ mua lại và sáp nhập đường sắt khác nhau trong giai đoạn 1850–2000.
Một số thay đổi trong cơ cấu khác đã giúp các doanh nghiệp phục vụ thị trường quốc
gia tốt hơn. Ví dụ, việc phát minh ra máy sản xuất thuốc lá theo quy trình sản xuất liên tục
Bonsack, điều này đã cho phép Công ty Thuốc lá Mỹ cung cấp cho thị trường thuốc lá quốc
gia một số lượng tương đối nhỏ máy móc sản xuất thuốc lá. Khi các công ty mở rộng, họ chú
trọng khai thác lợi thế kinh tế theo quy mô trong sản xuất và phân phối. Ví dụ: Chỉ với ba nhà
máy lọc dầu, Standard Oil Trust đã có thể nắm giữ 40% sản lượng dầu của thế giới, do máy
lọc dầu của họ đã loại bỏ những thực vật không cần thiết, do đó đạt được hiệu quả cao hơn.
Tượng tự, trong thời gian này, nhiều ngành sản xuất khác của nền kinh tế Mỹ cũng dần được
mở rộng nhằm theo đuổi lợi thế quy mô. Các công ty và các nhà quản trị bắt đầu nghiên cứu
quy trình sản xuất với nỗ lực nâng cao khả năng nắm giữ quy trình sản xuất hàng loạt. Việc
mở rộng quy mô kinh doanh cũng đòi hỏi kỹ năng quản lý cao hơn và dẫn đến việc chuyên
môn hóa trong các công tác quản lý.
Như đã đề cập, làn sóng sáp nhập đầu tiên xảy ra vào năm 1897, tuy nhiên “cu7c
chi8n ti8p quản lớn đ;u ti“cu7c chi8n ti8p quản” được sử dụng ngày nay nhằm mô tả những xung đột gay gắt giữa các
công ty trong việc nắm quyền kiểm soát, nhưng thuật ngữ này từng có thể được áp dụng đúng
nghĩa hơn cho các xung đột xảy ra trong những vụ sáp nhập xảy ra trong làn đầu đợt sóng.
Một cuộc chiến nắm quyền kiểm soát có thể kể đến là nỗ lực giành quyền kiểm soát Đường
sắt Erie vào năm 1868. Đây là cuộc cạnh tranh giữa Cornelius Vanderbilt với Daniel Drew,
Jim Fisk và Jay Gould. Đường sắt Erie lúc đó đã tự bảo vệ mình, chống lại việc tiếp quản
bằng cách phát hành một lượng lớn hàng tồn kho trong chiến dịch được gọi là “chiến dịch
tiếp quản cổ phiếu”, mặc dù họ không được phép làm như vậy. Vào thời điểm đó, do việc hối
lộ các thẩm phán và quan chức khá phổ biến nên mức xử phạt dành cho việc vi phạm luật
doanh nghiệp không quá nặng. Dẫn đến việc cuộc chiến giành quyền kiểm soát đường sắt
Eire diễn ra ngày càng gay gắt khi tập đoàn sở hữu Đường sắt Erie phải thuê vệ sĩ được trang
bị súng và đại bác, để bảo vệ trụ sở của mình. Cuộc chiến tiếp quản chỉ thực sự kết thúc khi
Vanderbilt từ bỏ các cuộc tấn công vào Đường sắt Erie và chuyển sự chú ý sang các mục tiêu yếu hơn.
Vào cuối thế kỷ 19, do những cuộc tranh giành quyền kiểm soát như vậy, công chúng
ngày càng lo ngại về các hoạt động kinh doanh phi đạo đức. Luật doanh nghiệp không có
nhiều hiệu hiệu lực trong những năm 1890. Để đối phó với nhiều cuộc biểu tình chống đường
sắt, Quốc hội đã thành lập Ủy ban Thương mại Liên bang vào năm 1897. Chính quyền
Harrison, Cleveland và McKinley (1889–1901) đều rất ủng hộ doanh nghiệp và đưa những
người ủng hộ đường sắt bầu vào ủy ban để điều tiết tình hình. Mãi cho đến khi luật chống độc
quyền được thông qua vào cuối những năm 1800 và đầu những năm 1900, và luật chứng
khoán cứng rắn hơn sau cuộc Đại khủng hoảng, hệ thống luật pháp mới đạt được sức mạnh
cần thiết để ngăn chặn các chiến thuật nắm giữ quyền kiểm soát phi đạo đức.
Thiếu các hạn chế pháp lý đầy đủ, cộng đồng ngân hàng và doanh nghiệp đã áp dụng
quy tắc ứng xử đạo đức tự nguyện của riêng mình. Quy tắc này được thực thi bởi một thỏa
thuận bất thành văn giữa các chủ ngân hàng đầu tư, những người đồng ý chỉ kinh doanh với
các công ty tuân thủ các tiêu chuẩn đạo đức cao hơn của họ. Vương quốc Anh ngày nay dựa
vào một bộ quy tắc tự nguyện như vậy. Mặc dù các tiêu chuẩn không chính thức này không
loại trừ tất cả các hoạt động không phù hợp trong quá trình theo đuổi việc tiếp quản, nhưng
chúng đã tạo tiền đề cho hành vi hợp lý trong làn sóng tiếp quản đầu tiên.
Ảnh hưởng của các yếu tố tài chính nhiều hơn các hạn chế pháp lý đã dập tắt làn sóng
sáp nhập đầu tiên. Đầu tiên, sự sụp đổ của quỹ tín thác đóng tàu vào đầu những năm 1900 đã
dẫn đến nguy cơ gian lận tài chính. Thứ hai, và quan trọng nhất, sự sụp đổ của thị trường
chứng khoán năm 1904, sau đó là Cuộc khủng hoảng ngân hàng năm 1907, đã đóng cửa
nhiều ngân hàng của quốc gia và cuối cùng mở đường cho sự hình thành của Hệ thống Dự trữ
Liên bang. Do thị trường chứng khoán suy giảm và hệ thống ngân hàng yếu kém, các yếu tố
tài chính cơ bản để thúc đẩy hoạt động thâu tóm đã không còn. Nếu không có những điều
này, thời kỳ nắm quyền kiểm soát vĩ đại đầu tiên đã kết thúc. Một số nhà sử học kinh tế đã
giải thích nhiều sự kết hợp theo chiều ngang diễn ra trong làn sóng đầu tiên là một nỗ lực để
đạt được lợi thế kinh tế theo quy mô. Thông qua các hoạt động sáp nhập và mua lại, các công
ty đang mở rộng đã tìm cách tăng hiệu quả bằng cách giảm chi phí trên mỗi đơn vị. Thực tế là
phần lớn các vụ sáp nhập này không thành công có nghĩa là các công ty này đã không thành
công trong việc theo đuổi mục tiêu nâng cao hiệu quả. Dưới thời Tổng thống Theodore
Roosevelt, người nắm quyền điều hành từ năm 1901 đến năm 1909, môi trường chống độc
quyền ngày càng nghiêm ngặt hơn. Mặc dù không đóng một vai trò quan trọng nào trong việc
kết thúc làn sóng đầu tiên, Roosevelt - người được biết đến với biệt danh người chống độc
quyền, vẫn tiếp tục cố gắng gây áp lực lên các hoạt động chống cạnh tranh.
Ban đầu chính phủ không thành công trong các vụ kiện chống độc quyền, nhưng đến
cuối nhiệm kỳ của Roosevelt, chính phủ bắt đầu đạt được nhiều thành công hơn trong các
phòng xử án. Quyết định mang tính bước ngoặt của Tòa án Tối cao trong vụ án Chứng khoán
Phương Bắc năm 1904 là một ví dụ về thành công lớn hơn của chính phủ trong việc thực hiện
các hành động chống độc quyền. Mặc dù Tổng thống Roosevelt nổi tiếng là người phá vŒ
một số quỹ tín thác, nhưng chính người kế nhiệm của ông, William Howard Taft, mới là
người đã thành công trong việc phá bỏ một số ủy thác lớn. Thật là trớ trêu khi nhiều công ty
được thành lập trong thời kỳ sự sụp đổ của các quỹ tín thác lớn lại trở thành những doanh
nghiệp rất lớn. Ví dụ, Standard Oil được chia thành các công ty như Standard Oil of New
Jersey, sau này trở thành Exxon; Standard Oil của New York, trở thành Mobil và sáp nhập
với Exxon vào năm 1998; Standard Oil of California, đã đổi tên thành Chevron và mua lại
Gulf Oil vào năm 1985, Texaco vào năm 2001 và Unocal vào năm 2005; và Standard Oil of
Indiana, trở thành Amoco, và được BP mua lại vào năm 1998. Sự hợp nhất giữa một số phần
của Standard Oil cũ phản ánh sự tàn phá một phần của sự tan rã này vì thị trường xăng dầu đã
mở rộng ra toàn cầu và những hậu duệ của Công ty J.D. Rockefeller cũ hiện phải đối mặt với
nhiều cạnh tranh quốc tế.