Tổng quan Ngành Năng Lượng Tái Tạo tại Việt
Nam, Đông Nam Á và Châu Á
Bảng Tóm Tắt Nhanh
Chỉ tiêu
(2022) Việt Nam Đông Nam Á (ASEAN) Châu Á
Công
suất
điện tái
tạo (bao
gồm
thủy
điện)
~44,5 GW (điện gió + mặt trời
~21,7 GW; thủy điện ~22,9
GW) . Quy mô hệ thống
điện đứng đầu ASEAN .
~33,8 GW điện mặt trời +
gió (2022) ; thủy điện
~50 GW (ước tính). Tổng
công suất NLTT ~84 GW
(ước tính, 10 nước
ASEAN).
~1.961 GW (cuối 2023,
chiếm hơn 50% công suất
NLTT toàn cầu) , dẫn đầu
là Trung Quốc và Ấn Độ.
Sản
lượng
điện tái
tạo
(hàng
năm)
~130 tỷ kWh (2022, bao gồm
thủy điện, ~48% tổng sản
lượng điện) ; nếu chỉ tính
điện gió+mặt trời+sinh khối
~34,8 tỷ kWh (13% tổng sản
lượng) .
~55 tỷ kWh điện gió+mặt
trời (2022, ước tính) –
Việt Nam đóng góp 69%
trong số này . Nhiều
nước ASEAN có tỷ trọng
NLTT thấp, trừ thủy điện
(Lào, Myanmar).
Hơn 1.000 tỷ kWh từ NLTT
(ước tính; Trung Quốc ~930
tỷ kWh từ gió & mặt trời
năm 2022). Châu Á chiếm tỉ
trọng lớn nhờ các thị trường
Trung Quốc, Ấn Độ phát
triển mạnh.
Tỷ
trọng
NLTT
trong cơ
cấu điện
~48% (bao gồm thủy điện lớn)
; ~13% nếu chỉ tính
gió+mặt trời . Thủy điện
vẫn chiếm tỷ trọng lớn (35%
năm 2022) .
~14% (tỷ trọng điện
gió+mặt trời trung bình
ASEAN) – Việt Nam cao
nhất 13%, tiếp theo là
Campuchia, Thái Lan...
. Nếu tính cả thủy
điện, một số nước (Lào,
Bhutan*) vượt 50%.
~30% (tỷ trọng điện tái tạo
trong phát điện châu Á
2022, kể cả thủy điện – chủ
yếu nhờ Trung Quốc ~29%
và Ấn Độ ~20% ). Xu
hướng tăng nhanh khi
nhiều nước cam kết Net
Zero.
Tăng
trưởng
NLTT
Bùng nổ 2018-2021 do giá FIT
ưu đãi (công suất điện mặt
trời tăng từ <1 GW lên ~16,5
GW, điện gió từ vài trăm MW
lên ~4 GW) . Tốc độ tăng
sản lượng gió + mặt trời ~67%
năm 2021, chậm lại ~15% năm
2022 sau khi hết FIT .
Tăng trung bình ~43%/
năm về sản lượng điện
gió+mặt trời giai đoạn
2015-2022 , nhưng có
dấu hiệu chậm lại. ASEAN
vẫn còn 99% tiềm năng
gió & mặt trời chưa khai
thác .
Dẫn đầu toàn cầu về tăng
trưởng công suất (2023:
châu Á chiếm 69% bổ sung
NLTT mới toàn cầu) , chủ
yếu nhờ Trung Quốc (+298
GW năm 2023) . Nhiều
nước châu Á đang tăng tốc
đầu tư NLTT để đạt mục
tiêu 2030.
1
2
3
4
5
5
6
5
757
7
8
9
10
11
4
12
1
Chỉ tiêu
(2022) Việt Nam Đông Nam Á (ASEAN) Châu Á
Doanh
nghiệp
tiêu
biểu
Trong nước: EVN (độc quyền
truyền tải & mua điện); Các
tập đoàn tư nhân: Trung Nam
Group (dẫn đầu với dự án mặt
trời 450MW lớn nhất ĐNÁ
và đầu tư cả trạm 500kV tư
nhân đầu tiên ), Tập đoàn
TTC (mía đường – sinh khối &
mặt trời), BIM Group, Tập
đoàn BCG Energy, Xuân Thiện,
Vũ Phong (EPC và phát triển
điện mặt trời mái). Nhà đầu
tư quốc tế: ACEN
(Philippines), B.Grimm (Thái),
Super Energy (Thái), liên
doanh Orsted-T&T (điện gió
ngoài khơi), v.v.
B.Grimm Group (Thái Lan
– tiên phong điện mặt
trời, điện khí)
;Sindicatum
(Singapore – phát triển
NLTT vùng) ;San
Miguel Corp (Philippines
– đa ngành, mở rộng
sang NLTT)
;JinkoSolar, Trina
Solar (Trung Quốc – cung
cấp pin NLMT hàng đầu
khu vực) ;AC
Energy (Ayala,
Philippines – mở rộng
đầu tư khắp ĐNÁ);Gulf/
EGCO (Thái Lan);TNB
(Malaysia), PLN
(Indonesia) đang chuyển
dịch sang NLTT.
Các tập đoàn năng lượng
hàng đầu thế giới tập trung
tại châu Á: Trung Quốc:
Nhà phát triển lớn như
State Power Investment
Corp, China Three Gorges
(thủy điện & điện gió),
Goldwind (SX tua-bin gió).
Ấn Độ: Adani Green, Tata
Power Renewable, ReNew
Power. Nhật Bản/Hàn
Quốc: SoftBank Energy
(trước đây), ORIX, Hanwha...
Đa số các công ty dầu khí
quốc gia (PetroVietnam,
Petronas, Pertamina,
Sinopec) cũng lập chiến
lược đầu tư NLTT.
Chính
sách &
Hạ tầng
Giá FIT hào phóng giai đoạn
2017-2020 (Mặt trời: 9,35 USc/
kWh; Gió: 8,5-9,8 USc/kWh)
thúc đẩy bùng nổ dự án .
FIT kết thúc gây khoảng trống
chính sách 2021-2023; hiện
chuyển sang đấu thầu giá trần
. Lưới điện quá tải cục
bộ (đặc biệt ở miền Trung) dẫn
đến cắt giảm 30-60% công
suất nhiều dự án . EVN đẩy
mạnh đầu tư lưới truyền tải và
thí điểm lưu trữ (dự án pin
50MW với ADB) để hấp thụ
NLTT. Chính phủ đã phê duyệt
Quy hoạch ĐiệnVIII (2023) ưu
tiên NLTT & lưới thông minh,
cho phép cơ chế mua bán điện
trực tiếp (DPPA) thí điểm .
Hầu hết các nước ASEAN
ban hành cơ chế khuyến
khích NLTT: Thái Lan có
FIT cho điện sinh khối,
điện rác; Malaysia,
Philippines tổ chức đấu
thầu và thuế quan xanh;
Indonesia đặt mục tiêu
NLTT nhưng vướng độc
quyền PLN; Singapore
mua điện xanh từ nước
láng giềng. Hạ tầng
truyền tải ASEAN yếu kết
nối liên quốc gia, cần đầu
tư ~$30 tỷ/năm đến 2035
. Một số sáng
kiến như ASEAN Power
Grid đang được đề xuất.
Trung Quốc đầu tư mạnh
lưới điện siêu cao áp để tích
hợp năng lượng mặt trời &
gió quy mô lớn. Ấn Độ có
chính sách đấu thầu lớn
(Solar Parks, gói 175GW RE
năm 2022). Nhật Bản, Hàn
Quốc trợ giá cho thuỷ điện
và off-shore wind. Xu hướng
chung là cải tổ thị trường
điện, tạo thuận lợi cho tư
nhân và đầu tư vào lưu trữ
năng lượng (TQ đã có
>4GW pin lưu trữ).
13
14
15
16
17
18 19
20
21 22
23
24
25 26
2
Chỉ tiêu
(2022) Việt Nam Đông Nam Á (ASEAN) Châu Á
Mục
tiêu và
dự báo
(2030)
Tổng công suất NLTT (kể cả
thủy điện) ~121GW (theo
QHĐVIIIđiều chỉnh) – chiếm
khoảng 2/3 công suất điện cả
nước . Trong đó: điện
gió 26-38GW trên bờ + ~6GW
ngoài khơi , điện mặt trời
46-73GW , sinh khối + rác
~3-5GW , thủy điện
~33GW , lưu trữ (pin)
10-16GW . Dự báo NLTT
(không kể thủy điện lớn) có
thể chiếm ~30% điện thương
phẩm năm 2030 .
ASEAN dự kiến đạt ~35%
điện năng từ NLTT vào
2035 , với tốc độ đầu
tư cần tăng gấp 5 lần
hiện tại để đạt mục tiêu
Paris . Nhiều quốc gia
Đông Nam Á cập nhật
mục tiêu 2030 sau
COP26/COP28, ví dụ: Thái
Lan hướng tới 50% công
suất lắp mới là NLTT;
Indonesia đặt mục tiêu
23% năng lượng sơ cấp
từ NLTT. Xu hướng phát
triển điện gió ngoài khơi
(Việt Nam, Philippines) và
nhập khẩu điện xanh
(Singapore mua từ Lào,
Indonesia).
Toàn cầu cần tăng gấp ~3,4
lần công suất NLTT lên
~11,5 TW năm 2030 để giữ
nhiệt độ <1,5°C – phần
lớn phụ thuộc vào Châu Á.
Trung Quốc cam kết
1.200GW gió+mặt trời năm
2030; Ấn Độ ~500GW. Nhật
Bản, Hàn Quốc hướng đến
trung hòa carbon 2050,
đang đẩy mạnh điện gió
ngoài khơi và hydro xanh.
Châu Á sẽ tiếp tục là động
lực chính, nhưng cũng đối
mặt thách thức về huy động
vốn và cải cách thị trường
để thu hút đầu tư quốc tế.
Chú thích: Bhutan không thuộc ASEAN nhưng có tỉ trọng thủy điện cao (>70%) – ví dụ điển hình của quốc gia châu
Á xuất khẩu điện tái tạo.
Giới thiệu
Năng lượng tái tạo (NLTT) đã trở thành xu hướng chủ đạo trong phát triển điện lực tại Việt Nam cũng như
trên phạm vi khu vực Đông Nam Á châu Á. Việt Nam nổi lên như một điểm sáng về bùng nổ điện mặt
trời điện gió trong vài năm gần đây, góp phần đưa Đông Nam Á vào bản đồ năng lượng sạch của thế
giới . Sự chuyển dịch này diễn ra trong bối cảnh các quốc gia cam kết mạnh mẽ về giảm phát thải khí
nhà kính (Net Zero vào 2050 với Việt Nam) nhu cầu năng lượng tăng cao phải được đáp ứng một cách
bền vững. Báo cáo này cung cấp cái nhìn chuyên sâu về ngành năng lượng tái tạo tại Việt Nam, so sánh với
bối cảnh Đông Nam Á châu Á, bao gồm: các , các , hệcông ty tiêu biểu phân mảng công nghệ chính
thống , các cập nhật, và về triển vọnghạ tầng & chính sách hỗ trợ số liệu thống kê nhận định chuyên gia
đến 2030.
1. Các Công Ty Tiêu Biểu Trong Ngành
Nhiều doanh nghiệp đã đang đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển năng lượng tái tạo
Việt Nam và khu vực. Dưới đây là các công ty và nhà đầu tư tiêu biểu:
Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN): Doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò độc quyền truyền tải
mua điện. EVN sở hữu phần lớn các nhà máy điều hành hệ thống điện quốc gia.thủy điện lớn
Quy hệ thống điện Việt Nam đã vươn lên (80,6 GW năm 2023)đứng đầu ASEAN về công suất
, trong đó EVN các công ty thành viên quản khoảng 42% công suất (phần còn lại thuộc
27 28
29
30
31
32
33
34
35
36
37
6 10
1
3
tích hợp tỷ lệ NLTT ngày càng cao.
Trung Nam Group: Tập đoàn nhân tiên phong, nổi bật với dự án Điện mặt trời Trung Nam
Thuận Nam 450MW trang trại điện mặt trời lớn nhất Đông Nam Á khi khánh thành năm 2020 .
Trung Nam đã đầu tư ~603 triệu USD (bao gồm 517 triệu cho nhà máy và 86 triệu cho hạ tầng truyền
tải 500kV) cho dự án này . Doanh nghiệp còn phát triển nhiều nhà máy (Trung Namđiện gió
Đông Nam Bộ 204MW, Trung Nam Đắk Lắk 400MW, v.v.) đang xây dựng .thủy điện tích năng
Trung Nam cũng công ty nhân đầu tiên tự xây dựng trạm biến áp 500kV đường dây
220/500kV để giải tỏa công suất NLTT, góp phần giảm nghẽn lưới cho khu vực Ninh Thuận Bình
Thuận .
TTC Group (Thành Thành Công): Tập đoàn đa ngành của Việt Nam, xuất phát từ lĩnh vực mía đường
và tiên phong trong (đốt bã mía phát điện). TTC sở hữu nhiều nhà máy điện sinh khốiđiện sinh khối
gắn với các nhà máy đường, đồng thời đầu sang (như trang trại điệnđiện mặt trời quy lớn
mặt trời TTC Phong Điền 48MW năm 2018...). TTC được xếp trong nhóm những nhà phát triển NLTT
hàng đầu khu vực .
BIM Group: Doanh nghiệp nhân lớn khác, đã hợp tác với AC Energy (thuộc Tập đoàn Ayala,
Philippines) triển khai cụm hơn 300MW tại Ninh Thuận (BIM 1, 2, 3) và đang mở rộngđiện mặt trời
sang điện gió, điện mặt trời nổi.
Bamboo Capital (BCG Energy): Công ty năng lượng thuộc tập đoàn BCG, nổi lên nhanh với danh
mục nhiều dự án điện mặt trời trang trại và áp mái trên khắp Việt Nam (hơn 500MW), đồng thời đầu
tư điện gió (Trang trại Phù Mỹ 330MW ở Bình Định).
Xuân Thiện Group: điện mặt trời Xuân Thiện Ea Súp Nhà đầu nhân đã xây dựng cụm (Đắk
Lắk) với tổng công suất lên tới 600MW, nằm trong số các dự án lớn nhất cả nước. Xuân Thiện cũng
có kế hoạch về điện gió và thủy điện nhỏ.
PetroVietnam (PVN): Tập đoàn Dầu khí quốc gia đang định hướng mở rộng sang điện gió ngoài
khơi. PVN đã được cấp phép khảo sát tiềm năng gió ngoài khơi liên danh với một số đối tác (vd:
Orsted của Đan Mạch cùng T&T) chuẩn bị các dự án lớn ngoài khơi Bình Thuận, Bến Tre . PVN coi
điện gió biển là lĩnh vực “tiên phong” để giữ vững vai trò trụ cột năng lượng quốc gia trong tương lai
.
Phong Energy Group: điện mặt Doanh nghiệp nhân nội địa, thành lập năm 2009, chuyên về
trời áp mái giải pháp EPC/O&M. Vũ Phong đã thực hiện >100 dự án điện mặt trời trang trại và áp
mái, hiện tập trung vào mô hình . Công ty này tiênđiện mặt trời tự dùng cho doanh nghiệp
phong hợp tác theo hình thức PPAnhân: đầu tư hệ thống điện mặt trời mái nhà cho các nhà máy,
bán điện trực tiếp cho khách với giá cạnh tranh EVN .
Nhà đầu quốc tế tại Việt Nam: AC Energy Làn sóng NLTT thu hút nhiều nhà đầu ngoại.
(ACEN) từ Philippines đã liên doanh với BIM Group UPC Renewables triển khai các dự án lớn
(ACEN nắm danh mục ~1 GW tại Việt Nam). B.Grimm (tập đoàn năng lượng Thái Lan) đầu tư các nhà
máy mặt trời ở Tây Ninh, Phú Yên. (Thái Lan) sở hữu danh mục ~1 GW điện mặt trời vàSuper Energy
gió gần bờ sau nhiều thương vụ M&A. Các công ty châu Âu như biênEDPR, Mainstream, Orsted
13
13
14
38
39
40
41 42
43 44
4
bản ghi nhớ phát triển điện gió ngoài khơi với đối tác Việt Nam. Nhật Bản Hàn Quốc cũng tham
gia qua doanh nghiệp nhân như để đầu hoặc cung cấpJAICA, KEXIM Hanwha, Sumitomo
công nghệ.
Tại Đông Nam Á: Thị trường khu vực có sự góp mặt của cả tập đoàn bản địa lẫn quốc tế:
Thái Lan: B.Grimm Power – doanh nghiệp tư nhân lâu đời, đã phát triển hàng loạt dự án NLTT (mặt
trời, gió, sinh khối) tại Thái và nước lân cận . Gulf Energy, EGCO, BCPG cũng đầu tư mạnh vào
NLTT trong và ngoài nước . Thái Lan còn là trung tâm sản xuất pin mặt trời (nhà máy của Jinko,
Trina).
Philippines: AC Energy (Ayala) mở rộng nhanh với mục tiêu 5GW NLTT 2025, đầu tư ở Philippines,
Việt Nam, Úc... , tập đoàn đa ngành lớn, cũng chuyển dịch sang năng lượngSan Miguel Corporation
sạch (điện mặt trời nổi, thủy điện tích năng) .
Malaysia: TNB (điện lực quốc gia) đặt mục tiêu 8,3 GW NLTT năm 2025, hiện chủ yếu qua các dự án
trong nước và mua lại ở Anh, Ấn Độ. Petronas lập bộ phận năng lượng mới, mua lại Amplus Solar
(Ấn Độ) và đầu tư thử nghiệm trang trại mặt trời.
Indonesia: PLN (độc quyền điện) đang thử nghiệm các dự án NLTT quy mô nhỏ do hạn chế về thể
chế. Tuy nhiên, các công ty tư nhân như hay bắt đầu tham gia điệnBarito Pacific Pertamina Power
địa nhiệt, điện mặt trời.
Singapore: Ít tiềm năng nội địa, các công ty như Sembcorp Keppel đầu trang trại NLTT nước
ngoài (nhập khẩu điện mặt trời từ Lào, dự án gió Australia). (nay thuộc EDP Renewables)Sunseap
trước đây triển khai nhiều dự án áp mái ở Việt Nam.
Tại Châu Á (nổi bật):
Trung Quốc: tập đoàn NLTT lớn nhất thế giới Là quê hương của nhiều . Các nhà sản xuất như
JinkoSolar, Trina Solar Goldwind, Envision (pin mặt trời) và (tua-bin gió) chi phối nguồn cung thiết
bị toàn cầu . Các nhà phát triển dự án hàng đầu gồm State Power Investment Corp (SPIC)
chủ đầu tư công viên điện gió và mặt trời lớn, China Three Gorges – khai thác thủy điện và điện gió
nội địa lẫn đầu tư nước ngoài. Nhờ sự vươn lên của doanh nghiệp, Trung Quốc năm 2023 lắp đặt
mới 298 GW NLTT – nhiều ngang .phần còn lại của thế giới cộng lại
Ấn Độ: Adani Green Energy Các tập đoàn tư nhân dẫn dắt thị trường: (sở hữu >20 GW công suất
NLTT), ReNew Power Tata Power Renewable, ... Nhà nước Ấn Độ cũng đặt mục tiêu đầy tham vọng
(500 GW năm 2030) và tạo cơ hội cho doanh nghiệp nội địa vươn lên.
Nhật Bản & Hàn Quốc: SoftBank (SB Energy) ORIX, Nhiều công ty công nghiệp lớn như ,
Mitsubishi (Nhật) hay (Hàn) tham gia phát triển điện mặt trời, điện gió (đặc biệt gióHanwha, KEPCO
ngoài khơi). Họ cũng đầu tư ra nước ngoài (ví dụ: SoftBank đầu tư trang trại mặt trời tại Ấn Độ; ORIX
mua cổ phần nhà máy điện mặt trời tại Việt Nam).
Nhìn chung, bức tranh doanh nghiệp NLTT rất đa dạng – từ doanh nghiệp nhà nước truyền thống, tập đoàn
nhân trong nước cho đến nhà đầu quốc tế. Sự cạnh tranh hợp tác giữa các thành phần này đang
thúc đẩy chuyển dịch năng lượng ngày càng nhanh tại Việt Nam và toàn châu Á.
45
46
47
18 48
49
5
2. Các Phân Mảng Năng Lượng Tái Tạo Chính
Ngành NLTT bao gồm nhiều phân mảng công nghệ, mỗi loại vai trò mức đóng góp khác nhau trong
cấu năng lượng. Dưới đây tình hình từng phân mảng tại Việt Nam, kèm so sánh khu vực xu hướng
phát triển 5-10 năm tới:
2.1 Điện Mặt Trời (Năng lượng mặt trời)
Bức xạ mặt trời tốt cùng chính sách hỗ trợ mạnh mẽ đã đưa trở thànhđiện mặt trời (quang điện PV)
phân mảng tăng trưởng ngoạn mục nhất tại Việt Nam. Từ chỗ gần như bằng 0 năm 2015, công suất lắp đặt
điện mặt trời Việt Nam vọt lên khoảng vào cuối 2020 (bao gồm ~7.800MW điện mặt trời áp mái)16.500MW
. Sản lượng điện mặt trời năm 2022 đạt khoảng , chiếm ~9-10% tổng điện lượng cả nước .26TWh
Việt Nam hiện dẫn đầu Đông Nam Á về điện mặt trời, đóng góp 69% sản lượng điện mặt trời & điện gió
của cả ASEAN năm 2022 .
Bức ảnh trên cho thấy trang trại điện mặt trời Dầu Tiếng 3 – một trong những dự án năng lượng mặt trời lớn nhất
Việt Nam (450MW tại Tây Ninh). Các dự án quy mô lớn như vậy đã đưa Việt Nam trở thành quốc gia đi đầu Đông
Nam Á về phát triển điện mặt trời . Tuy nhiên, tốc độ phát triển quá nhanh cũng gây quá tải lưới điện cục bộ,
đòi hỏi đầu tư lớn vào hạ tầng truyền tải đồng bộ.
Vai trò & đóng góp: Điện mặt trời hiện đóng góp sản lượng lớn nhất trong các nguồn NLTT mới (ngoài thủy
điện). Năm 2022, điện mặt trời chiếm khoảng . Tại một số thời điểm ban10% sản lượng điện Việt Nam
ngày, miền Nam Việt Nam đã thừa điện mặt trời, buộc hệ thống phải cắt giảm nguồn truyền thống. Ở Đông
Nam Á, sau Việt Nam thì cũng phát triển điện mặt trời đáng kể (Thái Lan ~3 GW, IndoThái Lan Malaysia
~0.2 GW...). Tuy nhiên so với quy châu Á, công suất PV của Việt Nam vẫn nhỏ nếu đặt cạnh Trung Quốc
(~392 GW năm 2022) hoặc (~62 GW) .Ấn Độ
Xu hướng & dự báo: Tương lai 5-10 năm tới, điện mặt trời tiếp tục mở rộng nhưng với nhịp độ ổn định hơn.
Quy hoạch Điện VIII đặt mục tiêu (tùy kịch bản phụ tải) , tức gấp46-73 GW điện mặt trời năm 2030
khoảng 3 lần hiện tại. Trọng tâm sẽ là: - Nhiều tiềm năng tại các Điện mặt trời mái nhà tự tiêu thụ: khu công
nghiệp, thương mại điện mặt trời áp mái cho doanh nghiệp. Chính phủ khuyến khích hình để giảm
áp lực lưới nhu cầu cao điểm . Các chuyên gia dự báo đây hội lớn” khi hàng ngàn nhà máy vẫn
chưa lắp điện mặt trời mái . - Việt Nam nhiều hồ thủy điện lớn (Thác Bà, Trị An, v.v.)Điện mặt trời nổi:
thích hợp làm dự án nổi. PDP8 nhấn mạnh ưu tiên điện mặt trời nổi nếu phù hợp khả năng hấp thụ của lưới
. - Nếu dư thừa, Việt Nam có thể xuất khẩu sang Campuchia, Singapore (đã có kếXuất khẩu điện mặt trời:
hoạch Singapore nhập 100 MW từ Việt Nam). Năm 2030 dự kiến Việt Nam xuất ~400 MW sang Campuchia
. - Xu hướng sử dụng hệ thống lưu trữ (pin BESS) kết hợp điện mặt trời để cung cấpCông nghệ & lưu trữ:
điện ổn định 24/7 đang nổi lên. Chi phí pin giảm sẽ thúc đẩy mô hình “solar + storage” nhằm khắc phục tính
gián đoạn của mặt trời.
Thách thức chính với điện mặt trời . Bài học năm 2019-2020 khi quáhấp thụ công suất vào lưới điện
nhiều dự án PV tập trung ở Ninh Thuận, Bình Thuận đã dẫn đến quá tải và cắt giảm bắt buộc 30-60% công
suất đỉnh điểm trưa . Hiện tượng “bùng nổ rồi hạ nhiệt” cũng xảy ra trong khu vực: năm 2022 tăng
trưởng sản lượng PV ASEAN chỉ 15%, giảm mạnh từ mức 67% năm 2021 do Việt Nam hết ưu đãi FIT.
Tương lai, điện mặt trời sẽ phát triển bền vững hơn, đi đôi với nâng cấp lưới chế đấu thầu cạnh
tranh để giảm giá thành.
8 6
6
13
5
50 12
51 52
53
41
54
55
23
9
6
2.2 Điện Gió (Trên bờ, Gần bờ và Ngoài khơi)
Điện gió trụ cột tiếp theo trong danh mục NLTT của Việt Nam. Nhờ đường bờ biển dài tốc độ gió khá
tốt (trung bình 7 m/s ở nhiều vùng ven biển) , Việt Nam có tiềm năng gió rất lớn ~ (kỹ thuật, gồm600 GW
cả trên bờ ngoài khơi) . Đến cuối 2021, Việt Nam đã lắp đặt khoảng (chủ yếu trên4.000 MW điện gió
bờ gần bờ) đứng đầu ASEAN. Sản lượng điện gió năm 2022 đạt ~8,8 tỷ kWh , chiếm ~3% tổng điện
lượng. Theo Ember, tăng trưởng điện gió của Việt Nam giai đoạn 2015-2022 , cao nhất khu vực+8 TWh
.
Các tua-bin điện gió gần bờ tại tỉnh Bạc Liêu, Việt Nam. Điện gió gần bờ (trên nền móng ven biển) thế mạnh
giúp Việt Nam nhanh chóng nâng công suất điện gió lên ~4 GW tính đến 2021. Trong thập kỷ tới, Việt Nam định
hướng phát triển mạnh điện gió ngoài khơi với công nghệ tua-bin lớn hơn và xa bờ hơn.
Vai trò & đóng góp: Hiện tại điện gió đóng góp sản lượng ít hơn điện mặt trời, do nhiều dự án gió kịp COD
cuối 2021 nhưng vận hành chưa đủ năm. Tuy nhiên, của hệđiện gió được xem xương sống tương lai
thống NLTT Việt Nam. Dự thảo Quy hoạch VIII từng dự tính điện gió (bờ + gần bờ + ngoài khơi) sẽ chiếm
tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu nguồn điện năm 2045 Thái Lan. Ở tầm khu vực, ngoài Việt Nam, (~1,5
GW) và (~0,5 GW) cũng đang phát triển điện gió, nhưng chưa nước nào bắt kịp Việt Nam về quyPhilippines
mô. Trung Quốc Ấn Độ nằm trong top 3 quốc gia gió lớn nhất thế giới (TQ ~330 GW, Ấn ~42 GW năm
2022), do đó châu Á chiếm phần lớn công suất điện gió toàn cầu .
Xu hướng & dự báo: ngoài khơi (offshore) Điện gió Việt Nam đang chuyển mình sang . Một số xu hướng
chính: - Tiếp tục mở rộng lên theo QHĐVIII . Các dự ánĐiện gió trên bờ & gần bờ: 26-38 GW năm 2030
trên đất liền ở Tây Nguyên, Nam Trung Bộ sẽ tăng thêm, đồng thời tận dụng dải bờ biển nông để dựng tua-
bin gần bờ (như mô hình Bạc Liêu, Trà Vinh...). - Mục tiêu (cho nhuĐiện gió ngoài khơi: 6.000MW năm 2030
cầu nội địa) , thể tăng lên ~17 GW vào 2035 . Nhiều dự án ngoài khơi công suất lớn (1-3 GW mỗi
dự án) đang nghiên cứu các tỉnh như Bình Thuận, Bến Tre, Sóc Trăng. Điện gió ngoài khơi cần vốn đầu
rất cao công nghệ phức tạp, dự kiến chủ yếu hợp tác với các công ty châu Âu giàu kinh nghiệm (Orsted,
CIP, Equinor...). Việt Nam kỳ vọng phát triển ngành công nghiệp phụ tr quanh lĩnh vực này (cảng biển, chế
tạo móng, lắp ráp turbine). - Sau khi hết FIT (8,5 USc/kWh cho dự án COD trước 11/2021)Chi phí và đấu thầu:
, giá điện gió mới sẽ xác định qua đấu thầu hoặc đàm phán. Chính phủ đã ban hành khung giá trần cho
điện gió chuyển tiếp (~6-7 USc/kWh tùy loại) . Dự báo giá điện gió sẽ giảm dần nhờ tua-bin lớn hơn (hiện
đã >5-8 MW cho onshore và 12-15 MW cho offshore). - Điện gió có ưu thế sản xuất vào buổi tốiTích hợp lưới:
(gió thường mạnh hơn vào chiều tối), phần nào bổ sung cho điện mặt trời. Tuy vậy vẫn cần các nguồn dự
phòng hoặc lưu trữ để đảm bảo ổn định. Đầu lưới truyền tải từ các trung tâm gió (ví dụ Tây Nguyên) về
phụ tải lớn đang được lên kế hoạch (EVN xây thêm các đường dây 500kV kết nối miền Trung – Nam).
Nhìn rộng ra khu vực, đang nổi lên với luật cho phép 100% vốn FDI vào điện gió ngoài khơi, thuPhilippines
hút Orsted, Copenhagen Infrastructure Partners đề xuất dự án vài GW. Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản
cũng phát triển mạnh điện gió ngoài khơi trong khu vực Đông Á (đến 2030: Đài Loan ~5.5 GW, Nhật ~10 GW,
Hàn ~12 GW). Những tiến bộ kỹ thuật trong ngành gió (tua-bin >15 MW, lắp nổi) sẽ mở ra hội khai thác
vùng biển xa bờ hơn, sản lượng cao hơn vào cuối thập kỷ.
2.3 Thủy Điện (Thủy điện lớn & thủy điện nhỏ)
Thủy điện lâu đời nhất trong cấu điện Việt Nam. Hiệnnguồn năng lượng tái tạo truyền thống
nay, nếu tính cả các nhà máy lớn (Hòa Bình, Sơn La, Trị An...) lẫn thủy điện nhỏ (<30MW), tổng công suất
56
57
58
10
59
50 12
29
60 60
20
21
7
thủy điện đạt khoảng , đóng góp ~95 tỷ kWh năm 2022 (35% điện lượng) . Như vậy, thủy22,9 GW
điện vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong các nguồn NLTT hiện tại. Trong ASEAN, nhiều quốc gia phụ thuộc
thủy điện: Lào (~7.2 GW, xuất khẩu phần lớn sang Thái, Việt), Myanmar (~3.3 GW). (Nam Á) và Bhutan Nepal
cũng khai thác hầu hết điện từ thủy năng.
Thủy điện nhỏ (công suất nhỏ lắp trên các sông suối địa phương) phát triển mạnh giai đoạn 2005-2015
Việt Nam. Hàng trăm dự án thủy điện nhỏ (<30 MW) tổng cộng vài nghìn MW đã giúp điện về nông thôn
miền núi, nhưng cũng gây một số tác động môi trường (chiếm đất, ảnh hưởng dòng chảy). Hiện Việt Nam
hạn chế cấp mới dự án thủy điện vừa và nhỏ để bảo vệ rừng.
Vai trò & đóng góp: nguồn cung ổn định và điều tần linh hoạt Thủy điện có vai trò . Hồ thủy điện lớn như
Sơn La (2.400 MW) ngoài phát điện còn tham gia chống lũ, cấp nước. Trong hệ thống điện ngày càng nhiều
năng lượng tái tạo biến động, thủy điện nguồn điều tiết quý giá thể tăng/giảm công suất nhanh
chóng cho dao động của điện mặt trời, điện gió. Tuy vậy, thủy điện phụ thuộc vào lượng mưa: năm nào
hạn hán thì sản lượng giảm, như 2019-2020 ít nước đã khiến EVN phải huy động nhiệt điện nhiều hơn.
Xu hướng & dự báo: 40 GW Tiềm năng thủy điện kinh tế của Việt Nam ước khoảng , hầu hết đã khai thác
hoặc kế hoạch tới 2030 . Quy hoạch VIII dự kiến (tăng không33,3-34,7 GW thủy điện năm 2030
nhiều, chủ yếu dự án đang xây như Hòa Bình mở rộng, Ialy mở rộng) . Sau 2030, gần như không còn dư
địa làm thêm thủy điện lớn do các sông chính đã xây đập. Trọng tâm sẽ là: - Thủy điện tích năng (pumped
storage): Đây dạng nhà máy dùng điện thừa (ban đêm) bơm nước lên hồ cao, để phát điện giờ cao
điểm. Việt Nam đặt mục tiêu (dự án đầu tiên 1.200 MW2.400-6.000MW thủy điện tích năng đến 2030
ở Ninh Thuận đã được phê duyệt cho Trung Nam Group). Đến 2050 có thể ~20 GW tích năng hỗ trợ tích hợp
NLTT lớn . - Nâng cấp tua-bin cho các nhà máyđể tăng công suất, thêmCải tạo, mở rộng hiệu suất:
cửa xả để linh hoạt vận hành mùa lũ – đây cũng là hướng đi để tăng nhẹ công suất không cần xây đập mới.
- Thúc đẩy liên kết lưới để nhập khẩu thủy điện từ Lào, Trung Quốc. Hiện Việt Nam đãThủy điện khu vực:
ký mua 5.000 MW từ Lào giai đoạn 2025-2030 (một phần từ thủy điện của Lào) .
Trên phạm vi ASEAN châu Á, thủy điện vẫn nguồn tái tạo chính nhiều nước. Trung Quốc (~390 GW
thủy điện) (~51 GW) đứng đầu về công suất. Xu hướng tương lai nghiêng về các dự án thủy điệnẤn Độ
tích năng đa mục tiêu, hơn thủy điện chặn sông mới (do lo ngại môi trường di dân). Thủy điện sẽ
tiếp tục cung cấp điện nền ổn định, hỗ trợ đắc lực cho lưới điện nhiều năng lượng tái tạo biến động.
2.4 Sinh Khối và Điện Từ Chất Thải (Biomass & Waste-to-Energy)
Đây phân mảng tận dụng để phát điện: gồm sinh khối từ nông nghiệp (bã mía, trấu, gỗ,nguồn hữu
phụ phẩm) rác thải rắn sinh hoạt (đốt rác phát điện). Tại Việt Nam, điện sinh khối điện rác còn khiêm
tốn nhưng đang được chú ý hơn: - Công suất khoảng vài trăm MW, chủ yếu từ các nhà máyĐiện sinh khối:
mía đường (đốt mía). Các dự án tiêu biểu: nhiệt điện sinh khối , An Khê 95MW KCP Phú Yên 60MW...
Ngoài ra, một số nhà máy điện dùng trấu, gỗ vụn, vỏ điều quy nhỏ (<10 MW) rải rác ĐBSCL Tây
Nguyên. - Mới nổi, với các dự án Nội, TP.HCM vài đô thị. Năm 2022Điện rác (waste-to-energy):
đánh dấu bước tiến khi nhà máy 75MW vận hành phần đầu, điện rác Sóc Sơn (Hà Nội) Nhà máy điện rác
Seraphin 37MW khởi công . Tổng công suất điện rác tăng từ 7,5 MW (2021) lên ~60 MW (2022) .
Các tỉnh khác như Bắc Ninh, Hải Phòng, Đồng Nai cũng có dự án điện rác nhỏ đang xây .
Vai trò & đóng góp: Dù chiếm tỷ trọng nhỏ (chưa tới 1% điện năng), sinh khối và điện rác có vai trò đặc thù:
- giúp tận dụng phụ phẩm nông nghiệp, giảm đốt lãng phí, đồng thời cung cấp điện ổn định (cóSinh khối
2 5
61
32
62
62
63
64 65 66
67
8
thể phát theo phụ tải do đốt nhiên liệu chủ động). Việt Nam nước nông nghiệp nên tiềm năng sinh khối
đáng kể (bã mía, trấu từ lúa gạo, vỏ cà phê...). Nếu được đầu tư, sinh khối có thể cung cấp hàng tỷ kWh điện
đồng thời giảm ô nhiễm do đốt phụ phẩm ngoài đồng. - giải quyết vấn đề rác thải đô thị. Mỗi nhàĐiện rác
máy điện rác vài chục MW thể xử hàng nghìn tấn rác/ngày, giảm chôn lấp phát điện cho lưới địa
phương. Ví dụ: Nhà máy điện rác Sóc Sơn dự kiến xử lý 4.000 tấn rác khô/ngày, giảm tỷ lệ chôn lấp ở Hà Nội
từ 100% xuống 3% .
Xu hướng & dự báo: Chính phủ khuyến khích phát triển mạnh hơn mảng này: - Quy hoạch VIII đặt mục
tiêu sinh khối ~1.500-2.700 MW, điện rác ~1.400-2.100 MW vào năm 2030 . Nghĩa là tăng gấp ~5 lần so
với hiện nay. - Cơ chế giá FIT cho sinh khối (~7,03 USc/kWh điện đồng phát từ bã mía) và điện rác (10,05 USc/
kWh) đã có, thu hút đầu nhân. Nhiều nhà máy mía đường đang nâng cấp tuabin phát điện bán lên
lưới. - Điện rác dự kiến bùng nổ tại các thành phố lớn: Nội hoàn thiện 2 nhà máy (Sóc Sơn, Seraphin),
TP.HCM đang xây nhà máy điện rác 40 MW ở Củ Chi. Cả nước dự kiến hàng chục nhà máy điện rác nhỏ (<10
MW) các tỉnh để giải quyết rác sinh hoạt. - Công nghệ mới: khí hóa sinh khối, tận dụng biogas từ bãi rác
hoặc trang trại chăn nuôi để phát điện cũng hướng tiềm năng. dụ, dự án điện từ khí bãi rác Cát
(TP.HCM) hoạt động từ 2017.
So với khu vực, phát triển sinh khối khá tốt (điện từ vỏ trấu, cọ dầu ~2.000 GWh/năm). Thái Lan Indonesia,
Malaysia Singapore cũng dùng phụ phẩm cọ dầu, gỗ để phát điệnmột số nơi. nổi bật về điện rác (4 nhà
máy đốt rác cung cấp ~3% điện nước này). Xu hướng chung là tích hợp quản lý rác thải với phát năng lượng,
tạo vòng kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải methane từ bãi rác.
2.5 Hydrogen Xanh (Nhiên liệu Hydro tái tạo)
Hydrogen xanh lĩnh vực còn khai tại Việt Nam, nhưng được coi để khửnăng lượng tương lai
carbon cho các ngành công nghiệp và giao thông khó điện hóa. Hydro xanh được sản xuất bằng điện phân
nước sử dụng điện tái tạo (như điện gió, mặt trời) nên không phát thải CO2. Hiện chưa sở sản xuất
hydro xanh thương mại nào Việt Nam, nhưng nhiều nghiên cứu dự án ý tưởng: - Tập đoàn TGS
Green Hydrogen năm 2022 khởi công nhà máy thử nghiệm tại Bến Tre, công suất điện phân 24MW (sản
xuất ~2.000 tấn H₂/năm từ điện gió, dự kiến 2024 vận hành). - Các tập đoàn dầu khí như đang nghiênPVN
cứu sản xuất (NH₃ từ hydro xanh) dùng làm nhiên liệu cho nhiệt điện thay than vào tươngammonia xanh
lai . - Một số MOU ký kết với đối tác châu Âu về phát triển (CIP đềhydrogen từ điện gió ngoài khơi
xuất cụm điện gió kèm sản xuất H₂ xuất khẩu).
Vai trò & tiềm năng: mắt xích quan trọng Hydro xanh thể trở thành để tích trữ năng lượng tái tạo
thừa cung cấp nhiên liệu sạch: - Khi điện gió, mặt trời sản xuất vượt nhu cầu, dùng để điện phân nước
tạo hydro, sau đó hydro thể dùng phát điện lại (qua turbine khí hydro) hoặc làm nhiên liệu cho công
nghiệp (thép, phân bón) giao thông (pin nhiên liệu). - Việt Nam với tiềm năng gió ngoài khơi khổng lồ
(>600 GW) lợi thế để sản xuất lượng lớn hydro xanh, phục vụ xuất khẩu (như EU, Nhật đang nhu
cầu) hoặc thay thế xăng dầu trong nước (ví dụ: cho xe tải, tàu biển).
Xu hướng & thách thức: Chiến Giai đoạn 2025-2035 dự kiến các dự án thí điểm sẽ định hình ngành này: -
lược Quốc gia về hydrogen: Bộ Công Thương đang xây dựng lộ trình cho nhiên liệu hydro đến 2030-2050.
Mục tiêu trung hạn thể 10% ammonia cho nhiệt điện than được thay bằng ammonia xanh vào 2050
. - Một số đề xuất điện gió ngoài khơi + hydro” như tỉnh Bình Thuận kêu gọiDự án tích hợp lớn:
đầu tư cụm điện gió 5 GW sản xuất H₂ lỏng xuất khẩu. PDP8 cũng nhắc đến khả năng dành 15.000 MW điện
gió ngoài khơi cho sản xuất năng lượng mới (hydro/ammonia) vào 2035 Thách thức:. - Chi phí sản
68
31
69 70
57
71 70
60
9
xuất hydro xanh hiện còn rất cao (3-6 USD/kg). Cần giảm giá điện tái tạo chi phí thiết bị điện phân ~1/3
hiện nay để cạnh tranh hydro xám. Công nghệ lưu trữ, vận chuyển hydro cũng đòi hỏi hạ tầng mới (đường
ống, cảng chuyên dụng nếu xuất khẩu ammonia).
Trên thế giới, hydrogen xanh đang “nóng” ở Trung Đông, châu Âu nhưng Đông Nam Á còn chậm. Malaysia
kế hoạch xuất khẩu ammonia xanh tận dụng cơ sở hạ tầng LNG sẵn có. xem hydroBrunei Singapore
như giải pháp nhập khẩu năng lượng sạch dài hạn (vì không đủ đất cho NLTT). còn bước đầu,
hydrogen xanh được dự báo sẽ tham gia mạnh từ 2030 trở đi, đặc biệt khi các nước châu Á hiện thực hóa
cam kết Net Zero và cần nhiên liệu sạch cho công nghiệp.
2.6 Lưu Trữ Năng Lượng (Battery, BESS)
Khả năng lưu trữ điện năng chìa khóa” để năng lượng tái tạo thể thay thế hoàn toàn nhiên liệu hóa
thạch trong dài hạn. Ngoài thủy điện tích năng đã đề cập, công nghệ quy lớn đangpin lưu trữ (BESS)
bắt đầu được triển khai tại Việt Nam: - Năm 2023, EVN hợp tác ADB và Tổ chức Hợp tác năng lượng toàn cầu
(GEAPP) để thí điểm dự án 50MW Battery Energy Storage (BESS) đầu tiên, dự kiến đặt tại lưới phân phối
miền Bắc . Mục tiêu tới 2030 ~300 MW BESS vận hành . - Một số trang trại điện mặt trời
nhân cũng lắp pin quy nhỏ (vài MWh) để hỗ trợ điều độ nội bộ. - Quy hoạch VIII đặt mục tiêu rất cao:
10.000-16.300 MW công suất pin lưu trữ vào 2030 (tương đương 5,5-6,9% tổng công suất) . Đến 2050
có thể cần ~96 GW pin lưu trữ nếu NLTT chiếm tỷ trọng lớn .
Vai trò: cân bằng cung cầu tức thời Pin lưu trữ giúp , đặc biệt với điện mặt trời gió vốn phụ thuộc thời
tiết. Lợi ích gồm: - Giảm cắt giảm NLTT khi thừa: lưu trữ điện thừa buổi trưa để phát buổi tối. - Ổn định tần
số, điện áp: xả/nhập công suất trong mili-giây, tăng độ tin cậy của lưới. - Tránh quá tải đường dây: đặt BESS
gần nguồn NLTT để xả vào lưới khi đường truyền có đủ khả năng, thay vì đồng loạt giờ cao điểm.
Thách thức: Chi phí pin Li-ion còn cao (~300-400 USD/kWh lắp đặt). Nguồn vốn và mô hình kinh doanh cho
BESS chưa (bán điện giờ cao điểm giá cao? dịch vụ phụ trợ trả phí?). Tuy nhiên, giá pin đã giảm >80%
thập kỷ qua và sẽ tiếp tục giảm, khiến BESS khả thi về kinh tế trước 2030. Ngoài ra, vấn đề an toàn cháy nổ,
tái chế pin cũng cần quản lý chặt.
Xu hướng: Một khi thị trường điện mở rộng, các nhà máy NLTT thể tự lắp BESS để bán điện linh hoạt
(điện mặt trời có thể bán giá cao buổi tối nhờ pin). Khu vực ASEAN cũng đã bước đi: năm 2022Thái Lan
khánh thành hệ thống BESS 45MW/136MWh (dự án Sirindhorn kết hợp điện mặt trời nổi); xâySingapore
trạm BESS 200MW để dự phòng lưới. Trung Quốc hiện dẫn đầu về lắp đặt BESS (4,9 GW năm 2022) để đi
kèm các dự án gió, mặt trời khổng lồ. Dự kiến từ nay tới 2030, công nghệ lưu trữ (pin Lithium, pin natri-ion,
pin lưu lượng...) sẽ bùng nổ song song với NLTT, trở thành phần không thể thiếu của hệ thống điện hiện
đại.
3. Hệ Thống Hỗ Trợ Phát Triển Năng Lượng Tái Tạo
Để ngành NLTT phát triển bền vững, không thể thiếu các hệ thống hỗ trợ bao gồm hạ tầng lưới điện, lưu
trữ, chế chính sách thị trường điện. Phần này phân tích những yếu tố đó tại Việt Nam so sánh
với khu vực.
72 73 74
33
33
10
3.1 Hạ Tầng Truyền Tải và Phân Phối Điện
Sự bùng nổ điện gió, mặt trời tại Việt Nam đã tạo áp lực lớn lên hạ tầng truyền tải vốn được xây dựng chủ
yếu cho nguồn điện tập trung truyền thống. Các thách thức và nỗ lực chính gồm:
Quá tải lưới điện khu vực nhiều NLTT: Như đã nêu, tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận đã sớm vượt
công suất truyền tải sau làn sóng dự án 2019. Đến giữa 2019, 82 nhà máy điện mặt trời
(~4.464MW) tại miền Trung chưa thể giải tỏa hết công suất . EVN buộc phải thực hiện cắt giảm
(curtailment) lên tới 35-60% tại một số thời điểm, gây thiệt hại cho nhà đầu . Tình trạng này
tương tự ở Đắk Lắk năm 2022 khi nhiều dự án điện gió mới xong nhưng lưới 500kV chưa kịp xây.
Đầu lưới truyền tải: EVN đang đẩy nhanh hàng loạt dự án lưới 220kV, 500kV mới Nam Trung
Bộ, Tây Nguyên để giải phóng công suất gió, mặt trời. Đặc biệt, lần đầu tiên Chính phủ cho phép
nhân tham gia đầu lưới truyền tải (Trung Nam Group làm trạm 500kV Thuận Nam) như một giải
pháp tình thế . Theo IEA, để tích hợp tỷ lệ NLTT cao, Việt Nam cần hiện đại hóa và mở rộng lưới
điện thông minh, đầu hàng chục tỷ USD đến 2030. Toàn ASEAN cần tăng đầu lưới từ ~15 lên
30 tỷ USD/năm đến 2035 .
Kết nối lưới khu vực (liên kết lưới ASEAN): Hiện Việt Nam đã kết nối lưới với Trung Quốc (110kV,
mua điện tại Lào Cai, Quảng Ninh), với Lào (một số đường 220kV) Campuchia (110kV cấp điện
biên giới). Tương lai kế hoạch liên kết 500kV sâu hơn: mua thủy điện Lào 5.000 MW, bán điện
sang Cambodia ~400 MW . ASEAN bàn thảo nhằm trao đổiMạng lưới điện ASEAN (APG)
điện giữa các nước hiệu quả hơn. Nếu triển khai, APG sẽ giúp cân bằng nguồn NLTT (ví dụ: điện
mặt trời Việt Nam có thể xuất sang Thái Lan giờ trưa, ngược lại Thái Lan có thể bán điện khí cho Việt
Nam buổi tối). Tuy vậy, APG còn nhiều rào cản kỹ thuật và chính trị.
Lưới điện thông minh & nâng cao vận hành: dự báo phụ tải EVN bắt đầu ứng dụng các giải pháp
thời tiết để điều độ nguồn NLTT chính xác hơn . Hệ thống SCADA/EMS cũng được nâng cấp
để theo dõi hàng trăm nhà máy NLTT trải rộng. Một số công nghệ như FACTS (thiết bị linh
hoạt), nâng cấp đường dây (tăng tiết diện dây dẫn) đang được triển khai để tăng khả năng truyền tải
mà không xây mới quá nhiều.
Tại các nước lân cận, thách thức lưới điện cũng tương tự. gặp khó khăn đưa điện từ trung tâmIndonesia
NLTT (đảo nhiều gió/mặt trời như Nusa Tenggara) về đảo Java nơi cần điện, do đó PLN ưu tiên phát triển
NLTT gần phụ tải. phải xây thêm đường dây nối Visayas-Mindanao để hấp thụ điện gió miềnPhilippines
nam. Nhìn chung, đầu lưới thường phát triển nguồn, nên việc quy hoạch đồng bộ lưới nguồn đi sau
lưu trữ đang được các nước chú trọng để tránh điểm nghẽn cổ chai.
3.2 Chính Sách Khuyến Khích và Thị Trường Điện
Chính sách của nhà nước đóng vai trò quyết định đến tốc độ phát triển NLTT. Việt Nam minh chứng điển
hình: chỉ vài năm thay đổi cơ chế giá đã tạo nên sự bùng nổ. Một số chính sách và xu hướng chính:
Cơ chế giá FIT (Feed-in Tariff): Giai đoạn 2017-2021, Chính phủ ban hành loạt quyết định giá mua
điện ưu đãi cố định 20 năm cho NLTT:
Điện mặt trời: 9,35 USc/kWh cho dự án vận hành trước 6/2019; sau đó điều chỉnh thành 7,09-8,38
USc/kWh tùy loại hình (mặt đất, nổi, mái) cho COD trước 12/2020 .
23
23
14
25 26
75 55
76
20
11
Điện gió: 8,5 USc/kWh (trên bờ) và 9,8 USc/kWh (gần bờ) cho COD trước 11/2021 .
Sinh khối: 5,8 USc/kWh (trấu), 7,03 USc/kWh (đồng phát từ bã mía); Điện rác: 10,05 USc/kWh.
Các mức giá FIT hấp dẫn này đã kích thích : hàng trăm dự án đua xây dựng để kịp thờilàn sóng đầu tư ồ ạt
hạn . Kết quả Việt Nam vượt xa mục tiêu quy hoạch (đến 2020 đã 21.839 MW điện gió & mặt
trời, so với mục tiêu 4.800 MW) . Song mặt trái nhiều nhà đầu thiếu kinh nghiệm tham gia, gây ra
hệ lụy quá tải lưới và bất cập quy hoạch, thậm chí dẫn tới sai phạm (một số quan chức bị kỷ luật vì “tham
mưu cơ chế phát triển điện mặt trời, điện gió” chưa phù hợp) .
Chuyển sang đấu thầu đàm phán: Sau 2021, Việt Nam tạm ngừng FIT. Các dự án hoàn thành
sau hạn FIT phải đàm phán giá với EVN trong khung giá trần do Bộ Công Thương ban hành (điện
mặt trời ~5-5,8 USc, điện gió ~6-7 USc). Quá trình đàm phán kéo dài khiến khoảng 4.600 MW dự án
"chuyển tiếp" bị chậm vận hành, gây lãng phí đầu tư. Hiện Chính phủ đã chỉ đạo sớm giải quyết
nhiều dự án đã tạm thỏa thuận giá để phát điện trong 2023. Về lâu dài, Việt Nam sẽ triển khai đấu
thầu cạnh tranh cho NLTT (thí điểm từ 2023-24). Cơ chế đấu thầu giúp minh bạch, giá giảm, nhưng
đòi hỏi chuẩn bị kỹ khung pháp lý và năng lực tổ chức.
Hợp đồng mua bán điện trực tiếp (DPPA): Để huy động vốn nhân đáp ứng nhu cầu doanh
nghiệp (nhất FDI) muốn dùng điện xanh, Việt Nam đã cho phép thí điểm chế DPPA. Theo đó,
nhà máy NLTT có thể ký hợp đồng bán điện trực tiếp cho khách hàng công nghiệp qua lưới EVN. Quy
hoạch VIII đề cập DPPA có thể chiếm tới 30-60% sản lượng điện tái tạo vào 2030 tùy sự phát triển thị
trường . Hiện Bộ Công Thương đang triển khai thử nghiệm DPPA công suất ~1.000 MW.
Ưu đãi đầu khác: Ngoài giá điện, nhà nước miễn thuế nhập khẩu thiết bị, giảm thuế thu nhập
DN 10% trong 15 năm cho dự án NLTT, miễn tiền thuê đất 11-20 năm… Nhiều địa phương thành lập
khu công nghiệp năng lượng tái tạo (như Ninh Thuận, Đak Lak) để thu hút nhà đầu lớn, định
hướng thành trung tâm NLTT và dịch vụ xuất khẩu điện trong tương lai .
Thị trường điện: thị trường phát điện cạnh tranh Việt Nam đang chuyển dần sang (các nhà máy
chào giá lên lưới). Tuy nhiên, NLTT hiện được ưu tiên huy động (do chi phí biên thấp) nên chưa trực
tiếp tham gia thị trường giao ngay. Tương lai, khi NLTT chiếm tỷ trọng cao, việc đưa các nhà máy này
vào thị trường (có thể kèm hợp đồng CfD giá) sẽ giúp tối ưu vận hành. Các dịch vụ phụ trợ (như
điều tần, dự phòng) cũng sẽ hình thành thị trường, tạo điều kiện cho nguồn lưu trữ, thủy điện tham
gia tăng thu nhập.
Chính sách Net Zero chuyển dịch công bằng: Sau cam kết Net Zero 2050, Việt Nam đang xây
dựng luật Năng lượng tái tạo, chiến lược khí hậu… Các chế như , mua bán tín chỉ carbon tiêu
chuẩn năng lượng tái tạo (RPS) dự kiến triển khai để bắt buộc một tỷ lệ nhất định điện sản xuất
đến từ NLTT. Đồng thời, Việt Nam tham gia thỏa thuận JETP (Chuyển dịch năng lượng công bằng)
cùng G7, dự kiến huy động 15,5 tỷ USD cho năng lượng sạch, giảm điện than giai đoạn 2024-2030.
Điều này sẽ tác động lớn tới chính sách phát triển NLTT (ưu tiên nguồn sạch, hạn chế nguồn bẩn).
Tại Đông Nam Á, các nước cũng bước chuyển tương tự: - Trước đây áp FIT cho NLTT (điện mặtThái Lan:
trời 2013: 0,2$/kWh), nay chuyển sang đấu thầu. Năm 2022, Thái Lan mở thầu 5,2 GW điện sạch (PV,
biomass, WTE) với giá trần ~0,07$/kWh. - Triển khai chương trình từMalaysia: LSS (Large Scale Solar)
2017, đấu thầu thành công 1,2 GW điện mặt trời với giá giảm còn ~0,05$/kWh. Năm 2023, Malaysia công bố
chế Green Electricity Tariff khách hàng tr thêm phí để sử dụng điện từ NLTT, tiền này cấp cho quỹ
20
20 77
8
78 79
80
81
12
phát triển NLTT . - Ban hành về mua điện NLTT với giá trần từng loại, song doIndonesia: 112/2022
PLN độc quyền nên đầu nhân còn hạn chế. Nước này đang xem xét cho phép nhân bán điện trực
tiếp để kích thích NLTT. - chuẩn RPS yêu cầu 35% điện năng từ NLTT năm 2030. Năm 2023Philippines:
nước này lần đầu đấu thầu 2 GW NLTT, giá điện mặt trời trung bình ~0,05$/kWh. Philippines cũng mở cửa
100% vốn ngoại cho điện gió, mặt trời nhằm thu hút đầu tư quốc tế.
Tựu trung, xu hướng chính sách tại châu Á , thay bằng giảm dần trợ giá trực tiếp chế thị trường
cạnh tranh công cụ gián tiếp thị các (RPS, carbon). Các nước phát triển hơn thì chú trọng xây dựng
trường điện linh hoạt mở cửa cho tư nhân tham gia mọi khâu. Điều này được kỳ vọng sẽ hạ giá thành
NLTT thúc đẩy sáng tạo, tuy nhiên cần đi kèm bảo đảm về đầu lưới, cải cách doanh nghiệp nhà nước
điện lực và hỗ trợ cộng đồng chịu ảnh hưởng (nhất là vùng mỏ than, nhà máy nhiệt điện phải cắt giảm).
4. Số Liệu Thống Kê và Tăng Trưởng
Dưới đâymột số số liệu tiêu biểu về năng lượng tái tạo , so sánh với ,Việt Nam Đông Nam Á châu Á
nhằm minh họa bức tranh phát triển và xu hướng:
Công suất lắp đặt theo phân khúc (Việt Nam cuối 2023): 44,5 GW - Năng lượng tái tạo (tổng cộng) ~
(chiếm 55% công suất hệ thống) . Trong đó: - Điện gió + điện mặt trời: (27% tổng công suất)21.664MW
. - Thủy điện (kể cả nhỏ): (28,4%) . - Sinh khối + điện rác: ~400MW (ước tính, ~0,5%). -22.872MW
khẩu + dầu diezen: ~<2%.
So với các nước ASEAN, tổng công suất NLTT (kể cả thủy điện) của Việt Nam xấp xỉ Thái Lan, Indonesia cộng
lại. khoảng ~ (ước tính), trong đó thủy điện ~50 GW, còn lại điện mặt trời ~27 GW,ASEAN-10 84 GW NLTT
điện gió ~6,8 GW (2022) . Các nước có công suất NLTT đáng kể: Indonesia (~12 GW chủ yếu thủy điện, địa
nhiệt), Thái Lan (~10 GW thủy + 5 GW mặt trời & khác), Malaysia (~7 GW thủy + 1.5 GW mặt trời), Philippines
(~5.7 GW thủy + 1.3 GW địa nhiệt + 1 GW khác).
Sản lượng điện theo phân khúc (Việt Nam 2022): - Tổng điện sản xuất + nhập khẩu: 269,4 tỷ kWh
(280,6 tỷ kWh năm 2023) . - Thủy điện: ~95 TWh (35%) năm 2022 thủy điện tăng mạnh nhờ mưa
nhiều . - Nhiệt điện than: ~110 TWh (41%) – giảm nhẹ so với 2021 do ưu tiên NLTT. - Nhiệt điện khí + dầu:
~26 TWh (10%)khí suy giảm sản lượng do giá cao. - ~8,8 TWh (3,3%) , tăng gấp 2,7 lần so vớiĐiện gió:
(do không thêm dự án mới, một số bị cắt giảm sản lượng). - ~0,5-1 TWh (0,2-0,4%) Sinh khối + điện rác:
tăng từ ~0,3 TWh năm 2021 lên nhờ thêm nhà máy điện rác . - Nhập khẩu (từ Trung Quốc, Lào): ~1,3
TWh (0,5%).
cấu này cho thấy điện lượng . Nếu loại thủy điện, cáctái tạo (kể cả thủy điện) đóng góp gần 48%
nguồn NLTT mới đóng góp ~13% , vẫn khá cao so với khu vực. Theo báo cáo, Việt Nam chiếm 69% sản
lượng điện gió & mặt trời của ASEAN năm 2022 , chứng tỏ mức độ phát triển vượt trội.
Tăng trưởng: 0,997 Giai đoạn 2018-2022, sản lượng điện tái tạo (không kể thủy điện) của Việt Nam tăng từ
TWh lên 37,865 TWh tức gần 38 lần chỉ trong 4 năm. Đây tốc độ thuộc hàng nhanh nhất thế giới.
Tuy nhiên, tốc độ tăng đang chậm lại do ngưng cơ chế hỗ trợ. Dự kiến giai đoạn 2023-2030, tăng trưởng sẽ
ổn định hơn, khoảng 10-15%/năm.
82
1
1 2
2
3
5 83
84 5
58
58
58
66
5
5
6
85
13
Đông Nam Á: Tổng sản lượng điện của ASEAN ~1.300 TWh (2019). Trong đó, NLTT (kể cả thủy điện) chiếm
TWh (như trên, Việt Nam ~38, Thái Lan ~8, Philippines ~5, Malaysia ~2, Indonesia ~1, các nước khác <1).
Mục tiêu ASEAN , nhưng trong phát điện thì mục tiêu cao23% năng lượng cấp từ NLTT năm 2025
hơn (~35% năm 2035 theo IEA) . Tăng trưởng NLTT khu vực phụ thuộc nhiều vào Việt Nam, Thái Lan,
Indonesia trong thập kỷ tới.
Châu Á: Do sự thống trị của Trung Quốc, châu Á là đầu tàu về NLTT toàn cầu. Năm 2023, châu Á chiếm hơn
50% công suất NLTT thế giới (1.961 GW) . Sản lượng điện tái tạo châu Á năm 2022 khoảng trên 2.800
TWh (bao gồm 1.300 TWh thủy điện, 700 TWh điện gió, 400 TWh điện mặt trời, còn lại sinh khối và địa nhiệt).
Tỷ trọng điện tái tạo châu Á ~29% năm 2022 . Dự báo đến 2030, riêng Trung Quốc sẽ đạt ~50% điện từ
không phát thải (bao gồm thủy điện, hạt nhân, gió, mặt trời). đặt mục tiêu 50% công suất lắp đặt Ấn Độ
phi hóa thạch (tương đương ~40% điện lượng). Điều này đồng nghĩa châu Á sẽ vai trò quyết định liệu
mục tiêu toàn cầu được đáp ứng (như cam kết tạităng gấp ba công suất NLTT toàn cầu vào 2030
COP28) .
Đầu thị trường: Theo IEA, năm 2023 đầu cho năng lượng sạch Đông Nam Á chỉ chiếm 2% toàn
cầu (dưới 10 tỷ USD/năm) . Việt Nam giai đoạn cao điểm 2018-2021 đã thu hút khoảng 10 tỷ USD vào
điện mặt trời điện gió (chỉ riêng năm 2019: ~4,7 tỷ USD đầu điện mặt trời) . Tuy nhiên, để đạt mục
tiêu 2030, cần nguồn vốn lớn hơn nhiều: - Việt Nam ước tính cần cho ngành điện 2021-2030134,7 tỷ USD
190 tỷ USD từ nay đến 2035 (gấp 5 lần hiện tại) mới đáp ứng mục tiêu khí hậu . - Trên toàn cầu, đầu
NLTT đang vượt dầu khí. Trung Quốc dẫn đầu chi tiêu cho NLTT (>90 tỷ USD quý 1-2023).
Việc huy động vốn đòi hỏi cải thiện môi trường kinh doanh, chế hợp tác công (PPP) cho hạ tầng lưới,
cùng các hỗ trợ tài chính xanh (như tín dụng ưu đãi ADB, WB). Các số liệu cho thấy cơ hội tăng trưởng NLTT
ở Việt Nam và châu Á rất lớn, nhưng đi cùng thách thức về kỹ thuật và tài chính cần giải quyết.
5. Trích Dẫn Nguồn Uy Tín
(Các thông tin, số liệu trong báo cáo được tổng hợp từ các nguồn uy tín: báo cáo EVN, Bộ Công Thương, số liệu
của IEA, IRENA, phân tích của các tổ chức năng lượng… Dưới đây liệt kê một số nguồn chính đã sử dụng):
Số liệu công suất, sản lượng điện Việt Nam: EVN (Tập đoàn Điện lực VN) – Thông cáo báo chí vận
hành hệ thống điện ; Tạp chí Năng lượng Việt Nam .
Báo cáo phân tích xu hướng Đông Nam Á: Ember Climate – nhận định VN chiếm 69% điện gió & mặt
trời ASEAN ; Reccessary (trích dẫn Ember) về tăng trưởng 43%/năm NLTT ASEAN 2015-2022 .
Thông tin quy hoạch, chính sách: Quy hoạch Điện VIII (2023) – số liệu mục tiêu 2030 ; Reuters
– IEA Southeast Asia Outlook 2024 (nhu cầu đầu tư, tỷ trọng điện sạch) .
Thông tin doanh nghiệp, dự án tiêu biểu: Tuổi Trẻ News – về dự án Trung Nam 450MW và tình trạng
quá tải lưới ; Forbes Vietnam – ý kiến chuyên gia về điện áp mái, DPPA .
Số liệu toàn cầu và châu Á: Enerdata (theo IRENA) – công suất NLTT toàn cầu và châu Á 2023 ; IEA
Renewables 2022 – xu hướng bổ sung công suất 2022-2027; Climate Analytics – mục tiêu COP28 về
công suất NLTT .
86
11
35
4
7
37
87 25
88
89
36
1 84 90 58
6 10
29 30
36 25
13 23 41 24
4
37
14
6. Góc Nhìn Chuyên Gia
T góc độ một chuyên gia năng lượng, thể rút ra một số nhận định về ngành năng lượng tái tạo Việt
Nam trong bối cảnh khu vực:
Thứ nhất, Việt Nam một câu chuyện thành công đáng kinh ngạc về phát triển nhanh NLTT, nhưng
cũng để lại nhiều bài học quý. Chỉ trong vài năm, Việt Nam đã đi từ chỗ thiếu điện sạch trở thành trung tâm
NLTT của Đông Nam Á. Điều này cho thấy với quyết tâm chính sách và tiềm năng sẵn có, các quốc gia đang
phát triển hoàn toàn thể tạo bứt phá trong chuyển dịch năng lượng. Tuy nhiên, sự nhanh nhiều”
cũng bộc lộ hạn chế: quy hoạch chưa đồng bộ, lưới điện không theo kịp, một số bất cập trong cấp phép
minh bạch dẫn tới hệ lụy (dự án đứng bánh”, tranh cãi giá bán điện). Bài học đây cần tầm nhìn dài
hạn và điều phối nhịp nhàng giữa phát triển nguồn – lưới – thị trường.
Thứ hai, cấu năng lượng Việt Nam ASEAN đang bước vào giai đoạn chuyển hóa mạnh mẽ. Tỷ
trọng 48% điện từ NLTT của Việt Nam (kể cả thủy điện) con số rất cao so với mức thu nhập phát triển
công nghệ của đất nước . Điều này vừa tạo ra (giảm phụ thuộc nhiên liệu nhập khẩu, hưởng lợi hội
kinh tế xanh, thu hút đầu quốc tế hướng xanh) vừa đặt ra to lớn về vận hành một hệ thốngthách thức
điện mới mẻ. Các nước ASEAN khác tuy đi sau nhưng cũng sẽ đối mặt bài toán tương tự khi nâng dần tỷ
trọng NLTT lên 30-40% trong 10 năm tới. Hợp tác khu vực (như chia sẻ nguồn điện qua APG, học hỏi lẫn
nhau về chính sách) sẽ rất quan trọng để cùng tiến tới mục tiêu chung.
Thứ ba, yếu tố “hỗ trợ” sẽ quyết định thành bại trong giai đoạn tới. Nếu như giai đoạn trước, tiền vốn
và công nghệ cho NLTT tương đối dễ huy động nhờ các cam kết mạnh, thì giai đoạn tới điểm nghẽn nằm ở
quản trị hạ tầng. Đơn cử, Việt Nam đã hàng chục GW NLTT “trên giấytrong Quy hoạch VIII, nhưng
làm sao triển khai thật? Sẽ cần cải tổ thể chế sâu hơn: minh bạch trong đấu thầu, nâng cao năng lực của
EVN về tài chính lẫn kỹ thuật, xây dựng thị trường điện cạnh tranh thu hút đầu dài hạn. Đồng thời, phải
song hành phát triển lưới điện thông minh, lưu trữ, cải tiến lưới liên kết. Các dự án điện gió ngoài khơi
chẳng hạn, chỉ khả thi khi chế giá dài hạn ổn định, hạ tầng cảng biển chuỗi cung ứng nội địa đủ
mạnh để giảm chi phí. Nói cách khác, cần được áp dụng, thay cách tiếp cận manh múnduy hệ thống
trước đây.
Thứ tư, về dài hạn, năng lượng tái tạo mở ra những ngành kinh tế mới cho Việt Nam. dụ, nếu đi
đầu điện gió ngoài khơi, Việt Nam có thể hình thành xuất khẩu dịch vụ vàtrung tâm công nghiệp điện gió
thiết bị cho khu vực. Hay việc sản xuất từ nguồn điện tái tạo dồi dào thể biến Việt Namhydrogen xanh
thành nhà cung cấp nhiên liệu sạch trong tương lai (cho Nhật Bản, Hàn Quốc chẳng hạn). Muốn vậy, cần
đầu tư cho nghiên cứu phát triển (R&D) và nguồn nhân lực chất lượng cao ngay từ bây giờ, tránh tình trạng
chỉ nhập thiết bị về lắp, còn giá trị gia tăng cao nằm ngoài nước.
Cuối cùng, cân bằng giữa phát triển và bền vững phải luôn được đặt lên hàng đầu. Năng lượng tái tạo
dù sạch nhưng cũng có những tác động môi trường-xã hội riêng: chiếm đất, thay đổi mục đích sử dụng đất,
ảnh hưởng hệ sinh thái (đặc biệt điện gió, thủy điện). Việc quy hoạch cần tính đến yếu tố này để phát triển
hài hòa công bằng, hạn chế dự án tràn lan gây mất lòng tin cộng đồng. Thêm vào đó, đảm bảo trong
chuyển dịch năng lượng cũng quan trọng hỗ trợ đào tạo chuyển đổi việc làm cho lao động ngành than,
đảm bảo an sinh cho vùng chịu ảnh hưởng của dự án NLTT (tái định cư thủy điện, tiếng ồn turbine gió…).
Tóm lại, bức tranh năng lượng tái tạo Việt Nam và châu Á đến năm 2030 đầy triển vọng với những mục tiêu
cao dòng đầu mạnh mẽ. Việt Nam hội vươn lên thành cường quốc năng lượng xanh của khu
5
15
vực, nếu tận dụng tốt lợi thế rút kinh nghiệm để phát triển đồng bộ, bền vững. Với sự vào cuộc của cả
nhà nước, doanh nghiệp cộng đồng, mục tiêu về một hệ thống năng lượng sạch, an toàn hiệu quả
hoàn toàn nằm trong tầm tay. Những năm tới sẽ mang tính quyết định để hiện thực hóa tầm nhìn đó, đưa
Việt Nam và các nước châu Á tiến gần hơn tới tương lai phát triển xanh.
(Hết)
Một số số liệu tổng quan về nguồn điện toàn quốc năm 2023
https://www.evn.com.vn/d6/news/Mot-so-so-lieu-tong-quan-ve-nguon-dien-toan-quoc-nam-2023-66-142-124707.aspx
Vietnam contributes 69% of ASEAN renewable energy generation | NEWS | Reccessary
https://www.reccessary.com/en/news/vietnam-contributes-69-percent-asean-renewable-energy-generation
Global renewable capacity surged by 473 GW during 2023 (+298 GW in China) | Enerdata
https://www.enerdata.net/publications/daily-energy-news/global-renewable-capacity-surged-473-gw-during-2023-298-gw-
china.html
Năng lượng tái tạo Việt Nam năm 2022: Các sự kiện, thành
tựu và nhận diện thách thức | Tạp chí Năng lượng Việt Nam
https://nangluongvietnam.vn/nang-luong-tai-tao-viet-nam-nam-2022-cac-su-kien-thanh-tuu-va-nhan-dien-thach-thuc-30046.html
Khúc quanh bất ngờ trong hành trình năng lượng tái tạo của Việt Nam
https://nghiencuuquocte.org/2024/01/05/khuc-quanh-bat-ngo-trong-hanh-trinh-nang-luong-tai-tao-cua-viet-nam/
Southeast Asia’s biggest solar farm connected to Vietnam’s national grid
https://news.tuoitre.vn/southeast-asias-biggest-solar-farm-connected-to-vietnams-national-grid-10357250.htm
Southeast Asia Renewable Energy Companies - Top Company List
https://www.mordorintelligence.com/industry-reports/southeast-asia-renewable-energy-market/companies
Doanh nghiệp tiên phong đầu tư vào năng lượng tái tạo dự đoán hai mảng mang đến
cơ hội lớn - Forbes Việt Nam
https://forbes.vn/doanh-nghiep-tien-phong-dau-tu-vao-nang-luong-tai-tao-du-doan-hai-mang-mang-den-co-hoi-lon/
Southeast Asia needs to boost investments five-fold by 2035 to meet climate goals, IEA says |
Reuters
https://www.reuters.com/sustainability/southeast-asia-needs-boost-investments-five-fold-by-2035-meet-climate-goals-
iea-2024-10-21/
Chính thức phê duyệt Quy hoạch
điện VIII điều chỉnh
https://moit.gov.vn/tin-tuc/phat-trien-nang-luong/chinh-thuc-phe-duyet-quy-hoach-dien-viii-dieu-chinh.html
Energy market in Vietnam - Trade Commissioner Service
https://www.tradecommissioner.gc.ca/vietnam-viet-nam/market-reports-etudes-de-marches/0007077.aspx?lang=eng
IEA's Southeast Asia Energy Outlook 2024 - SolarQuarter
https://solarquarter.com/2024/10/23/ieas-southeast-asia-energy-outlook-2024-balancing-growth-and-sustainability-in-energy-
demand-report/
Tripling renewables by 2030: interpreting the… - Climate Analytics
https://climateanalytics.org/publications/tripling-renewables-by-2030-interpreting-the-global-goal-at-the-regional-level
1 2 83 84
3 7 9 10 11 82
4 12 49 50
5 21 22 53 58 59 64 65 66 67 68 76 90
6 8 20 77 78 79 85
13 14 23 88
15 16 17 18 19 38 45 46 47 48
24 41 42 43 44 56
25 26 36 87
27 28 29 30 31 32 33 51 52 54 55 57 60 61 62 63 69 70 71 75 80
34 73
35
37
16
Petrovietnam tiên phong khai thác năng lượng tái tạo ngoài khơi
https://thiensoncorp.vn/petrovietnam-tien-phong-khai-thac-nang-luong-tai-tao-ngoai-khoi/
Petrovietnam tiên phong phát triển năng lượng tái tạo ngoài khơi
https://www.qdnd.vn/kinh-te/cac-van-de/petrovietnam-tien-phong-phat-trien-nang-luong-tai-tao-ngoai-khoi-741876
ADB offers solutions for green finance in Vietnam
https://aseanenergy.org/news-clipping/adb-offers-solutions-for-green-finance-in-vietnam/
Pioneering Innovation with Vietnam's BESS Pilot Project
https://energyalliance.org/pioneering-innovation-with-vietnams-bess-pilot-project/
Lộ Trình Phát Triển Năng Lượng Tái Tạo Tại Việt Nam Đến Năm 2030
https://vrenergy.vn/lo-trinh-phat-trien-nang-luong-tai-tao-tai-viet-nam-den-nam-2030/
Executive summary – Southeast Asia Energy Outlook 2024 - IEA
https://www.iea.org/reports/southeast-asia-energy-outlook-2024/executive-summary
Điều chỉnh Quy hoạch điện VIII - Đan xen thách thức, cơ hội cho ...
https://nangluongvietnam.vn/dieu-chinh-quy-hoach-dien-viii-dan-xen-thach-thuc-co-hoi-cho-phat-trien-nang-luong-tai-
tao-34110.html
39
40
72
74
81
86
89
17

Preview text:

Tổng quan Ngành Năng Lượng Tái Tạo tại Việt
Nam, Đông Nam Á và Châu Á Bảng Tóm Tắt Nhanh (2022) Việt Nam Đông Nam Á (ASEAN) Châu Á Chỉ tiêu Công
~33,8 GW điện mặt trời + suất
~44,5 GW (điện gió + mặt trời gió (2022) ; thủy điện ~1.961 GW (cuối 2023, điện tái ~21,7 GW; thủy điện ~22,9 ~50 GW (ước3 tính). Tổng chiếm hơn 50% công suất tạo (bao GW) . Quy mô hệ thống công suất NLTT ~84 GW NLTT toàn cầu) , dẫn đầu gồm điện đứ 1 ng đầu ASEAN . (ước tính, 10 nước là Trung Quốc và Ấ 4 n Độ. thủy 2 ASEAN). điện)
~55 tỷ kWh điện gió+mặt Hơn 1.000 tỷ kWh từ NLTT Sản ~130 tỷ kWh (2022, bao gồm
trời (2022, ước tính) –
(ước tính; Trung Quốc ~930 lượng
thủy điện, ~48% tổng sản Việt Nam đóng góp 69%
tỷ kWh từ gió & mặt trời điện tái lượng điện) ; nếu chỉ tính 5 trong số này . Nhiều
năm 2022). Châu Á chiếm tỉ tạo
điện gió+mặt trời+sinh khối
nước ASEAN có6 tỷ trọng
trọng lớn nhờ các thị trường (hàng
~34,8 tỷ kWh (13% tổng sản
NLTT thấp, trừ thủy điện Trung Quốc, Ấn Độ phát năm) lượng) . 5 (Lào, Myanmar). triển mạnh. ~14% (tỷ trọng điện
~30% (tỷ trọng điện tái tạo gió+mặt trời trung bình trong phát điện châu Á Tỷ
~48% (bao gồm thủy điện lớn) ASEAN) – Việt Nam cao
2022, kể cả thủy điện – chủ trọng ; ~13% nếu chỉ tính 5 nhất 13%, tiếp theo là yếu nhờ Trung Quốc ~29% NLTT gió+mặt trời . Thủy điện 577 Campuchia, Thái Lan... và Ấn Độ ~20% ). Xu trong cơ
vẫn chiếm tỷ trọng lớn (35% . Nếu tính cả thủy hướng tăng nhan7h khi cấu điện năm 2022) .
điện, một số nước (Lào, nhiều nước cam kết Net Bhutan*) vượt 50%. Zero.
Dẫn đầu toàn cầu về tăng
Bùng nổ 2018-2021 do giá FIT Tăng trung bình ~43%/ trưởng công suất (2023:
ưu đãi (công suất điện mặt
năm về sản lượng điện châu Á chiếm 69% bổ sung
trời tăng từ <1 GW lên ~16,5 gió+mặt trời giai đoạn Tăng NLTT mới toàn cầu) , chủ
GW, điện gió từ vài trăm MW 2015-2022 , nhưng có 4 trưởng 10 yếu nhờ Trung Quốc (+298 lên ~4 GW) . Tốc độ tăng
dấu hiệu chậm lại. ASEAN NLTT 8 GW năm 2023) . Nhiều
sản lượng gió + mặt trời ~67% vẫn còn 99% tiềm năng nước châu Á đang 12 tăng tốc
năm 2021, chậm lại ~15% năm
gió & mặt trời chưa khai
đầu tư NLTT để đạt mục 2022 sau khi hết FIT . thác . 9 11 tiêu 2030. 1 Chỉ tiêu (2022) Việt Nam Đông Nam Á (ASEAN) Châu Á B.Grimm Group (Thái Lan – tiên phong điện mặt
Các tập đoàn năng lượng
Trong nước: EVN (độc quyền trời, điện khí)
hàng đầu thế giới tập trung
truyền tải & mua điện); Các 15 ;Sindicatum tại châu Á: Trung Quốc:
tập đoàn tư nhân: Trung Nam (Singapore – phát triển Nhà phát triển lớn như
Group (dẫn đầu với dự án mặt NLTT vùng) 16 ;San State Power Investment
trời 450MW lớn nhất ĐNÁ 13 Miguel Corp (Philippines Corp, China Three Gorges
và đầu tư cả trạm 500kV tư – đa ngành, mở rộng
(thủy điện & điện gió),
nhân đầu tiên 14 ), Tập đoàn Doanh sang NLTT) Goldwind (SX tua-bin gió).
TTC (mía đường – sinh khối & nghiệp 17 ;JinkoSolar, Trina Ấn Độ: Adani Green, Tata
mặt trời), BIM Group, Tập tiêu Solar (Trung Quốc – cung Power Renewable, ReNew
đoàn BCG Energy, Xuân Thiện, biểu cấp pin NLMT hàng đầu Power. Nhật Bản/Hàn
Vũ Phong (EPC và phát triển khu vực) 18 19 ;AC điện mặt trời mái). Quốc: SoftBank Energy Nhà đầu Energy (Ayala,
(trước đây), ORIX, Hanwha... tư quốc tế: ACEN Philippines – mở rộng
Đa số các công ty dầu khí
(Philippines), B.Grimm (Thái),
đầu tư khắp ĐNÁ);Gulf/ quốc gia (PetroVietnam, Super Energy (Thái), liên EGCO (Thái Lan);TNB Petronas, Pertamina,
doanh Orsted-T&T (điện gió (Malaysia), PLN Sinopec) cũng lập chiến ngoài khơi), v.v. (Indonesia) đang chuyển lược đầu tư NLTT. dịch sang NLTT.
Giá FIT hào phóng giai đoạn Hầu hết các nước ASEAN
2017-2020 (Mặt trời: 9,35 USc/ ban hành cơ chế khuyến kWh; Gió: 8,5-9,8 USc/kWh) khích NLTT: Thái Lan có Trung Quốc đầu tư mạnh
thúc đẩy bùng nổ dự án 20 . FIT cho điện sinh khối,
lưới điện siêu cao áp để tích
FIT kết thúc gây khoảng trống điện rác; Malaysia,
hợp năng lượng mặt trời & chính sách 2021-2023; hiện Philippines tổ chức đấu
gió quy mô lớn. Ấn Độ có
chuyển sang đấu thầu giá trần thầu và thuế quan xanh;
chính sách đấu thầu lớn 21 22
. Lưới điện quá tải cục Indonesia đặt mục tiêu (Solar Parks, gói 175GW RE Chính
bộ (đặc biệt ở miền Trung) dẫn NLTT nhưng vướng độc năm 2022). Nhật Bản, Hàn sách &
đến cắt giảm 30-60% công quyền PLN; Singapore
Quốc trợ giá cho thuỷ điện Hạ tầng
suất nhiều dự án 23 . EVN đẩy mua điện xanh từ nước
và off-shore wind. Xu hướng
mạnh đầu tư lưới truyền tải và láng giềng. Hạ tầng
chung là cải tổ thị trường
thí điểm lưu trữ (dự án pin
truyền tải ASEAN yếu kết
điện, tạo thuận lợi cho tư
50MW với ADB) để hấp thụ
nối liên quốc gia, cần đầu
nhân và đầu tư vào lưu trữ
NLTT. Chính phủ đã phê duyệt tư ~$30 tỷ/năm đến 2035 năng lượng (TQ đã có
Quy hoạch ĐiệnVIII (2023) ưu 25 26 . Một số sáng >4GW pin lưu trữ).
tiên NLTT & lưới thông minh, kiến như
cho phép cơ chế mua bán điện ASEAN Power
Grid đang được đề xuất.
trực tiếp (DPPA) thí điểm 24 . 2 Chỉ tiêu (2022) Việt Nam Đông Nam Á (ASEAN) Châu Á ASEAN dự kiến đạt ~35% điện năng từ NLTT vào
Toàn cầu cần tăng gấp ~3,4
2035 35 , với tốc độ đầu
Tổng công suất NLTT (kể cả lần công suất NLTT lên tư cần tăng gấp 5 lần ~11,5 TW năm 2030 để giữ
thủy điện) ~121GW (theo
hiện tại để đạt mục tiêu
nhiệt độ <1,5°C 37 – phần
QHĐVIIIđiều chỉnh) – chiếm Paris 36 . Nhiều quốc gia
lớn phụ thuộc vào Châu Á.
khoảng 2/3 công suất điện cả Đông Nam Á cập nhật Trung Quốc cam kết nước 27 28 . Trong đó: điện mục tiêu 2030 sau
1.200GW gió+mặt trời năm Mục
gió 26-38GW trên bờ + ~6GW COP26/COP28, ví dụ: Thái
2030; Ấn Độ ~500GW. Nhật tiêu và
ngoài khơi 29 , điện mặt trời Lan hướng tới 50% công
Bản, Hàn Quốc hướng đến dự báo
46-73GW 30 , sinh khối + rác suất lắp mới là NLTT; trung hòa carbon 2050, (2030) ~3-5GW 31 , thủy điện Indonesia đặt mục tiêu
đang đẩy mạnh điện gió ~33GW 32 , lưu trữ (pin) 23% năng lượng sơ cấp ngoài khơi và hydro xanh. 10-16GW 33 . Dự báo NLTT từ NLTT. Xu hướng phát
Châu Á sẽ tiếp tục là động
(không kể thủy điện lớn) có
triển điện gió ngoài khơi
lực chính, nhưng cũng đối
thể chiếm ~30% điện thương (Việt Nam, Philippines) và
mặt thách thức về huy động phẩm năm 2030 34 . nhập khẩu điện xanh
vốn và cải cách thị trường (Singapore mua từ Lào,
để thu hút đầu tư quốc tế. Indonesia).
Chú thích: Bhutan không thuộc ASEAN nhưng có tỉ trọng thủy điện cao (>70%) – ví dụ điển hình của quốc gia châu
Á xuất khẩu điện tái tạo. Giới thiệu
Năng lượng tái tạo (NLTT) đã trở thành xu hướng chủ đạo trong phát triển điện lực tại Việt Nam cũng như
trên phạm vi khu vực Đông Nam Á và châu Á. Việt Nam nổi lên như một điểm sáng về bùng nổ điện mặt
trời và điện gió trong vài năm gần đây, góp phần đưa Đông Nam Á vào bản đồ năng lượng sạch của thế giới 6 10
. Sự chuyển dịch này diễn ra trong bối cảnh các quốc gia cam kết mạnh mẽ về giảm phát thải khí
nhà kính (Net Zero vào 2050 với Việt Nam) và nhu cầu năng lượng tăng cao phải được đáp ứng một cách
bền vững. Báo cáo này cung cấp cái nhìn chuyên sâu về ngành năng lượng tái tạo tại Việt Nam, so sánh với
bối cảnh Đông Nam Á và châu Á, bao gồm: các công ty tiêu biểu, các phân mảng công nghệ chính, hệ
thống hạ tầng & chính sách hỗ trợ, các số liệu thống kê cập nhật, và nhận định chuyên gia về triển vọng đến 2030.
1. Các Công Ty Tiêu Biểu Trong Ngành
Nhiều doanh nghiệp đã và đang đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển năng lượng tái tạo ở
Việt Nam và khu vực. Dưới đây là các công ty và nhà đầu tư tiêu biểu:
• Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN): Doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò độc quyền truyền tải và
mua điện. EVN sở hữu phần lớn các nhà máy thủy điện lớn và điều hành hệ thống điện quốc gia.
Quy mô hệ thống điện Việt Nam đã vươn lên đứng đầu ASEAN về công suất (80,6 GW năm 2023)
1 , trong đó EVN và các công ty thành viên quản lý khoảng 42% công suất (phần còn lại thuộc tư 3
tích hợp tỷ lệ NLTT ngày càng cao.
• Trung Nam Group: Tập đoàn tư nhân tiên phong, nổi bật với dự án Điện mặt trời Trung Nam
Thuận Nam 450MW – trang trại điện mặt trời lớn nhất Đông Nam Á khi khánh thành năm 2020 13 .
Trung Nam đã đầu tư ~603 triệu USD (bao gồm 517 triệu cho nhà máy và 86 triệu cho hạ tầng truyền
tải 500kV) cho dự án này 13 . Doanh nghiệp còn phát triển nhiều nhà máy điện gió (Trung Nam
Đông Nam Bộ 204MW, Trung Nam Đắk Lắk 400MW, v.v.) và đang xây dựng thủy điện tích năng.
Trung Nam cũng là công ty tư nhân đầu tiên tự xây dựng trạm biến áp 500kV và đường dây
220/500kV để giải tỏa công suất NLTT, góp phần giảm nghẽn lưới cho khu vực Ninh Thuận – Bình Thuận .14
• TTC Group (Thành Thành Công): Tập đoàn đa ngành của Việt Nam, xuất phát từ lĩnh vực mía đường
và tiên phong trong điện sinh khối (đốt bã mía phát điện). TTC sở hữu nhiều nhà máy điện sinh khối
gắn với các nhà máy đường, đồng thời đầu tư sang điện mặt trời quy mô lớn (như trang trại điện
mặt trời TTC Phong Điền 48MW năm 2018...). TTC được xếp trong nhóm những nhà phát triển NLTT hàng đầu khu vực 38 .
• BIM Group: Doanh nghiệp tư nhân lớn khác, đã hợp tác với AC Energy (thuộc Tập đoàn Ayala,
Philippines) triển khai cụm điện mặt trời hơn 300MW tại Ninh Thuận (BIM 1, 2, 3) và đang mở rộng
sang điện gió, điện mặt trời nổi.
• Bamboo Capital (BCG Energy): Công ty năng lượng thuộc tập đoàn BCG, nổi lên nhanh với danh
mục nhiều dự án điện mặt trời trang trại và áp mái trên khắp Việt Nam (hơn 500MW), đồng thời đầu
tư điện gió (Trang trại Phù Mỹ 330MW ở Bình Định).
• Xuân Thiện Group: Nhà đầu tư tư nhân đã xây dựng cụm điện mặt trời Xuân Thiện Ea Súp (Đắk
Lắk) với tổng công suất lên tới 600MW, nằm trong số các dự án lớn nhất cả nước. Xuân Thiện cũng
có kế hoạch về điện gió và thủy điện nhỏ.
• PetroVietnam (PVN): Tập đoàn Dầu khí quốc gia đang định hướng mở rộng sang điện gió ngoài
khơi. PVN đã được cấp phép khảo sát tiềm năng gió ngoài khơi và liên danh với một số đối tác (vd:
Orsted của Đan Mạch cùng T&T) chuẩn bị các dự án lớn ngoài khơi Bình Thuận, Bến Tre 39 . PVN coi
điện gió biển là lĩnh vực “tiên phong” để giữ vững vai trò trụ cột năng lượng quốc gia trong tương lai 40 .
• Vũ Phong Energy Group: Doanh nghiệp tư nhân nội địa, thành lập năm 2009, chuyên về điện mặt
trời áp mái và giải pháp EPC/O&M. Vũ Phong đã thực hiện >100 dự án điện mặt trời trang trại và áp
mái, hiện tập trung vào mô hình điện mặt trời tự dùng cho doanh nghiệp 41 42 . Công ty này tiên
phong hợp tác theo hình thức PPA tư nhân: đầu tư hệ thống điện mặt trời mái nhà cho các nhà máy,
bán điện trực tiếp cho khách với giá cạnh tranh EVN 43 44 .
• Nhà đầu tư quốc tế tại Việt Nam: Làn sóng NLTT thu hút nhiều nhà đầu tư ngoại. AC Energy
(ACEN) từ Philippines đã liên doanh với BIM Group và UPC Renewables triển khai các dự án lớn
(ACEN nắm danh mục ~1 GW tại Việt Nam). B.Grimm (tập đoàn năng lượng Thái Lan) đầu tư các nhà
máy mặt trời ở Tây Ninh, Phú Yên. Super Energy (Thái Lan) sở hữu danh mục ~1 GW điện mặt trời và
gió gần bờ sau nhiều thương vụ M&A. Các công ty châu Âu như EDPR, Mainstream, Orsted ký biên 4
bản ghi nhớ phát triển điện gió ngoài khơi với đối tác Việt Nam. Nhật Bản và Hàn Quốc cũng tham
gia qua JAICA, KEXIM và doanh nghiệp tư nhân như Hanwha, Sumitomo để đầu tư hoặc cung cấp công nghệ.
• Tại Đông Nam Á: Thị trường khu vực có sự góp mặt của cả tập đoàn bản địa lẫn quốc tế:
• Thái Lan: B.Grimm Power – doanh nghiệp tư nhân lâu đời, đã phát triển hàng loạt dự án NLTT (mặt
trời, gió, sinh khối) tại Thái và nước lân cận 45 . Gulf Energy, EGCO, BCPG cũng đầu tư mạnh vào
NLTT trong và ngoài nước 46 . Thái Lan còn là trung tâm sản xuất pin mặt trời (nhà máy của Jinko, Trina).
• Philippines: AC Energy (Ayala) mở rộng nhanh với mục tiêu 5GW NLTT 2025, đầu tư ở Philippines,
Việt Nam, Úc... San Miguel Corporation, tập đoàn đa ngành lớn, cũng chuyển dịch sang năng lượng
sạch (điện mặt trời nổi, thủy điện tích năng) 47 .
• Malaysia: TNB (điện lực quốc gia) đặt mục tiêu 8,3 GW NLTT năm 2025, hiện chủ yếu qua các dự án
trong nước và mua lại ở Anh, Ấn Độ. Petronas lập bộ phận năng lượng mới, mua lại Amplus Solar
(Ấn Độ) và đầu tư thử nghiệm trang trại mặt trời.
• Indonesia: PLN (độc quyền điện) đang thử nghiệm các dự án NLTT quy mô nhỏ do hạn chế về thể
chế. Tuy nhiên, các công ty tư nhân như Barito Pacific hay Pertamina Power bắt đầu tham gia điện
địa nhiệt, điện mặt trời.
• Singapore: Ít tiềm năng nội địa, các công ty như Sembcorp và Keppel đầu tư trang trại NLTT ở nước
ngoài (nhập khẩu điện mặt trời từ Lào, dự án gió ở Australia). Sunseap (nay thuộc EDP Renewables)
trước đây triển khai nhiều dự án áp mái ở Việt Nam.
• Tại Châu Á (nổi bật):
• Trung Quốc: Là quê hương của nhiều tập đoàn NLTT lớn nhất thế giới. Các nhà sản xuất như
JinkoSolar, Trina Solar (pin mặt trời) và Goldwind, Envision (tua-bin gió) chi phối nguồn cung thiết bị toàn cầu 18 48
. Các nhà phát triển dự án hàng đầu gồm State Power Investment Corp (SPIC) –
chủ đầu tư công viên điện gió và mặt trời lớn, China Three Gorges – khai thác thủy điện và điện gió
nội địa lẫn đầu tư nước ngoài. Nhờ sự vươn lên của doanh nghiệp, Trung Quốc năm 2023 lắp đặt
mới 298 GW NLTT – nhiều ngang phần còn lại của thế giới cộng lại 49 .
• Ấn Độ: Các tập đoàn tư nhân dẫn dắt thị trường: Adani Green Energy (sở hữu >20 GW công suất
NLTT), ReNew Power, Tata Power Renewable... Nhà nước Ấn Độ cũng đặt mục tiêu đầy tham vọng
(500 GW năm 2030) và tạo cơ hội cho doanh nghiệp nội địa vươn lên.
• Nhật Bản & Hàn Quốc: Nhiều công ty công nghiệp lớn như SoftBank (SB Energy), ORIX,
Mitsubishi (Nhật) hay Hanwha, KEPCO (Hàn) tham gia phát triển điện mặt trời, điện gió (đặc biệt gió
ngoài khơi). Họ cũng đầu tư ra nước ngoài (ví dụ: SoftBank đầu tư trang trại mặt trời tại Ấn Độ; ORIX
mua cổ phần nhà máy điện mặt trời tại Việt Nam).
Nhìn chung, bức tranh doanh nghiệp NLTT rất đa dạng – từ doanh nghiệp nhà nước truyền thống, tập đoàn
tư nhân trong nước cho đến nhà đầu tư quốc tế. Sự cạnh tranh và hợp tác giữa các thành phần này đang
thúc đẩy chuyển dịch năng lượng ngày càng nhanh tại Việt Nam và toàn châu Á. 5
2. Các Phân Mảng Năng Lượng Tái Tạo Chính
Ngành NLTT bao gồm nhiều phân mảng công nghệ, mỗi loại có vai trò và mức đóng góp khác nhau trong
cơ cấu năng lượng. Dưới đây là tình hình từng phân mảng tại Việt Nam, kèm so sánh khu vực và xu hướng phát triển 5-10 năm tới:
2.1 Điện Mặt Trời (Năng lượng mặt trời)
Bức xạ mặt trời tốt cùng chính sách hỗ trợ mạnh mẽ đã đưa điện mặt trời (quang điện – PV) trở thành
phân mảng tăng trưởng ngoạn mục nhất tại Việt Nam. Từ chỗ gần như bằng 0 năm 2015, công suất lắp đặt
điện mặt trời Việt Nam vọt lên khoảng 16.500MW vào cuối 2020 (bao gồm ~7.800MW điện mặt trời áp mái) 8 .
6 Sản lượng điện mặt trời năm 2022 đạt khoảng 26TWh, chiếm ~9-10% tổng điện lượng cả nước .
Việt Nam hiện dẫn đầu Đông Nam Á về điện mặt trời, đóng góp 69% sản lượng điện mặt trời & điện gió
của cả ASEAN năm 2022 6 .
Bức ảnh trên cho thấy trang trại điện mặt trời Dầu Tiếng 3 – một trong những dự án năng lượng mặt trời lớn nhất
Việt Nam (450MW tại Tây Ninh). Các dự án quy mô lớn như vậy đã đưa Việt Nam trở thành quốc gia đi đầu Đông
Nam Á về phát triển điện mặt trời 13 . Tuy nhiên, tốc độ phát triển quá nhanh cũng gây quá tải lưới điện cục bộ,
đòi hỏi đầu tư lớn vào hạ tầng truyền tải đồng bộ.
Vai trò & đóng góp: Điện mặt trời hiện đóng góp sản lượng lớn nhất trong các nguồn NLTT mới (ngoài thủy
điện). Năm 2022, điện mặt trời chiếm khoảng 10% sản lượng điện Việt Nam 5 . Tại một số thời điểm ban
ngày, miền Nam Việt Nam đã thừa điện mặt trời, buộc hệ thống phải cắt giảm nguồn truyền thống. Ở Đông
Nam Á, sau Việt Nam thì Thái Lan và Malaysia cũng phát triển điện mặt trời đáng kể (Thái Lan ~3 GW, Indo
~0.2 GW...). Tuy nhiên so với quy mô châu Á, công suất PV của Việt Nam vẫn nhỏ nếu đặt cạnh Trung Quốc
(~392 GW năm 2022) hoặc Ấn Độ (~62 GW) 50 12 .
Xu hướng & dự báo: Tương lai 5-10 năm tới, điện mặt trời tiếp tục mở rộng nhưng với nhịp độ ổn định hơn.
Quy hoạch Điện VIII đặt mục tiêu 46-73 GW điện mặt trời năm 2030 (tùy kịch bản phụ tải) 51 52 , tức gấp
khoảng 3 lần hiện tại. Trọng tâm sẽ là: - Điện mặt trời mái nhà tự tiêu thụ: Nhiều tiềm năng tại các khu công
nghiệp, thương mại. Chính phủ khuyến khích mô hình điện mặt trời áp mái cho doanh nghiệp để giảm
áp lực lưới và nhu cầu cao điểm 53 . Các chuyên gia dự báo đây là “cơ hội lớn” khi hàng ngàn nhà máy vẫn
chưa lắp điện mặt trời mái 41 . - Điện mặt trời nổi: Việt Nam có nhiều hồ thủy điện lớn (Thác Bà, Trị An, v.v.)
thích hợp làm dự án nổi. PDP8 nhấn mạnh ưu tiên điện mặt trời nổi nếu phù hợp khả năng hấp thụ của lưới
54 . - Xuất khẩu điện mặt trời: Nếu dư thừa, Việt Nam có thể xuất khẩu sang Campuchia, Singapore (đã có kế
hoạch Singapore nhập 100 MW từ Việt Nam). Năm 2030 dự kiến Việt Nam xuất ~400 MW sang Campuchia
55 . - Công nghệ & lưu trữ: Xu hướng sử dụng hệ thống lưu trữ (pin BESS) kết hợp điện mặt trời để cung cấp
điện ổn định 24/7 đang nổi lên. Chi phí pin giảm sẽ thúc đẩy mô hình “solar + storage” nhằm khắc phục tính
gián đoạn của mặt trời.
Thách thức chính với điện mặt trời là hấp thụ công suất vào lưới điện. Bài học năm 2019-2020 khi quá
nhiều dự án PV tập trung ở Ninh Thuận, Bình Thuận đã dẫn đến quá tải và cắt giảm bắt buộc 30-60% công
suất ở đỉnh điểm trưa hè 23 . Hiện tượng “bùng nổ rồi hạ nhiệt” cũng xảy ra trong khu vực: năm 2022 tăng
trưởng sản lượng PV ASEAN chỉ 15%, giảm mạnh từ mức 67% năm 2021 9 do Việt Nam hết ưu đãi FIT.
Tương lai, điện mặt trời sẽ phát triển bền vững hơn, đi đôi với nâng cấp lưới và cơ chế đấu thầu cạnh
tranh để giảm giá thành. 6
2.2 Điện Gió (Trên bờ, Gần bờ và Ngoài khơi)
Điện gió là trụ cột tiếp theo trong danh mục NLTT của Việt Nam. Nhờ đường bờ biển dài và tốc độ gió khá
tốt (trung bình 7 m/s ở nhiều vùng ven biển) 56 , Việt Nam có tiềm năng gió rất lớn ~600 GW (kỹ thuật, gồm
cả trên bờ và ngoài khơi) 57 . Đến cuối 2021, Việt Nam đã lắp đặt khoảng 4.000 MW điện gió (chủ yếu trên
bờ và gần bờ) – đứng đầu ASEAN. Sản lượng điện gió năm 2022 đạt ~8,8 tỷ kWh 58 , chiếm ~3% tổng điện
lượng. Theo Ember, tăng trưởng điện gió của Việt Nam giai đoạn 2015-2022 là +8 TWh, cao nhất khu vực 10 .
Các tua-bin điện gió gần bờ tại tỉnh Bạc Liêu, Việt Nam. Điện gió gần bờ (trên nền móng ven biển) là thế mạnh
giúp Việt Nam nhanh chóng nâng công suất điện gió lên ~4 GW tính đến 2021. Trong thập kỷ tới, Việt Nam định
hướng phát triển mạnh điện gió ngoài khơi với công nghệ tua-bin lớn hơn và xa bờ hơn.
Vai trò & đóng góp: Hiện tại điện gió đóng góp sản lượng ít hơn điện mặt trời, do nhiều dự án gió kịp COD
cuối 2021 nhưng vận hành chưa đủ năm. Tuy nhiên, điện gió được xem là xương sống tương lai của hệ
thống NLTT Việt Nam. Dự thảo Quy hoạch VIII từng dự tính điện gió (bờ + gần bờ + ngoài khơi) sẽ chiếm
tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu nguồn điện năm 2045 59 . Ở tầm khu vực, ngoài Việt Nam, Thái Lan (~1,5
GW) và Philippines (~0,5 GW) cũng đang phát triển điện gió, nhưng chưa nước nào bắt kịp Việt Nam về quy
mô. Trung Quốc và Ấn Độ nằm trong top 3 quốc gia gió lớn nhất thế giới (TQ ~330 GW, Ấn ~42 GW năm
2022), do đó châu Á chiếm phần lớn công suất điện gió toàn cầu 50 12 .
Xu hướng & dự báo: Điện gió Việt Nam đang chuyển mình sang ngoài khơi (offshore). Một số xu hướng
chính: - Điện gió trên bờ & gần bờ: Tiếp tục mở rộng lên 26-38 GW năm 2030 theo QHĐVIII 29 . Các dự án
trên đất liền ở Tây Nguyên, Nam Trung Bộ sẽ tăng thêm, đồng thời tận dụng dải bờ biển nông để dựng tua-
bin gần bờ (như mô hình Bạc Liêu, Trà Vinh...). - Điện gió ngoài khơi: Mục tiêu 6.000MW năm 2030 (cho nhu
cầu nội địa) 60 ,6 0có thể tăng lên ~17 GW vào 2035
. Nhiều dự án ngoài khơi công suất lớn (1-3 GW mỗi
dự án) đang nghiên cứu ở các tỉnh như Bình Thuận, Bến Tre, Sóc Trăng. Điện gió ngoài khơi cần vốn đầu tư
rất cao và công nghệ phức tạp, dự kiến chủ yếu hợp tác với các công ty châu Âu giàu kinh nghiệm (Orsted,
CIP, Equinor...). Việt Nam kỳ vọng phát triển ngành công nghiệp phụ trợ quanh lĩnh vực này (cảng biển, chế
tạo móng, lắp ráp turbine). - Chi phí và đấu thầu: Sau khi hết FIT (8,5 USc/kWh cho dự án COD trước 11/2021)
20 , giá điện gió mới sẽ xác định qua đấu thầu hoặc đàm phán. Chính phủ đã ban hành khung giá trần cho
điện gió chuyển tiếp (~6-7 USc/kWh tùy loại) 21 . Dự báo giá điện gió sẽ giảm dần nhờ tua-bin lớn hơn (hiện
đã >5-8 MW cho onshore và 12-15 MW cho offshore). - Tích hợp lưới: Điện gió có ưu thế sản xuất vào buổi tối
(gió thường mạnh hơn vào chiều tối), phần nào bổ sung cho điện mặt trời. Tuy vậy vẫn cần các nguồn dự
phòng hoặc lưu trữ để đảm bảo ổn định. Đầu tư lưới truyền tải từ các trung tâm gió (ví dụ Tây Nguyên) về
phụ tải lớn đang được lên kế hoạch (EVN xây thêm các đường dây 500kV kết nối miền Trung – Nam).
Nhìn rộng ra khu vực, Philippines đang nổi lên với luật cho phép 100% vốn FDI vào điện gió ngoài khơi, thu
hút Orsted, Copenhagen Infrastructure Partners đề xuất dự án vài GW. Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản
cũng phát triển mạnh điện gió ngoài khơi trong khu vực Đông Á (đến 2030: Đài Loan ~5.5 GW, Nhật ~10 GW,
Hàn ~12 GW). Những tiến bộ kỹ thuật trong ngành gió (tua-bin >15 MW, lắp nổi) sẽ mở ra cơ hội khai thác
vùng biển xa bờ hơn, sản lượng cao hơn vào cuối thập kỷ.
2.3 Thủy Điện (Thủy điện lớn & thủy điện nhỏ)
Thủy điện là nguồn năng lượng tái tạo truyền thống và lâu đời nhất trong cơ cấu điện Việt Nam. Hiện
nay, nếu tính cả các nhà máy lớn (Hòa Bình, Sơn La, Trị An...) lẫn thủy điện nhỏ (<30MW), tổng công suất 7
thủy điện đạt khoảng 22,9 GW 2 5, đóng góp ~95 tỷ kWh năm 2022 (35% điện lượng) . Như vậy, thủy
điện vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong các nguồn NLTT hiện tại. Trong ASEAN, nhiều quốc gia phụ thuộc
thủy điện: Lào (~7.2 GW, xuất khẩu phần lớn sang Thái, Việt), Myanmar (~3.3 GW). Bhutan (Nam Á) và Nepal
cũng khai thác hầu hết điện từ thủy năng.
Thủy điện nhỏ (công suất nhỏ lắp trên các sông suối địa phương) phát triển mạnh giai đoạn 2005-2015 ở
Việt Nam. Hàng trăm dự án thủy điện nhỏ (<30 MW) tổng cộng vài nghìn MW đã giúp điện về nông thôn
miền núi, nhưng cũng gây một số tác động môi trường (chiếm đất, ảnh hưởng dòng chảy). Hiện Việt Nam
hạn chế cấp mới dự án thủy điện vừa và nhỏ để bảo vệ rừng.
Vai trò & đóng góp: Thủy điện có vai trò nguồn cung ổn định và điều tần linh hoạt. Hồ thủy điện lớn như
Sơn La (2.400 MW) ngoài phát điện còn tham gia chống lũ, cấp nước. Trong hệ thống điện ngày càng nhiều
năng lượng tái tạo biến động, thủy điện là nguồn điều tiết quý giá – có thể tăng/giảm công suất nhanh
chóng bù cho dao động của điện mặt trời, điện gió. Tuy vậy, thủy điện phụ thuộc vào lượng mưa: năm nào
hạn hán thì sản lượng giảm, như 2019-2020 ít nước đã khiến EVN phải huy động nhiệt điện nhiều hơn.
Xu hướng & dự báo: Tiềm năng thủy điện kinh tế của Việt Nam ước khoảng 40 GW, hầu hết đã khai thác
hoặc có kế hoạch tới 2030 61 . Quy hoạch VIII dự kiến 33,3-34,7 GW thủy điện năm 2030 (tăng không
nhiều, chủ yếu dự án đang xây như Hòa Bình mở rộng, Ialy mở rộng) 32 . Sau 2030, gần như không còn dư
địa làm thêm thủy điện lớn do các sông chính đã xây đập. Trọng tâm sẽ là: - Thủy điện tích năng (pumped
storage): Đây là dạng nhà máy dùng điện dư thừa (ban đêm) bơm nước lên hồ cao, để phát điện giờ cao
điểm. Việt Nam đặt mục tiêu 2.400-6.000MW thủy điện tích năng đến 2030 62 (dự án đầu tiên 1.200 MW
ở Ninh Thuận đã được phê duyệt cho Trung Nam Group). Đến 2050 có thể ~20 GW tích năng hỗ trợ tích hợp
NLTT lớn 62 . - Cải tạo, mở rộng hiệu suất: Nâng cấp tua-bin cho các nhà máy cũ để tăng công suất, thêm
cửa xả để linh hoạt vận hành mùa lũ – đây cũng là hướng đi để tăng nhẹ công suất không cần xây đập mới.
- Thủy điện khu vực: Thúc đẩy liên kết lưới để nhập khẩu thủy điện từ Lào, Trung Quốc. Hiện Việt Nam đã
ký mua 5.000 MW từ Lào giai đoạn 2025-2030 (một phần từ thủy điện của Lào) 63 .
Trên phạm vi ASEAN và châu Á, thủy điện vẫn là nguồn tái tạo chính ở nhiều nước. Trung Quốc (~390 GW
thủy điện) và Ấn Độ (~51 GW) đứng đầu về công suất. Xu hướng tương lai nghiêng về các dự án thủy điện
tích năng và đa mục tiêu, hơn là thủy điện chặn sông mới (do lo ngại môi trường và di dân). Thủy điện sẽ
tiếp tục cung cấp điện nền ổn định, hỗ trợ đắc lực cho lưới điện nhiều năng lượng tái tạo biến động.
2.4 Sinh Khối và Điện Từ Chất Thải (Biomass & Waste-to-Energy)
Đây là phân mảng tận dụng nguồn hữu cơ để phát điện: gồm sinh khối từ nông nghiệp (bã mía, trấu, gỗ,
phụ phẩm) và rác thải rắn sinh hoạt (đốt rác phát điện). Tại Việt Nam, điện sinh khối và điện rác còn khiêm
tốn nhưng đang được chú ý hơn: - Điện sinh khối: Công suất khoảng vài trăm MW, chủ yếu từ các nhà máy
mía đường (đốt bã mía). Các dự án tiêu biểu: nhiệt điện sinh khối An Khê 95MW, KCP Phú Yên 60MW...
Ngoài ra, một số nhà máy điện dùng trấu, gỗ vụn, vỏ điều quy mô nhỏ (<10 MW) rải rác ở ĐBSCL và Tây
Nguyên. - Điện rác (waste-to-energy): Mới nổi, với các dự án ở Hà Nội, TP.HCM và vài đô thị. Năm 2022
đánh dấu bước tiến khi nhà máy điện rác Sóc Sơn (Hà Nội) 75MW vận hành phần đầu, Nhà máy điện rác
Seraphin 37MW khởi công 64 65
. Tổng công suất điện rác tăng từ 7,5 MW (2021) lên ~60 MW (2022)66 .
Các tỉnh khác như Bắc Ninh, Hải Phòng, Đồng Nai cũng có dự án điện rác nhỏ đang xây 67 .
Vai trò & đóng góp: Dù chiếm tỷ trọng nhỏ (chưa tới 1% điện năng), sinh khối và điện rác có vai trò đặc thù:
- Sinh khối giúp tận dụng phụ phẩm nông nghiệp, giảm đốt lãng phí, đồng thời cung cấp điện ổn định (có 8
thể phát theo phụ tải do đốt nhiên liệu chủ động). Việt Nam là nước nông nghiệp nên tiềm năng sinh khối
đáng kể (bã mía, trấu từ lúa gạo, vỏ cà phê...). Nếu được đầu tư, sinh khối có thể cung cấp hàng tỷ kWh điện
đồng thời giảm ô nhiễm do đốt phụ phẩm ngoài đồng. - Điện rác giải quyết vấn đề rác thải đô thị. Mỗi nhà
máy điện rác vài chục MW có thể xử lý hàng nghìn tấn rác/ngày, giảm chôn lấp và phát điện cho lưới địa
phương. Ví dụ: Nhà máy điện rác Sóc Sơn dự kiến xử lý 4.000 tấn rác khô/ngày, giảm tỷ lệ chôn lấp ở Hà Nội từ 100% xuống 3% 68 .
Xu hướng & dự báo: Chính phủ khuyến khích phát triển mạnh hơn mảng này: - Quy hoạch VIII đặt mục
tiêu sinh khối ~1.500-2.700 MW, điện rác ~1.400-2.100 MW vào năm 2030 31 . Nghĩa là tăng gấp ~5 lần so
với hiện nay. - Cơ chế giá FIT cho sinh khối (~7,03 USc/kWh điện đồng phát từ bã mía) và điện rác (10,05 USc/
kWh) đã có, thu hút đầu tư tư nhân. Nhiều nhà máy mía đường đang nâng cấp tuabin phát điện bán lên
lưới. - Điện rác dự kiến bùng nổ tại các thành phố lớn: Hà Nội hoàn thiện 2 nhà máy (Sóc Sơn, Seraphin),
TP.HCM đang xây nhà máy điện rác 40 MW ở Củ Chi. Cả nước dự kiến hàng chục nhà máy điện rác nhỏ (<10
MW) ở các tỉnh để giải quyết rác sinh hoạt. - Công nghệ mới: khí hóa sinh khối, tận dụng biogas từ bãi rác
hoặc trang trại chăn nuôi để phát điện cũng là hướng tiềm năng. Ví dụ, dự án điện từ khí bãi rác Gò Cát
(TP.HCM) hoạt động từ 2017.
So với khu vực, Thái Lan phát triển sinh khối khá tốt (điện từ vỏ trấu, cọ dầu ~2.000 GWh/năm). Indonesia,
Malaysia cũng dùng phụ phẩm cọ dầu, gỗ để phát điện ở một số nơi. Singapore nổi bật về điện rác (4 nhà
máy đốt rác cung cấp ~3% điện nước này). Xu hướng chung là tích hợp quản lý rác thải với phát năng lượng,
tạo vòng kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải methane từ bãi rác.
2.5 Hydrogen Xanh (Nhiên liệu Hydro tái tạo)
Hydrogen xanh là lĩnh vực còn sơ khai tại Việt Nam, nhưng được coi là năng lượng tương lai để khử
carbon cho các ngành công nghiệp và giao thông khó điện hóa. Hydro xanh được sản xuất bằng điện phân
nước sử dụng điện tái tạo (như điện gió, mặt trời) nên không phát thải CO2. Hiện chưa có cơ sở sản xuất
hydro xanh thương mại nào ở Việt Nam, nhưng có nhiều nghiên cứu và dự án ý tưởng: - Tập đoàn TGS
Green Hydrogen năm 2022 khởi công nhà máy thử nghiệm tại Bến Tre, công suất điện phân 24MW (sản
xuất ~2.000 tấn H₂/năm từ điện gió, dự kiến 2024 vận hành). - Các tập đoàn dầu khí như PVN đang nghiên
cứu sản xuất ammonia xanh (NH₃ từ hydro xanh) dùng làm nhiên liệu cho nhiệt điện thay than vào tương lai 69 70
. - Một số MOU ký kết với đối tác châu Âu về phát triển hydrogen từ điện gió ngoài khơi (CIP đề
xuất cụm điện gió kèm sản xuất H₂ xuất khẩu).
Vai trò & tiềm năng: Hydro xanh có thể trở thành mắt xích quan trọng để tích trữ năng lượng tái tạo dư
thừa và cung cấp nhiên liệu sạch: - Khi điện gió, mặt trời sản xuất vượt nhu cầu, dùng để điện phân nước
tạo hydro, sau đó hydro có thể dùng phát điện lại (qua turbine khí hydro) hoặc làm nhiên liệu cho công
nghiệp (thép, phân bón) và giao thông (pin nhiên liệu). - Việt Nam với tiềm năng gió ngoài khơi khổng lồ
(>600 GW) 57 có lợi thế để sản xuất lượng lớn hydro xanh, phục vụ xuất khẩu (như EU, Nhật đang có nhu
cầu) hoặc thay thế xăng dầu trong nước (ví dụ: cho xe tải, tàu biển).
Xu hướng & thách thức: Giai đoạn 2025-2035 dự kiến các dự án thí điểm sẽ định hình ngành này: - Chiến
lược Quốc gia về hydrogen: Bộ Công Thương đang xây dựng lộ trình cho nhiên liệu hydro đến 2030-2050.
Mục tiêu trung hạn có thể là 10% ammonia cho nhiệt điện than được thay bằng ammonia xanh vào 2050 71 70
. - Dự án tích hợp lớn: Một số đề xuất “điện gió ngoài khơi + hydro” như tỉnh Bình Thuận kêu gọi
đầu tư cụm điện gió 5 GW sản xuất H₂ lỏng xuất khẩu. PDP8 cũng nhắc đến khả năng dành 15.000 MW điện
gió ngoài khơi cho sản xuất năng lượng mới (hydro/ammonia) vào 2035 60 . - Thách thức: Chi phí sản 9
xuất hydro xanh hiện còn rất cao (3-6 USD/kg). Cần giảm giá điện tái tạo và chi phí thiết bị điện phân ~1/3
hiện nay để cạnh tranh hydro xám. Công nghệ lưu trữ, vận chuyển hydro cũng đòi hỏi hạ tầng mới (đường
ống, cảng chuyên dụng nếu xuất khẩu ammonia).
Trên thế giới, hydrogen xanh đang “nóng” ở Trung Đông, châu Âu nhưng Đông Nam Á còn chậm. Malaysia
và Brunei có kế hoạch xuất khẩu ammonia xanh tận dụng cơ sở hạ tầng LNG sẵn có. Singapore xem hydro
như giải pháp nhập khẩu năng lượng sạch dài hạn (vì không đủ đất cho NLTT). Dù còn ở bước đầu,
hydrogen xanh được dự báo sẽ tham gia mạnh từ 2030 trở đi, đặc biệt khi các nước châu Á hiện thực hóa
cam kết Net Zero và cần nhiên liệu sạch cho công nghiệp.
2.6 Lưu Trữ Năng Lượng (Battery, BESS)
Khả năng lưu trữ điện năng là “chìa khóa” để năng lượng tái tạo có thể thay thế hoàn toàn nhiên liệu hóa
thạch trong dài hạn. Ngoài thủy điện tích năng đã đề cập, công nghệ pin lưu trữ (BESS) quy mô lớn đang
bắt đầu được triển khai tại Việt Nam: - Năm 2023, EVN hợp tác ADB và Tổ chức Hợp tác năng lượng toàn cầu
(GEAPP) để thí điểm dự án 50MW Battery Energy Storage (BESS) đầu tiên, dự kiến đặt tại lưới phân phối
miền Bắc 72 73 . Mục tiêu tới 2030 có ~300 MW BESS vận hành74 . - Một số trang trại điện mặt trời tư
nhân cũng lắp pin quy mô nhỏ (vài MWh) để hỗ trợ điều độ nội bộ. - Quy hoạch VIII đặt mục tiêu rất cao:
10.000-16.300 MW công suất pin lưu trữ vào 2030 (tương đương 5,5-6,9% tổng công suất) 33 . Đến 2050
có thể cần ~96 GW pin lưu trữ nếu NLTT chiếm tỷ trọng lớn 33 .
Vai trò: Pin lưu trữ giúp cân bằng cung cầu tức thời, đặc biệt với điện mặt trời và gió vốn phụ thuộc thời
tiết. Lợi ích gồm: - Giảm cắt giảm NLTT khi thừa: lưu trữ điện thừa buổi trưa để phát buổi tối. - Ổn định tần
số, điện áp: xả/nhập công suất trong mili-giây, tăng độ tin cậy của lưới. - Tránh quá tải đường dây: đặt BESS
gần nguồn NLTT để xả vào lưới khi đường truyền có đủ khả năng, thay vì đồng loạt giờ cao điểm.
Thách thức: Chi phí pin Li-ion còn cao (~300-400 USD/kWh lắp đặt). Nguồn vốn và mô hình kinh doanh cho
BESS chưa rõ (bán điện giờ cao điểm giá cao? dịch vụ phụ trợ trả phí?). Tuy nhiên, giá pin đã giảm >80%
thập kỷ qua và sẽ tiếp tục giảm, khiến BESS khả thi về kinh tế trước 2030. Ngoài ra, vấn đề an toàn cháy nổ,
tái chế pin cũng cần quản lý chặt.
Xu hướng: Một khi thị trường điện mở rộng, các nhà máy NLTT có thể tự lắp BESS để bán điện linh hoạt
(điện mặt trời có thể bán giá cao buổi tối nhờ pin). Khu vực ASEAN cũng đã có bước đi: Thái Lan năm 2022
khánh thành hệ thống BESS 45MW/136MWh (dự án Sirindhorn kết hợp điện mặt trời nổi); Singapore xây
trạm BESS 200MW để dự phòng lưới. Trung Quốc hiện dẫn đầu về lắp đặt BESS (4,9 GW năm 2022) để đi
kèm các dự án gió, mặt trời khổng lồ. Dự kiến từ nay tới 2030, công nghệ lưu trữ (pin Lithium, pin natri-ion,
pin lưu lượng...) sẽ bùng nổ song song với NLTT, trở thành phần không thể thiếu của hệ thống điện hiện đại.
3. Hệ Thống Hỗ Trợ Phát Triển Năng Lượng Tái Tạo
Để ngành NLTT phát triển bền vững, không thể thiếu các hệ thống hỗ trợ bao gồm hạ tầng lưới điện, lưu
trữ, cơ chế chính sách và thị trường điện. Phần này phân tích những yếu tố đó tại Việt Nam và so sánh với khu vực. 10
3.1 Hạ Tầng Truyền Tải và Phân Phối Điện
Sự bùng nổ điện gió, mặt trời tại Việt Nam đã tạo áp lực lớn lên hạ tầng truyền tải vốn được xây dựng chủ
yếu cho nguồn điện tập trung truyền thống. Các thách thức và nỗ lực chính gồm:
• Quá tải lưới điện khu vực nhiều NLTT: Như đã nêu, tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận đã sớm vượt
công suất truyền tải sau làn sóng dự án 2019. Đến giữa 2019, có 82 nhà máy điện mặt trời
(~4.464MW) tại miền Trung chưa thể giải tỏa hết công suất 23 . EVN buộc phải thực hiện cắt giảm
(curtailment) lên tới 35-60% tại một số thời điểm, gây thiệt hại cho nhà đầu tư 23 . Tình trạng này
tương tự ở Đắk Lắk năm 2022 khi nhiều dự án điện gió mới xong nhưng lưới 500kV chưa kịp xây.
• Đầu tư lưới truyền tải: EVN đang đẩy nhanh hàng loạt dự án lưới 220kV, 500kV mới ở Nam Trung
Bộ, Tây Nguyên để giải phóng công suất gió, mặt trời. Đặc biệt, lần đầu tiên Chính phủ cho phép tư
nhân tham gia đầu tư lưới truyền tải (Trung Nam Group làm trạm 500kV Thuận Nam) như một giải
pháp tình thế 14 . Theo IEA, để tích hợp tỷ lệ NLTT cao, Việt Nam cần hiện đại hóa và mở rộng lưới
điện thông minh, đầu tư hàng chục tỷ USD đến 2030. Toàn ASEAN cần tăng đầu tư lưới từ ~15 lên
30 tỷ USD/năm đến 2035 25 26 .
• Kết nối lưới khu vực (liên kết lưới ASEAN): Hiện Việt Nam đã kết nối lưới với Trung Quốc (110kV,
mua điện tại Lào Cai, Quảng Ninh), với Lào (một số đường 220kV) và Campuchia (110kV cấp điện
biên giới). Tương lai có kế hoạch liên kết 500kV sâu hơn: mua thủy điện Lào 5.000 MW, bán điện
sang Cambodia ~400 MW 75 55 . ASEAN bàn thảo Mạng lưới điện ASEAN (APG) nhằm trao đổi
điện giữa các nước hiệu quả hơn. Nếu triển khai, APG sẽ giúp cân bằng nguồn NLTT (ví dụ: dư điện
mặt trời Việt Nam có thể xuất sang Thái Lan giờ trưa, ngược lại Thái Lan có thể bán điện khí cho Việt
Nam buổi tối). Tuy vậy, APG còn nhiều rào cản kỹ thuật và chính trị.
• Lưới điện thông minh & nâng cao vận hành: EVN bắt đầu ứng dụng các giải pháp dự báo phụ tải
và thời tiết để điều độ nguồn NLTT chính xác hơn 76 . Hệ thống SCADA/EMS cũng được nâng cấp
để theo dõi hàng trăm nhà máy NLTT trải rộng. Một số công nghệ như FACTS (thiết bị bù linh
hoạt), nâng cấp đường dây (tăng tiết diện dây dẫn) đang được triển khai để tăng khả năng truyền tải
mà không xây mới quá nhiều.
Tại các nước lân cận, thách thức lưới điện cũng tương tự. Indonesia gặp khó khăn đưa điện từ trung tâm
NLTT (đảo nhiều gió/mặt trời như Nusa Tenggara) về đảo Java nơi cần điện, do đó PLN ưu tiên phát triển
NLTT gần phụ tải. Philippines phải xây thêm đường dây nối Visayas-Mindanao để hấp thụ điện gió miền
nam. Nhìn chung, đầu tư lưới thường đi sau phát triển nguồn, nên việc quy hoạch đồng bộ lưới – nguồn –
lưu trữ đang được các nước chú trọng để tránh điểm nghẽn cổ chai.
3.2 Chính Sách Khuyến Khích và Thị Trường Điện
Chính sách của nhà nước đóng vai trò quyết định đến tốc độ phát triển NLTT. Việt Nam là minh chứng điển
hình: chỉ vài năm thay đổi cơ chế giá đã tạo nên sự bùng nổ. Một số chính sách và xu hướng chính:
• Cơ chế giá FIT (Feed-in Tariff): Giai đoạn 2017-2021, Chính phủ ban hành loạt quyết định giá mua
điện ưu đãi cố định 20 năm cho NLTT:
• Điện mặt trời: 9,35 USc/kWh cho dự án vận hành trước 6/2019; sau đó điều chỉnh thành 7,09-8,38
USc/kWh tùy loại hình (mặt đất, nổi, mái) cho COD trước 12/2020 20 . 11
• Điện gió: 8,5 USc/kWh (trên bờ) và 9,8 USc/kWh (gần bờ) cho COD trước 11/2021 20 .
• Sinh khối: 5,8 USc/kWh (trấu), 7,03 USc/kWh (đồng phát từ bã mía); Điện rác: 10,05 USc/kWh.
Các mức giá FIT hấp dẫn này đã kích thích làn sóng đầu tư ồ ạt: hàng trăm dự án đua xây dựng để kịp thời hạn 20 77
. Kết quả là Việt Nam vượt xa mục tiêu quy hoạch (đến 2020 đã có 21.839 MW điện gió & mặt
trời, so với mục tiêu 4.800 MW) 8 . Song mặt trái là nhiều nhà đầu tư thiếu kinh nghiệm tham gia, gây ra
hệ lụy quá tải lưới và bất cập quy hoạch, thậm chí dẫn tới sai phạm (một số quan chức bị kỷ luật vì “tham
mưu cơ chế phát triển điện mặt trời, điện gió” chưa phù hợp) 78 79 .
• Chuyển sang đấu thầu và đàm phán: Sau 2021, Việt Nam tạm ngừng FIT. Các dự án hoàn thành
sau hạn FIT phải đàm phán giá với EVN trong khung giá trần do Bộ Công Thương ban hành (điện
mặt trời ~5-5,8 USc, điện gió ~6-7 USc). Quá trình đàm phán kéo dài khiến khoảng 4.600 MW dự án
"chuyển tiếp" bị chậm vận hành, gây lãng phí đầu tư. Hiện Chính phủ đã chỉ đạo sớm giải quyết và
nhiều dự án đã tạm thỏa thuận giá để phát điện trong 2023. Về lâu dài, Việt Nam sẽ triển khai đấu
thầu cạnh tranh cho NLTT (thí điểm từ 2023-24). Cơ chế đấu thầu giúp minh bạch, giá giảm, nhưng
đòi hỏi chuẩn bị kỹ khung pháp lý và năng lực tổ chức.
• Hợp đồng mua bán điện trực tiếp (DPPA): Để huy động vốn tư nhân và đáp ứng nhu cầu doanh
nghiệp (nhất là FDI) muốn dùng điện xanh, Việt Nam đã cho phép thí điểm cơ chế DPPA. Theo đó,
nhà máy NLTT có thể ký hợp đồng bán điện trực tiếp cho khách hàng công nghiệp qua lưới EVN. Quy
hoạch VIII đề cập DPPA có thể chiếm tới 30-60% sản lượng điện tái tạo vào 2030 tùy sự phát triển thị
trường 80 . Hiện Bộ Công Thương đang triển khai thử nghiệm DPPA công suất ~1.000 MW.
• Ưu đãi đầu tư khác: Ngoài giá điện, nhà nước miễn thuế nhập khẩu thiết bị, giảm thuế thu nhập
DN 10% trong 15 năm cho dự án NLTT, miễn tiền thuê đất 11-20 năm… Nhiều địa phương thành lập
khu công nghiệp năng lượng tái tạo (như Ninh Thuận, Đak Lak) để thu hút nhà đầu tư lớn, định
hướng thành trung tâm NLTT và dịch vụ xuất khẩu điện trong tương lai 81 .
• Thị trường điện: Việt Nam đang chuyển dần sang thị trường phát điện cạnh tranh (các nhà máy
chào giá lên lưới). Tuy nhiên, NLTT hiện được ưu tiên huy động (do chi phí biên thấp) nên chưa trực
tiếp tham gia thị trường giao ngay. Tương lai, khi NLTT chiếm tỷ trọng cao, việc đưa các nhà máy này
vào thị trường (có thể kèm hợp đồng CfD bù giá) sẽ giúp tối ưu vận hành. Các dịch vụ phụ trợ (như
điều tần, dự phòng) cũng sẽ hình thành thị trường, tạo điều kiện cho nguồn lưu trữ, thủy điện tham gia tăng thu nhập.
• Chính sách Net Zero và chuyển dịch công bằng: Sau cam kết Net Zero 2050, Việt Nam đang xây
dựng luật Năng lượng tái tạo, chiến lược khí hậu… Các cơ chế như mua bán tín chỉ carbon, tiêu
chuẩn năng lượng tái tạo (RPS) dự kiến triển khai để bắt buộc một tỷ lệ nhất định điện sản xuất
đến từ NLTT. Đồng thời, Việt Nam tham gia thỏa thuận JETP (Chuyển dịch năng lượng công bằng)
cùng G7, dự kiến huy động 15,5 tỷ USD cho năng lượng sạch, giảm điện than giai đoạn 2024-2030.
Điều này sẽ tác động lớn tới chính sách phát triển NLTT (ưu tiên nguồn sạch, hạn chế nguồn bẩn).
Tại Đông Nam Á, các nước cũng có bước chuyển tương tự: - Thái Lan: Trước đây áp FIT cho NLTT (điện mặt
trời 2013: 0,2$/kWh), nay chuyển sang đấu thầu. Năm 2022, Thái Lan mở thầu 5,2 GW điện sạch (PV,
biomass, WTE) với giá trần ~0,07$/kWh. - Malaysia: Triển khai chương trình LSS (Large Scale Solar) từ
2017, đấu thầu thành công 1,2 GW điện mặt trời với giá giảm còn ~0,05$/kWh. Năm 2023, Malaysia công bố
cơ chế Green Electricity Tariff – khách hàng trả thêm phí để sử dụng điện từ NLTT, tiền này cấp cho quỹ 12
phát triển NLTT 82 . - Indonesia: Ban hành QĐ 112/2022 về mua điện NLTT với giá trần từng loại, song do
PLN độc quyền nên đầu tư tư nhân còn hạn chế. Nước này đang xem xét cho phép tư nhân bán điện trực
tiếp để kích thích NLTT. - Philippines: Có chuẩn RPS yêu cầu 35% điện năng từ NLTT năm 2030. Năm 2023
nước này lần đầu đấu thầu 2 GW NLTT, giá điện mặt trời trung bình ~0,05$/kWh. Philippines cũng mở cửa
100% vốn ngoại cho điện gió, mặt trời nhằm thu hút đầu tư quốc tế.
Tựu trung, xu hướng chính sách tại châu Á là giảm dần trợ giá trực tiếp, thay bằng cơ chế thị trường
cạnh tranh và các công cụ gián tiếp (RPS, carbon). Các nước phát triển hơn thì chú trọng xây dựng thị
trường điện linh hoạt và mở cửa cho tư nhân tham gia mọi khâu. Điều này được kỳ vọng sẽ hạ giá thành
NLTT và thúc đẩy sáng tạo, tuy nhiên cần đi kèm bảo đảm về đầu tư lưới, cải cách doanh nghiệp nhà nước
điện lực và hỗ trợ cộng đồng chịu ảnh hưởng (nhất là vùng mỏ than, nhà máy nhiệt điện phải cắt giảm).
4. Số Liệu Thống Kê và Tăng Trưởng
Dưới đây là một số số liệu tiêu biểu về năng lượng tái tạo ở Việt Nam, so sánh với Đông Nam Á và châu Á,
nhằm minh họa bức tranh phát triển và xu hướng:
Công suất lắp đặt theo phân khúc (Việt Nam cuối 2023): - Năng lượng tái tạo (tổng cộng) ~44,5 GW
(chiếm 55% công suất hệ thống) 1 . Trong đó: - Điện gió + điện mặt trời: 21.664MW (27% tổng công suất) 1 .
2 - Thủy điện (kể cả nhỏ): 22.872MW (28,4%)
. - Sinh khối + điện rác: ~400MW (ước tính, ~0,5%). - 2
khẩu + dầu diezen: ~<2%.
So với các nước ASEAN, tổng công suất NLTT (kể cả thủy điện) của Việt Nam xấp xỉ Thái Lan, Indonesia cộng
lại. ASEAN-10 có khoảng ~84 GW NLTT (ước tính), trong đó thủy điện ~50 GW, còn lại điện mặt trời ~27 GW,
điện gió ~6,8 GW (2022) 3 . Các nước có công suất NLTT đáng kể: Indonesia (~12 GW chủ yếu thủy điện, địa
nhiệt), Thái Lan (~10 GW thủy + 5 GW mặt trời & khác), Malaysia (~7 GW thủy + 1.5 GW mặt trời), Philippines
(~5.7 GW thủy + 1.3 GW địa nhiệt + 1 GW khác).
Sản lượng điện theo phân khúc (Việt Nam 2022): - Tổng điện sản xuất + nhập khẩu: 269,4 tỷ kWh 5 83
(280,6 tỷ kWh năm 2023) 84 .5 - Thủy điện: ~95 TWh (35%)
– năm 2022 thủy điện tăng mạnh nhờ mưa
nhiều 58 . - Nhiệt điện than: ~110 TWh (41%) – giảm nhẹ so với 2021 do ưu tiên NLTT. - Nhiệt điện khí + dầu:
~26 TWh (10%) – khí suy giảm sản lượng do giá cao. - Điện gió: ~8,8 TWh (3,3%) 58 , tăng gấp 2,7 lần so với 58
(do không thêm dự án mới, một số bị cắt giảm sản lượng). - Sinh khối + điện rác: ~0,5-1 TWh (0,2-0,4%) –
tăng từ ~0,3 TWh năm 2021 lên nhờ thêm nhà máy điện rác 66 . - Nhập khẩu (từ Trung Quốc, Lào): ~1,3 TWh (0,5%).
Cơ cấu này cho thấy tái tạo (kể cả thủy điện) đóng góp gần 48% điện lượng 5 . Nếu loại thủy điện, các
nguồn NLTT mới đóng góp ~13% 5 , vẫn khá cao so với khu vực. Theo báo cáo, Việt Nam chiếm 69% sản
lượng điện gió & mặt trời của ASEAN năm 2022 6 , chứng tỏ mức độ phát triển vượt trội.
Tăng trưởng: Giai đoạn 2018-2022, sản lượng điện tái tạo (không kể thủy điện) của Việt Nam tăng từ 0,997
TWh lên 37,865 TWh 85 – tức gần 38 lần chỉ trong 4 năm. Đây là tốc độ thuộc hàng nhanh nhất thế giới.
Tuy nhiên, tốc độ tăng đang chậm lại do ngưng cơ chế hỗ trợ. Dự kiến giai đoạn 2023-2030, tăng trưởng sẽ
ổn định hơn, khoảng 10-15%/năm. 13
Đông Nam Á: Tổng sản lượng điện của ASEAN ~1.300 TWh (2019). Trong đó, NLTT (kể cả thủy điện) chiếm 86
TWh 11 (như trên, Việt Nam ~38, Thái Lan ~8, Philippines ~5, Malaysia ~2, Indonesia ~1, các nước khác <1).
Mục tiêu ASEAN là 23% năng lượng sơ cấp từ NLTT năm 2025, nhưng trong phát điện thì mục tiêu cao
hơn (~35% năm 2035 theo IEA) 35 . Tăng trưởng NLTT khu vực phụ thuộc nhiều vào Việt Nam, Thái Lan,
Indonesia trong thập kỷ tới.
Châu Á: Do sự thống trị của Trung Quốc, châu Á là đầu tàu về NLTT toàn cầu. Năm 2023, châu Á chiếm hơn
50% công suất NLTT thế giới (1.961 GW) 4 . Sản lượng điện tái tạo châu Á năm 2022 khoảng trên 2.800
TWh (bao gồm 1.300 TWh thủy điện, 700 TWh điện gió, 400 TWh điện mặt trời, còn lại sinh khối và địa nhiệt).
Tỷ trọng điện tái tạo châu Á ~29% năm 2022 7 . Dự báo đến 2030, riêng Trung Quốc sẽ đạt ~50% điện từ
không phát thải (bao gồm thủy điện, hạt nhân, gió, mặt trời). Ấn Độ đặt mục tiêu 50% công suất lắp đặt là
phi hóa thạch (tương đương ~40% điện lượng). Điều này đồng nghĩa châu Á sẽ có vai trò quyết định liệu
mục tiêu toàn cầu có được đáp ứng (như cam kết tăng gấp ba công suất NLTT toàn cầu vào 2030 tại COP28) 37 .
Đầu tư và thị trường: Theo IEA, năm 2023 đầu tư cho năng lượng sạch ở Đông Nam Á chỉ chiếm 2% toàn
cầu (dưới 10 tỷ USD/năm) 87 25
. Việt Nam giai đoạn cao điểm 2018-2021 đã thu hút khoảng 10 tỷ USD vào
điện mặt trời và điện gió (chỉ riêng năm 2019: ~4,7 tỷ USD đầu tư điện mặt trời) 88 . Tuy nhiên, để đạt mục
tiêu 2030, cần nguồn vốn lớn hơn nhiều: - Việt Nam ước tính cần 134,7 tỷ USD cho ngành điện 2021-2030 89
190 tỷ USD từ nay đến 2035 (gấp 5 lần hiện tại) mới đáp ứng mục tiêu khí hậu 36 . - Trên toàn cầu, đầu tư
NLTT đang vượt dầu khí. Trung Quốc dẫn đầu chi tiêu cho NLTT (>90 tỷ USD quý 1-2023).
Việc huy động vốn đòi hỏi cải thiện môi trường kinh doanh, cơ chế hợp tác công tư (PPP) cho hạ tầng lưới,
cùng các hỗ trợ tài chính xanh (như tín dụng ưu đãi ADB, WB). Các số liệu cho thấy cơ hội tăng trưởng NLTT
ở Việt Nam và châu Á rất lớn, nhưng đi cùng thách thức về kỹ thuật và tài chính cần giải quyết.
5. Trích Dẫn Nguồn Uy Tín
(Các thông tin, số liệu trong báo cáo được tổng hợp từ các nguồn uy tín: báo cáo EVN, Bộ Công Thương, số liệu
của IEA, IRENA, phân tích của các tổ chức năng lượng… Dưới đây liệt kê một số nguồn chính đã sử dụng):
• Số liệu công suất, sản lượng điện Việt Nam: EVN (Tập đoàn Điện lực VN) – Thông cáo báo chí vận
hành hệ thống điện 1 84 ; Tạp chí Năng lượng Việt Nam 90 58 .
• Báo cáo phân tích xu hướng Đông Nam Á: Ember Climate – nhận định VN chiếm 69% điện gió & mặt
trời ASEAN 6 1 ;0 Reccessary (trích dẫn Ember) về tăng trưởng 43%/năm NLTT ASEAN 2015-2022 .
• Thông tin quy hoạch, chính sách: Quy hoạch Điện VIII (2023) – số liệu mục tiêu 2030 29 30 ; Reuters
– IEA Southeast Asia Outlook 2024 (nhu cầu đầu tư, tỷ trọng điện sạch) 36 25 .
• Thông tin doanh nghiệp, dự án tiêu biểu: Tuổi Trẻ News – về dự án Trung Nam 450MW và tình trạng quá tải lưới 13 23
; Forbes Vietnam – ý kiến chuyên gia về điện áp mái, DPPA41 24 .
• Số liệu toàn cầu và châu Á: Enerdata (theo IRENA) – công suất NLTT toàn cầu và châu Á 2023 4 ; IEA
Renewables 2022 – xu hướng bổ sung công suất 2022-2027; Climate Analytics – mục tiêu COP28 về công suất NLTT 37 . 14 6. Góc Nhìn Chuyên Gia
Từ góc độ một chuyên gia năng lượng, có thể rút ra một số nhận định về ngành năng lượng tái tạo Việt
Nam trong bối cảnh khu vực:
Thứ nhất, Việt Nam là một câu chuyện thành công đáng kinh ngạc về phát triển nhanh NLTT, nhưng
cũng để lại nhiều bài học quý. Chỉ trong vài năm, Việt Nam đã đi từ chỗ thiếu điện sạch trở thành trung tâm
NLTT của Đông Nam Á. Điều này cho thấy với quyết tâm chính sách và tiềm năng sẵn có, các quốc gia đang
phát triển hoàn toàn có thể tạo bứt phá trong chuyển dịch năng lượng. Tuy nhiên, sự “nhanh và nhiều”
cũng bộc lộ hạn chế: quy hoạch chưa đồng bộ, lưới điện không theo kịp, một số bất cập trong cấp phép và
minh bạch dẫn tới hệ lụy (dự án “đứng bánh”, tranh cãi giá bán điện). Bài học ở đây là cần tầm nhìn dài
hạn và điều phối nhịp nhàng giữa phát triển nguồn – lưới – thị trường.
Thứ hai, cơ cấu năng lượng Việt Nam và ASEAN đang bước vào giai đoạn chuyển hóa mạnh mẽ. Tỷ
trọng 48% điện từ NLTT của Việt Nam (kể cả thủy điện) là con số rất cao so với mức thu nhập và phát triển
công nghệ của đất nước 5 . Điều này vừa tạo ra cơ hội (giảm phụ thuộc nhiên liệu nhập khẩu, hưởng lợi
kinh tế xanh, thu hút đầu tư quốc tế hướng xanh) vừa đặt ra thách thức to lớn về vận hành một hệ thống
điện mới mẻ. Các nước ASEAN khác tuy đi sau nhưng cũng sẽ đối mặt bài toán tương tự khi nâng dần tỷ
trọng NLTT lên 30-40% trong 10 năm tới. Hợp tác khu vực (như chia sẻ nguồn điện qua APG, học hỏi lẫn
nhau về chính sách) sẽ rất quan trọng để cùng tiến tới mục tiêu chung.
Thứ ba, yếu tố “hỗ trợ” sẽ quyết định thành bại trong giai đoạn tới. Nếu như giai đoạn trước, tiền vốn
và công nghệ cho NLTT tương đối dễ huy động nhờ các cam kết mạnh, thì giai đoạn tới điểm nghẽn nằm ở
quản trị và hạ tầng. Đơn cử, Việt Nam đã có hàng chục GW NLTT “trên giấy” trong Quy hoạch VIII, nhưng
làm sao triển khai thật? Sẽ cần cải tổ thể chế sâu hơn: minh bạch trong đấu thầu, nâng cao năng lực của
EVN về tài chính lẫn kỹ thuật, xây dựng thị trường điện cạnh tranh thu hút đầu tư dài hạn. Đồng thời, phải
song hành phát triển lưới điện thông minh, lưu trữ, cải tiến lưới liên kết. Các dự án điện gió ngoài khơi
chẳng hạn, chỉ khả thi khi có cơ chế giá dài hạn ổn định, hạ tầng cảng biển và chuỗi cung ứng nội địa đủ
mạnh để giảm chi phí. Nói cách khác, tư duy hệ thống cần được áp dụng, thay vì cách tiếp cận manh mún trước đây.
Thứ tư, về dài hạn, năng lượng tái tạo mở ra những ngành kinh tế mới cho Việt Nam. Ví dụ, nếu đi
đầu điện gió ngoài khơi, Việt Nam có thể hình thành trung tâm công nghiệp điện gió xuất khẩu dịch vụ và
thiết bị cho khu vực. Hay việc sản xuất hydrogen xanh từ nguồn điện tái tạo dồi dào có thể biến Việt Nam
thành nhà cung cấp nhiên liệu sạch trong tương lai (cho Nhật Bản, Hàn Quốc chẳng hạn). Muốn vậy, cần
đầu tư cho nghiên cứu phát triển (R&D) và nguồn nhân lực chất lượng cao ngay từ bây giờ, tránh tình trạng
chỉ nhập thiết bị về lắp, còn giá trị gia tăng cao nằm ngoài nước.
Cuối cùng, cân bằng giữa phát triển và bền vững phải luôn được đặt lên hàng đầu. Năng lượng tái tạo
dù sạch nhưng cũng có những tác động môi trường-xã hội riêng: chiếm đất, thay đổi mục đích sử dụng đất,
ảnh hưởng hệ sinh thái (đặc biệt điện gió, thủy điện). Việc quy hoạch cần tính đến yếu tố này để phát triển
hài hòa, hạn chế dự án tràn lan gây mất lòng tin cộng đồng. Thêm vào đó, đảm bảo công bằng trong
chuyển dịch năng lượng cũng quan trọng – hỗ trợ đào tạo chuyển đổi việc làm cho lao động ngành than,
đảm bảo an sinh cho vùng chịu ảnh hưởng của dự án NLTT (tái định cư thủy điện, tiếng ồn turbine gió…).
Tóm lại, bức tranh năng lượng tái tạo Việt Nam và châu Á đến năm 2030 đầy triển vọng với những mục tiêu
cao và dòng đầu tư mạnh mẽ. Việt Nam có cơ hội vươn lên thành cường quốc năng lượng xanh của khu 15
vực, nếu tận dụng tốt lợi thế và rút kinh nghiệm để phát triển đồng bộ, bền vững. Với sự vào cuộc của cả
nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng, mục tiêu về một hệ thống năng lượng sạch, an toàn và hiệu quả
hoàn toàn nằm trong tầm tay. Những năm tới sẽ mang tính quyết định để hiện thực hóa tầm nhìn đó, đưa
Việt Nam và các nước châu Á tiến gần hơn tới tương lai phát triển xanh. (Hết) 1 2 83 84
Một số số liệu tổng quan về nguồn điện toàn quốc năm 2023
https://www.evn.com.vn/d6/news/Mot-so-so-lieu-tong-quan-ve-nguon-dien-toan-quoc-nam-2023-66-142-124707.aspx 3 7 9 10 11 82
Vietnam contributes 69% of ASEAN renewable energy generation | NEWS | Reccessary
https://www.reccessary.com/en/news/vietnam-contributes-69-percent-asean-renewable-energy-generation 4 12 49 50
Global renewable capacity surged by 473 GW during 2023 (+298 GW in China) | Enerdata
https://www.enerdata.net/publications/daily-energy-news/global-renewable-capacity-surged-473-gw-during-2023-298-gw- china.html 5
21 22 53 58 59 64 65 66 67 68 76 90
Năng lượng tái tạo Việt Nam năm 2022: Các sự kiện, thành
tựu và nhận diện thách thức | Tạp chí Năng lượng Việt Nam
https://nangluongvietnam.vn/nang-luong-tai-tao-viet-nam-nam-2022-cac-su-kien-thanh-tuu-va-nhan-dien-thach-thuc-30046.html 6 8 20 77 78 79 85
Khúc quanh bất ngờ trong hành trình năng lượng tái tạo của Việt Nam
https://nghiencuuquocte.org/2024/01/05/khuc-quanh-bat-ngo-trong-hanh-trinh-nang-luong-tai-tao-cua-viet-nam/ 13 14 23 88
Southeast Asia’s biggest solar farm connected to Vietnam’s national grid
https://news.tuoitre.vn/southeast-asias-biggest-solar-farm-connected-to-vietnams-national-grid-10357250.htm 15 16 17 18 19 38 45 46 47 48
Southeast Asia Renewable Energy Companies - Top Company List
https://www.mordorintelligence.com/industry-reports/southeast-asia-renewable-energy-market/companies 24 41 42 43 44 56
Doanh nghiệp tiên phong đầu tư vào năng lượng tái tạo dự đoán hai mảng mang đến
cơ hội lớn - Forbes Việt Nam
https://forbes.vn/doanh-nghiep-tien-phong-dau-tu-vao-nang-luong-tai-tao-du-doan-hai-mang-mang-den-co-hoi-lon/ 25 26 36 87
Southeast Asia needs to boost investments five-fold by 2035 to meet climate goals, IEA says | Reuters
https://www.reuters.com/sustainability/southeast-asia-needs-boost-investments-five-fold-by-2035-meet-climate-goals- iea-2024-10-21/
27 28 29 30 31 32 33 51 52 54 55 57 60 61 62 63 69 70 71 75 80
Chính thức phê duyệt Quy hoạch điện VIII điều chỉnh
https://moit.gov.vn/tin-tuc/phat-trien-nang-luong/chinh-thuc-phe-duyet-quy-hoach-dien-viii-dieu-chinh.html 34 73
Energy market in Vietnam - Trade Commissioner Service
https://www.tradecommissioner.gc.ca/vietnam-viet-nam/market-reports-etudes-de-marches/0007077.aspx?lang=eng
35 IEA's Southeast Asia Energy Outlook 2024 - SolarQuarter
https://solarquarter.com/2024/10/23/ieas-southeast-asia-energy-outlook-2024-balancing-growth-and-sustainability-in-energy- demand-report/
37 Tripling renewables by 2030: interpreting the… - Climate Analytics
https://climateanalytics.org/publications/tripling-renewables-by-2030-interpreting-the-global-goal-at-the-regional-level 16
39 Petrovietnam tiên phong khai thác năng lượng tái tạo ngoài khơi
https://thiensoncorp.vn/petrovietnam-tien-phong-khai-thac-nang-luong-tai-tao-ngoai-khoi/
40 Petrovietnam tiên phong phát triển năng lượng tái tạo ngoài khơi
https://www.qdnd.vn/kinh-te/cac-van-de/petrovietnam-tien-phong-phat-trien-nang-luong-tai-tao-ngoai-khoi-741876
72 ADB offers solutions for green finance in Vietnam
https://aseanenergy.org/news-clipping/adb-offers-solutions-for-green-finance-in-vietnam/
74 Pioneering Innovation with Vietnam's BESS Pilot Project
https://energyalliance.org/pioneering-innovation-with-vietnams-bess-pilot-project/
81 Lộ Trình Phát Triển Năng Lượng Tái Tạo Tại Việt Nam Đến Năm 2030
https://vrenergy.vn/lo-trinh-phat-trien-nang-luong-tai-tao-tai-viet-nam-den-nam-2030/
86 Executive summary – Southeast Asia Energy Outlook 2024 - IEA
https://www.iea.org/reports/southeast-asia-energy-outlook-2024/executive-summary
89 Điều chỉnh Quy hoạch điện VIII - Đan xen thách thức, cơ hội cho ...
https://nangluongvietnam.vn/dieu-chinh-quy-hoach-dien-viii-dan-xen-thach-thuc-co-hoi-cho-phat-trien-nang-luong-tai- tao-34110.html 17